Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn tại NHTM cổ phần Hàng Hải, chi nhánh Đống Đa - Pdf 10


TIỂU LUẬN:

Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định
tài chính dự án trong hoạt động cho vay
trung và dài hạn tại NHTM cổ phần
Hàng Hải, chi nhánh Đống Đa
LỜI MỞ ĐẦU

Ngân hàng là một trong những mắt xích quan trọng cấu thành nên sự vận động
nhịp nhàng của nền kinh tế. Cùng với các ngành kinh tế khác, ngân hàng có nhiệm vụ
tham gia bình ổn thị trường tiền tệ, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, tạo công ăn việc làm
cho người lao động, giúp đỡ các nhà đầu tư, phát triển thị trường vốn, thị trường ngoại
hối, tham gia thanh toán và hỗ trợ thanh toán
Với tư cách là trung tâm tiền tệ tín dụng của nền kinh tế, để phù hợp với xu hướng
đa dạng hóa các hoạt động của ngân hàng nhằm phục vụ bổ sung vốn lưu động và vốn

động cho vay trung và dài hạn tại NHTM cổ phần Hàng Hải-chi nhánh Đống Đa.

Chương III : Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt
động cho vay trung và dài hạn tại NHTM cổ phần Hàng Hải-chi nhánh Đống Đa DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NHTM : Ngân hàng thương mại
MSB, Maritime bank : Viết tắt của Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải
LNTT : Lợi nhuận trước thuế
TNDN : Thu nhập doanh nghiệp

NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ
ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NHTM . 7
1.1.Hoạt động cho vay của NHTM 7
1.1.1.Định nghĩa hoạt động cho vay của NHTM 7
1.1.2. Phân loại cho vay 8
1.2.Hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM 10
1.2.1.Khái niệm cho vay trung và dài hạn 10
1.2.2.Các phương thức cho vay trung và dài hạn 10
1.3.Hoạt động thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài
hạn của NHTM 10
1.3.1.Khái niệm về hoạt động thẩm định tài chính dự án 10
1.3.2.Sự cần thiết của công tác thẩm định tài chính trong hoạt động cho vay
trung và dài hạn của NHTM 11
1.4.Nội dung công tác thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung
và dài hạn của NHTM. 12
1.4.1.Thẩm định dự toán đầu tư và nguồn tài trợ. 12
1.4.2.Thẩm định doanh thu, chi phí, lợi nhuận hàng năm của dự án. 14
1.4.3.Thẩm định dòng tiền hàng năm của dự án. 15
1.4.4.Thẩm định hiệu quả tài chính của dự án 18
1.5.Phân tích và đánh giá rủi ro của dự án. 22
1.5.1.Khái niệm và sự cần thiết phải phân tích rủi ro 22
1.5.2.Các phương pháp phân tích rủi ro 23
1.6.Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư của NHTM và nhân tố ảnh
hưởng 26
1.6.1.Khái niệm về chất lượng thẩm định tài chính dự án đẩu tư 26
1.6.2.Các nhân tố ảnh hưởng 27
CHƯƠNG II 32

3.2.Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động
cho vay trung và dài hạn tại NHTM cổ phần Hàng Hải, Chi nhánh Đống Đa.56
3.2.1.Giải pháp khi thực hiện thẩm định dự án 56
3.2.2.Giải pháp về thông tin 57
3.2.3.Giải pháp về hỗ trợ thẩm định 58
3.3.Một số kiến nghị 59
3.3.1.Kiến nghị Chính phủ 59
3.3.2.Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước. 59
3.3.3.Kiến nghị với NHTM cổ phần Hàng Hải 60
KẾT LUẬN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 64

CHƯƠNG I

NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ
ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NHTM

1.1.Hoạt động cho vay của NHTM
1.1.1.Định nghĩa hoạt động cho vay của NHTM

Về cách phân loại có rất nhiều cách khác nhau, tuỳ theo mỗi tiêu thức phân loại
và tuỳ theo từng ngân hàng mà hoạt động cho vay được chia ra làm nhiều loại, nhằm
thuận tiện cho quản lý và phù hợp với mục đích vay vốn của khách hàng.
*Dựa vào mục đích cho vay- theo tiêu thức này cho vay có thể phân chia thành
các loại sau:
- Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệ
- Cho vay tiêu dùng cá nhân
- Cho vay bất động sản
- Cho vay nông nghiệp
- Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu…
* Dựa vào thời hạn cho vay- theo tiêu thức này cho vay có thể phân chia thành các
loại sau:
- Cho vay ngắn hạn
- Cho vay trung hạn
- Cho vay dài hạn
* Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng- theo tiêu thức này cho vay có thể
phân chia thành các loại sau:
- Cho vay không có đảm bảo
- Cho vay có đảm bảo
* Dựa vào phương thức cho vay- theo tiêu thức này cho vay có thể phân chia
thành các loại sau:
- Cho vay theo món
- Cho vay theo hạn mức tín dụng
- Cho vay theo định mức thấu chi
* Dựa vào phương thức thanh toán trả nợ vay- theo tiêu thức này cho vay có thể
phân chia thành các loại sau:
- Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo
hạn

theo từng dự án được thiết kế phục vụ cho các mục đích khác nhau (như dự án vì cộng
đồng, dự án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, ) mà những tiêu chí về kinh tế, về kĩ
thuật hay về tài chính sẽ được đề cao. Tuy nhiên cho dù đề cao tiêu chí nào đi chăng
nữa thì sự xem xét thẩm định về mặt tài chính của một dự án trước khi đưa vào thực thi
là không thể xem nhẹ.
Thẩm định tài chính dự án là sự rà soát đánh giá một cách khoa học, toàn diện
mọi khía cạnh tài chính của dự án trên giác độ của nhà đầu tư bao gồm doanh nghiệp,
các tổ chức kinh tế khác và các cá nhân.
Khác với lập dự án đầu tư, thẩm định tài chính dự án cố gắng phân tích và hiểu
được tính chất khả thi thực sự của dự án về mặt kinh tế đứng trên góc độ của Ngân hàng
Việc thẩm định tài chính dự án là vô cùng quan trọng trong hoạt động cho vay của
ngân hàng. Vì trong hoạt động cho vay, các ngân hàng thương mại chính là các nhà tài
trợ vốn. Ngoài những dự án ngân hàng cho vay theo chỉ định của chính phủ nhằm phục
vụ cộng đồng thì yếu tố lợi nhuận không được đặt nên hàng đầu, còn lại hầu hết cho vay
các dự án khác đều nhằm mục đích tạo thu nhập cho ngân hàng.
1.3.2.Sự cần thiết của công tác thẩm định tài chính trong hoạt động cho vay trung
và dài hạn của NHTM
Công tác thẩm định tài chính dự án là một hoạt động không thể thiếu. Ngân hàng
sẽ dựa vào đó để xem xét và quyết định có cho khách hàng vay hay không. Thực tế
những giải trình từ phía doanh nghiệp đối với ngân hàng về dự án cần vay vốn thường
rất sơ sài, đôi khi có số liệu không đủ căn cứ để chứng minh tính sát thực. Do đó ngân
hàng cần phải tiến hành kiểm tra chính xác thông tin mà khách hàng đưa ra.
* Đối với chủ dự án : Thông thường khi quyết định đầu tư một dự án, chủ đầu tư
phải cân nhắc giữa nhiều lựa chọn khác nhau, nghĩa là nhiều dự án khác nhau trong
cùng một giai đoạn. Mặt khác tuy chủ dự án đã nắm vững những vấn đề, những chi tiết
kỹ thuật của dự án nhưng đôi khi khả năng thu thập nắm bắt những thông tin mới của
doanh nghiệp bị hạn chế, nhất là trong xu thế kinh tế xã hội mới, dẫn đến giảm tính

vốn để hình thành nên các tài sản lưu động ròng cần thiết để thực hiện dự án ( như:
nguyên vật liệu, nhiên liệu, tiền thuê nhân công, chi phí quản lý…). Lượng vốn lưu
động ròng lớn hay nhỏ phụ thuộc vào đặc điểm của mỗi dự án. Ngoài hai phần vốn
chính này là phần vốn dự phòng để kịp thời cung cấp khi có phát sinh những chi phí
ngoài dự kiến hay khi xảy ra rủi ro dự kiến.
Để xác định được lượng vốn cho dự án các nhà lập dự án tiến hành dự toán vốn.
Thông thường các nhà thẩm định và các nhà lập dự án sẽ căn cứ vào năm tiêu chí cơ
bản là : chính sách kinh tế, tình hình thị trường và sự cạnh tranh, chi phí tài chính, tiến
bộ khoa học kỹ thuật, khả năng tài chính của doanh nghiệp. Những tiêu chí này được sử
dụng trong các phương pháp dự toán vốn như dự báo theo tỷ phần doanh thu, dự toán
tổng thể. Nhà thẩm định sẽ xem xét toàn bộ quá trình lập dự toán vốn này để biết được
mức vốn chính xác cần thiết cho dự án.

Tổng vốn đầu
tư của dự án
Vốn cố
định
Vốn lư
u
động
Vốn dự
phòng

Tổng vốn đầu tư được xác định là vậy nhưng sẽ tài trợ bằng nguồn vốn nào? Đây
là câu hỏi không chỉ nhà thẩm định mà chính chủ thực hiện dự án sẽ đặt ra đầu tiên. Về
mặt lý thuyết và cả thực tế thì mỗi dự án có nhiều hình thức tài trợ vốn khác nhau.
Thứ nhất dự án có thể được tài trợ bằng vốn tự có : loại vốn này có được từ các

Cuối cùng là tài trợ bằng hình thức kết hợp : đó là nguồn vốn cho dự án được hình
thành từ sự kết hợp giữa vốn vay, vốn chủ sỡ hữu với một tỷ lệ nhất định. Trong hình
thức tài trợ này, chi phí vốn của dự án được đặc biệt quan tâm. Bởi vì từ đó mà nhà đầu
tư xác định vay bao nhiêu, bỏ vốn chủ sỡ hữu ra bao nhiêu.
Nếu gọi T là thuế suất thu nhập doanh nghiệp.
K
e
: Chi phí thực của vốn chủ sở hữu
K
d
: Chi phí của vốn vay
W
e
: Tỷ trọng của vốn chủ sở hữu trong tổng vốn
W
d
: Tỷ trọng của vốn vay trong tổng vốn
Thì ta có : WACC = W
e
.k
e
+ W
d
.(1 – T).k
d

Đây chính là chi phí vốn bình quân gia quyền của dự án.
1.4.2.Thẩm định doanh thu, chi phí, lợi nhuận hàng năm của dự án.
*Thẩm định về doanh thu của dự án : đầu tiên của của nhà thẩm định phải tìm hiểu
về thị trường sản phẩm của dự án. Cán bộ thẩm định sẽ phải thu thập thông tin về giá cả

dự án, cũng như khả năng thu hồi nợ từ kết quả hoạt động của dự án.
1.4.3.Thẩm định dòng tiền hàng năm của dự án.
1.4.3.1.Nguyên tắc xác định dòng tiền
Theo quan niệm chung hiện nay của các nhà kinh tế, dòng tiền của một dự án là
các khoản chi và khoản thu được kì vọng xuất hiện tại các mốc thời gian khác nhau
trong suốt thời gian tồn tại của dự án. Trong dòng tiền của dự án có dòng tiền ra, dòng
tiền vào và dòng tiền ròng ( chênh lệch giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra của dự án ).
Tuy nhiên dòng tiền ròng được coi là con số chính để xác định giá trị hay hiệu quả trực
tiếp của dự án. Khi xác định dòng tiền các nhà phân tích và thẩm định có những nguyên
tắc nhất định.
-Thứ nhất là loại bỏ chi phí chìm ra khỏi phân tích : Chi phí chìm là những chi phi
mà doanh nghiệp - chủ dự án vẫn phải bỏ ra cho dù dự án có được chấp nhận và thực
hiện hay không (chẳng hạn như chi phí tư vấn về dự án, chi phí thiết kế dự án, …). Chi
phí này là một khoản chi tất yếu do đó không được đưa vào phần chi đầu tư của dự án.
-Thứ hai là chi phí cơ hội sẽ được đưa vào để phân tích chi phí của dự án : Có
những dự án được thiết kế trong đó có sử dụng một số yếu tố đầu vào sẵn có của doanh
nghiệp. Mà đáng lẽ ra nếu không sử dụng vào dự án thì nó sẽ được sử dụng vào việc
khác và đem lại nguồn thu cho doanh nghiệp. Khi sử dụng vào dự án doanh nghiệp đã
bỏ mất phần nguồn thu đó. Bởi vậy khoản chi phí này cần được đưa vào nhằm đánh giá
chính xác chi phí thực của dự án.
-Thứ ba là tài sản lưu động ròng : phần tài sản lưu động ròng đối với hầu hết các
dự án cũng được đầu tư và được chi thực tại năm đầu đi vào hoạt động của dự án. Tài
sản lưu động ròng là phần chênh lệch giữa tổng tài sản lưu động trừ đi nợ ngắn hạn. Đặc
tính của tài sản lưu động ròng là nó không được khấu hao và thường được thu hồi vào
giai đoạn kết thúc của dự án. Do vậy khi tiến hành dự án mới tài sản lưu động ròng cần
được tài trợ ở năm đầu của dự án.
-Thứ tư là tác động của thuế : Thuế có những ảnh hưởng rất đáng ghi nhận đối với

nguyên tắc giá trị thời gian của tiền thì các nhà phân tích phải quy nó về một mốc để so
sánh.
Lãi suất chiết khấu là tỷ lệ sinh lời cần thiết của một dự án mà nhà đầu tư mong
đợi. Nó chính là tỷ lệ mà nhờ đó các dòng tiền của dư án được quy về hiện tại để xác
định giá trị hiện tại ròng của dự án (NPV). Việc lựa chọn lãi suất chiết khấu phụ thuộc
vào kết quả phân tích rủi ro, khả năng sinh lời của dự án và cơ cấu vốn. Rủi ro của dự
án càng cao thì tỷ lệ lãi suất chiết khấu đòi hỏi càng cao. Cơ cấu vốn tài trợ cho dự án
có chi phí vốn càng cao thì đòi hỏi lãi suất chiết khấu tối thiểu phải bằng với tỷ lệ chi
phí đó.
Từ đây cho thấy việc xác định dòng tiền là vô cùng quan trọng và việc thẩm định
dòng tiền của dự án là yếu tố căn bản để đưa đến những kết luận cho công tác thẩm định
tài chính dự án.
1.4.4.Thẩm định hiệu quả tài chính của dự án
Việc nhà đầu tư ra quyết định có hay không thực hiện dự án chủ yếu dựa trên
những kết quả từ các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án này. Mỗi chỉ tiêu này
cho ta một phương pháp để đánh giá được hiệu quả tài chính dự án.
1.4.4.1.Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng -NPV
Khái niêm : Giá trị hiện tại ròng của dự án đầu tư được hiểu là số chênh lệch
giữa giá trị hiện tại các nguồn thu nhập ròng trong tương lai với giá trị hiện tại của vốn
đầu tư.

 






ttt
k
Ct
k
Bt
k
CtBt
NPV
0 0 0
111Trong đó:
NPV: giá trị hiện tại dòng của dự án
CF
t
: Dòng tiền xuất hiện ở năm thứ t của dự án ( t = 1n)
CF
0
: Vốn đầu tư bỏ ra ở thời điểm ban đầu (giả định vốn bỏ ra một lần ở năm
đầu tiên của dự án)
n : số năm thực hiện dự án.
Bt : dòng thu của dự án vào năm thứ t
Ct : Dòng chi của dự án vào năm thứ t
Ý nghĩa của chỉ tiêu NPV
-Với những dự án có NPV >0 , thì tỷ lệ lợi nhuận của dự án lớn hơn tỷ lệ sinh lời
sẵn có trên thị trường vốn với cùng mức rủi ro (lãi suất chiết khấu), trong khi đó NPV

n
t
n
t
t
t
t
t
IRR
CF
i
CF
0 0
0
)1()1(

Có thể ước tính IRR theo công thức sau:
IRR=
1
i +
21
121
)(
NPVNPV
iiNPV



lệ lãi suất IRR nghĩa là không giả định đúng tỷ lệ tái đầu tư.
Dự án được lựa chọn khi IRR lớn hơn hoặc bằng một lãi suất “ngưỡng”. Lãi suất
này thường là lãi suất thị trường (lãi suất dùng để tính NPV). Những dựa án khác không
thỏa mãn điều kiện này sẽ bị loại bỏ.
Khi lựa chọn các dự án : Về mặt toán học, phương pháp tính NPV và IRR luôn
cùng đưa đến một quyết định là chấp thuận hoặc bác bỏ đối với những dự án độc lập.
Tuy nhiên đối với những dự án loại trừ thì có thể có những kết luận trái ngược
nhau.Trong trường hợp này thì chỉ tiêu NPV là chỉ tiêu tốt hơn cho việc đánh giá dự
án.Bởi vì chỉ tiêu NPV ưu việt hơn chỉ tiêu IRR.
1.4.4.3.Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn – PP
Thời gian hoàn vốn của một dự án là độ dài thời gian để thu hồi đủ vốn đầu tư ban
đầu.
Chỉ tiêu này cho biết khoảng thời gian cần thiết để những khoản thu nhập tăng
thêm được tạo ra từ dự án hoàn trả vốn đầu tư ban đầu.
Có hai cách tính chỉ tiêu này là : thời gian hoàn vốn không chiết khấu (không
tính đến giá trị thời gian của tiền); Thời gian hoàn vốn có chiết khấu (Có tính đến giá trị
thời gian của tiền và quy tất cả các khoản thu nhập, chi phí hiện tại theo tỷ suất chiết
khấu lựa chọn).
Công thức tính là như nhau:

PP = n +
Số vốn đầu tư còn lại cần được thu hồi
Dòng tiền ngay sau mốc hoàn vốn Với n là số năm ngay trước năm thu hồi đủ vốn đầu tư.
Với các dự án độc lập, dự án chỉ được chấp nhận khi thời gian hoàn vốn của nó







n
t
t
tn
t
n
t
t
t
MIRR
iCIF
i
COF
00
)1(
)1(
)1(

Trong đó:
t
COF : dòng tiền ra năm thứ t

t
CIF : dòng tiền vào năm thứ t

và sinh lợi của dự án.
1.5.2.Các phương pháp phân tích rủi ro
Có nhiều loại rủi ro, nhưng ở đây ta chỉ quan tâm đến loại rủi ro thị trường. Rủi ro
này được đánh giá bằng các phương pháp sau:
 Phương pháp phân tích độ nhạy
Khái niệm và ý nghĩa
Phân tích độ nhạy của dự án là việc lần lượt cho từng yếu tố của dự án thay đổi
trong khi các yếu tố khác vấn giữ nguyên, để ngiên cứu tác động của yếu tố đó tới kết
quả hay tính khả thi của dự án.
Phân tích độ nhạy giúp cho việc đánh giá rủi ro bằng cách xác định những biến
cố có ảnh hưởng nhiều nhất đến lợi ích ròng của dự án, và lượng hóa mức độ ảnh hưởng
của chúng.
Phân tích độ nhạy có thể cho biết được những điểm yếu của dự án, và chỉ ra sự
cần thiết phải thu thập thông tin về một số biến cố .Nó cũng cho chúng ta thấy một số ý
tưởng về rủi ro của dự án.
Phạm vi áp dụng
Phân tích độ nhạy được áp dụng để đánh giá độ rủi ro dài hạn của dự án đầu tư
khi dự tính có sự biến động lớn một số thành phần đầu vào quan trọng như : nguyên vật
liệu, bán thành phẩm, giá thuê nhân công…Việc phân tích độ nhạy được thực hiện
thuận lợi với việc ứng dụng chương trình phần mềm trên máy tính.
Phương pháp phân tích độ nhạy
Có hai phương pháp phân tích độ nhạy là phân tích giá trị hoán chuyển và phân
tích độ nhạy thông thường.
-Phân tích giá trị hoán chuyển : Giá trị hoán chuyển của một biến số là tỷ lệ thay
đổi phần trăm của biến sô đó) tăng hoặc giảm sẽ làm cho NPV của dự án bằng không
hoặc IRR bằng tỷ suất chiết khấu (các yếu tố khác giữ nguyên).
SV=

đầu. Mức thay đổi cần được nêu rõ đối với các biến số mà không tính được tỷ lệ %
+ Tính lại NPV và IRR theo các giá trị nêu trên một cách riêng biệt cho từng yếu tố.
+ Tính tỷ số độ nhạy : tóm lược tác động của thay đổi trong một biến đến NPV
SI=
1
21
1
21
:
V
VV
NPV
NPVNPV 

Ưu điểm : của phương pháp này là :
Phân tích độ nhạy là một quy trình rất hữu ích để nhận diện các biến số mà
những thay đổi của chúng ta có thể gây tác động lớn đến NPV của một dự án. Nó cho
phép người ta ra quyết định tính toán được những hậu quả của sự ước tính sai lầm và
ảnh hưởng của chúng đối với NPV. Bởi vậy quá trình này nhấn mạnh sự cần thiết phải
cải tiến phương pháp đánh giá và tiến hành những hoạt động nhằm giảm tính không
chắc chắn liên quan đến những biến số chủ yếu.
Nhược điểm : của phương pháp :
-Các giá trị của biến số được đưa ra dựa trên những phán đoán mang tính chủ quan
rất cao. Măc dù người ta có thể biện luận rằng mức độ kỳ vọng được nhận xét là rất tốt.
Song rõ ràng là cần phải đánh giá các biến số dưới trạng thái hai cực cộng thêm phần
ước lượng chủ quan để phân tích.
-Sự phân tích độ nhạy của NPV với nhiều biến số khác nhau, mỗi biến số tại một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status