Chính sách thu hút và sử dụng cán bộ khoa học trẻ tại các Viện nghiên cứu thuộc Viện khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam (nghiên cứu trường hợp Viện Xã hội học tt - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***

TẠ DUY HIỂN

CHÍNH SÁCH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA
HỌC TRẺ TẠI CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU THUỘC
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIỆN XÃ HỘI HỌC)
LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Chính sách Khoa học và Công nghệ
Hà Nội, 2011 1
Mục lục
LỜI CAM ĐOAN 3
LỜI CẢM ƠN 5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Lịch sử nghiên cứu 10
3. Mục tiêu nghiên cứu 12
4. Phạm vi nghiên cứu 13
5. Vấn đề nghiên cứu 13
6. Giả thuyết nghiên cứu 13
7. Phƣơng pháp nghiên cứu 14
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 14
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA
HỌC TRẺ 16
1.1. Khái niệm về KHXH, chính sách, thu hút, sử dụng cán bộ khoa học trẻ 16
1.1.1 Khái niệm về KHXH 16
1.1.2 Khái niệm chính sách 16
1.1.3 Khái niệm thu hút nhân lực KHXH 17
1.1.4 Khái niệm sử dụng nhân lực KHXH 19
1.1.5 Khái niệm cán bộ khoa học trẻ 20

3.4 Giải pháp về thực hiện sự phối kết hợp giữa thu hút và sử dụng cán bộ khoa
học trẻ 75
3.4.1 Những vấn đề cơ bản thực hiện sự phối kết hợp 75
3.4.2 Chính sách đảm bảo thực hiện sự phối kết hợp 77
3.4.3 Giải pháp thực hiện sự phối kết hợp 79
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 88

1
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ

HỌ VÀ TÊN: TẠ DUY HIỂN
LỚP: CAO HỌC K13
KHOA: KHOA HỌ C QUẢ N LÝ Tên đề tài:

“Chính sách thu hút và sử dụng cán bộ khoa học trẻ tại các viện nghiên cứu
thuộc Viện khoa học xã hội Việt Nam”
(Nghiên cứ u trườ ng hợ p Việ n Xã hộ i họ c)
Kế t cấ u luậ n văn
LỜI CAM ĐOAN Error! Bookmark not defined.
LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4

2.3.2 Thực trạng về môi trường thu hút cán bộ khoa học trẻ ở Viện Xã hội học 26
2.4. Thực trạng việc sử dụng cán bộ khoa học trẻ ở Viện Xã hội học 30
2.4.1 Thực trạng sử dụng nhân lực KHXH nói chung 30
2.4.2 Thực trạng sử dụng cán bộ trẻ ở Viện Xã hội học 33
2.4.3 Thực trạng thực thi các chính sánh liên quan tới sử dụng cán bộ tại Viện Xã hội
học 36
2. 5 Kết luận Chƣơng 2 42
Chƣơng 3. GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ
KHOA HỌC TRẺ TẠI VIỆN XÃ HỘI HỌC 43
3.1 Kinh nghiệm thu hút và sử dụng cán bộ khoa học tại một số nƣớc 43
3.1.1 Kinh nghiệm Nhật Bản 43
3.1.2 Kinh nghiệm Trung Quốc 43
3.2 Giải pháp đổi mới chính sách nhằm thu hút cán bộ khoa học trẻ tại Viện Xã
hội học 44
3.3 Giải pháp Đổi mới cơ chế quản lý cán bộ, nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ
khoa học trẻ 45

3
3.4 Giải pháp về thực hiện sự phối kết hợp giữa thu hút và sử dụng cán bộ khoa
học trẻ 46
3.4.1 Những vấn đề cơ bản thực hiện sự phối kết hợp 46
3.4.2 Chính sách đảm bảo thực hiện sự phối kết hợp 48
3.4.3 Giải pháp thực hiện sự phối kết hợp 49
KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


chuyên môn, khả năng tiếp thu, học hỏi nhanh, …. đội ngũ cán bộ khoa học trẻ cũng
còn đang thiếu nhiều điều kiện để phát huy. Điều này liên quan tới vấn đề thu hút và sử
dụng nhóm đối tường này sao cho có hiệu quả. Trên thực tế việc thu hút và sử dụng cán
bộ khoa học trẻ tại các viện nghiên cứu khoa học còn rất nhiều hạn chế, chưa đáp ứng
được nhu cầu của thực tế và đòi hỏi cần sớm có những chính sách phù hợp để tạo động
lực cho họ có thể gắn bó hoạt động nghiên cứu khoa học, góp phần vào việc phát triển
nền khoa học nước nhà.
Vấn đề thu nhập là một trong những yếu tố rất quan trọng trong việc thu hút cán
bộ nghiên cứu trẻ. Thu nhập giúp cán bộ nghiên cứu trẻ duy trì cuộc sống không chỉ cho
bản thân mà còn đóng góp vào gia đình, nếu thu nhập không đáp ứng đủ nhu cầu cuộc
sống thì khó đảm bảo cho hoạt động khoa học đạt được hiệu quả cao. Trong vấn đề thu
nhập thì tiền lương là công cụ khuyến khích cán bộ nghiên cứu trẻ cống hiến cho hoạt
động khoa học.
“Có thực mới vực được đạo” không chỉ mang ý nghĩa về tính triết lý mà nó còn
có ý nghĩa thực tiễn trong việc định hướng chính sách tăng thu nhập trong hoạt động
nghiên cứu khoa học. Chính sách tăng thu nhập đóng vai trò rất quan trọng đối với cán
bộ nghiên cứu trẻ nói riêng và nguồn nhân lực KH&CN nói chung nhằm thúc đẩy chất

5
lượng, tính hiệu quả trong hoạt động nghiên cứu khoa học đáp ứng nhu cầu của thực
tiễn, góp phần vào công cuộc phát triển đất nước. Thông qua đó tạo cơ chế cho việc sử
dụng cán bộ sao cho hiệu quả là yếu tố quan trọng trong định hướng chính sách cho
nhóm đối tượng này.
Trong những năm gần đây có rất nhiều chương trình, dự án có sự đầu tư của nhà
nước cũng như các tổ chức ngoài nhà nước cho hoạt động đào tạo cho nhóm đối tượng
là cán bộ khoa học trẻ. Việc được đi đào tạo (đào tạo trong và ngoài nước) đã và đang là
lực hút với nhóm đối tượng này trong hoạt động khoa học. Tuy nhiên, ở đây vẫn còn
những bất cập cần cần có chính sách tháo gỡ như: chính sách thu hút cán bộ sau khi đã
được đào tạo, chính sách sử dụng cán bộ, chính sách đãi ngộ cán bộ trẻ tài năng
“Sống lâu lên lão làng” đã và đang là hiện tượng tồn tại đã từ lâu nay tại các viện

đầu tư của xã hội cho phát triển khoa học và công nghệ còn thấp, chưa đáp ứng yêu
cầu phát triển khoa học và công nghệ phục vụ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trình độ công nghệ, cơ sở vật chất và kỹ thuật của nước ta hiện nay còn thấp so với các
nước trong khu vực. Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ còn thiếu; cơ cấu ngành
nghề và phân bố còn nhiều bất hợp lý” và chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn
chế đó là “Công tác quản lý KH&CN còn mang tính hành chính; thị trường KH&CN
chưa phát triển; chưa có cơ chế, chính sách đủ mạnh để vừa khuyến khích, vừa đòi hỏi
doanh nghiệp đổi mới công nghệ; thiếu chính sách đối với cán bộ khoa học và công
nghệ, nhất là đối với các nhà khoa học có tài năng và trình độ cao”.
Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kì 2011-2020, mục những giải
pháp phát triển nhân lực có chỉ rõ: “Sử dụng, đánh giá và đãi ngộ nhân lực phải dựa
vào năng lực thực và kết quả, hiệu quả công việc. Khắc phục tâm lý và hiện tượng quá
coi trọng và đề cao “Bằng cấp” một cách hình thức trong tuyển dụng và đánh giá nhân
lực”; “Đổi mới đào tạo và chính sách sử dụng cán bộ, công chức gồm: áp dụng các
chương trình đào tạo công chức hành chính tiên tiến, hiện đại theo những tiêu chí,
chuẩn mực quản trị hành chính của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng
hệ thống chức danh cán bộ, công chức với quy định rõ ràng, cụ thể về quyền hạn, chức
năng và nhiệm vụ gắn với trách nhiệm, quyền lợi và tăng cường đạo đức công vụ, kỷ
cương, kỷ luật công tác; thực hiện khoán quỹ lương và cải cách chế độ tiền lương đối
với các đơn vị hành chính công, đảm bảo cán bộ, công chức đủ sống bằng lương và
từng bước có tích lũy; tổ chức thi vào các chức vụ lãnh đạo từ trung cấp trở xuống…”.

7
Vì những lý do nêu trên, tôi xin lựa chọn đề tài nghiên cứu “Chính sách thu hút
và sử dụng cán bộ khoa học trẻ tại các viện nghiên cứu thuộc Viện Khoa học xã hội
Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Viện Xã hội học)”.
2. Lịch sử nghiên cứu
Nghiên cứu về hoạt động khoa học và công nghệ của con người nói chung và của
nhóm cán bộ nghiên cứu trẻ nói riêng từ lâu đã là một mảng chủ đề quan trọng, thu hút
rất nhiều sự tham gia của các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực xã hội học, triết học,

Năm 2007, Đề tài độc lập cấp nhà nước “Đổi mới chính sách đối với trí thức
khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” được tiến hành với
một nhóm các nhà khoa học do GS Nguyễn Hữu Tăng làm chủ nhiệm. Đây là công
trình nghiên cứu khá quy mô và toàn diện về chính sách liên quan đến trí thức hoạt
động khoa học và công nghệ. Nhóm tác giả đã tổng kết toàn bộ những quan điểm, chủ
trương đường lối cơ bản của Đảng, chính sách của nhà nước liên quan đến phát triển
khoa học và công nghệ thời kỳ đổi mới và những định hướng cho thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Điểm nổi bật của công trình này là các tác giả sử dụng phương pháp
điều tra xã hội học, trưng cầu ý kiến đánh giá của các nhóm trí thức về các chính sách
khoa học và công nghệ đang hiện hành. Tuy nhiên công trình này mới chỉ tập trung vào
sự đánh giá các chính sách vĩ mô, chưa có đánh giá về chính sách cụ thể với đối tượng
trí thức trẻ.
Năm 2010, TS Nguyễn Thế Hưng với công trình “Đổi mới phương thức quản lý
hoạt động nghiên cứu khoa học tại các Viện nghiên cứu đa ngành (trường hợp Viện
KHXHVN” đã trình bày thực trạng quản lý NCKH tại các cơ quan NCKH ở Việt Nam
hiện nay (trong đó có Viện KHXHVN) là: các hình thức quản lý NCKH thường được
quản lý theo lĩnh vực chuyên môn của đề tài hoặc theo cấp của đề tài; việc xây dựng kế
hoạch NCKH ở từng đơn vị còn manh mún, rời rạc, không có tính chiến lược; phân bổ
kinh phí cho NCKH chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước, cách phân bổ kinh phí dựa
vào cấp độ đề tài và cấp duyệt của cơ quan quản lý khoa học; khâu tổ chức thực hiện
kiểm tra còn nhiều bất cập, chủ yếu chỉ kiểm tra về tiến độ thực hiện, tài chính của đề
tài, còn chuyên môn, nghiệp vụ thì chưa thật sự chú ý. Tác giả chỉ ra nguyên nhân của
những hạn chế, đó là: cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp ăn sâu vào tiềm thức tạo
ra sức ỳ không dễ khắc phục, chưa tạo được môi trường thuận lợi cho phát triển khoa

9
học; kinh phí đầu tư cho NCKH còn thấp; lĩnh vực thị trường khoa học và công nghệ
còn chậm phát triển; chưa có chế độ đãi ngộ hợp lý, chưa có chiến lược thu hút nhân tài
trong công tác NCKH…
Trong đề tài KX.03.22/06-10 “Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam

- Thời gian tiến hành nghiên cứu: từ năm 2001 - 2011.
5. Vấn đề nghiên cứu
- Thực trạng thu hút cán bộ khoa học trẻ tại Viện Xã hội học thuộc Viện
KHXHVN như thế nào?
- Thực trạng sử dụng cán bộ khoa học trẻ tại Viện Xã hội học thuộc Viện
KHXHVN như thế nào?
- Làm thế nào để tăng cường thu hút và sử dụng cán bộ khoa học trẻ tại Viện Xã
hội học?
- Làm sao để phối hợp giữa hai yếu tố thu hút và sử dụng cán bộ khoa học trẻ?
6. Giả thuyết nghiên cứu
- Thu hút cán bộ khoa học trẻ vào làm việc tại Viện Xã hội học phụ thuộc vào
nhiều yếu tố: chính sách thu nhập, tạo môi trường làm việc tốt, cơ hội được tiếp tục đào
tạo và nâng cao trình độ, tiếp cận được với đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm, cơ hội
thăng tiến,
- Việc sử dụng cán bộ khoa học trẻ hiện còn nhiều hạn chế như: bố trí cán bộ
không đúng chuyên môn, đánh giá cán bộ chưa đúng,
- Tăng cường sự phối kết hợp giữa hai yếu tố thu hút và sử dụng đem lại hiệu quả
trong việc thu hút được cán bộ tốt vào làm việc tại các Viện nghiên cứu, đồng thời phát
huy được tối đa năng lực cán bộ, nâng cao hiệu quả quản lý, đem lại hiệu quả cho hoạt
động khoa học tại các Viện nghiên cứu.
- Việc tìm hiểu các vấn đề lý luận về sự phối kết hợp hai yêu tố thu hút và sử
dụng cán bộ trẻ là tiền đề cho chính sách đồng bộ với hoạt động của Viện nghiên cứu
nói chung, của nhóm cán bộ khoa học trẻ nói riêng.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu

11
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được tiến hành trong Luận văn là phương
pháp phân tích tài liệu, phương pháp quan sát, phỏng vấn chuyên gia, điều tra bằng
bảng hỏi về các vấn đề liên quan.
Thông qua tìm hiểu cơ cấu tổ chức, bộ máy, hoạt động của Viện Xã hội học để có
13
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ
KHOA HỌC TRẺ



1
[1,tr 4]
2
[49]
3
[18] 14
nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ
thống xã hội.”
4

1.1.3 Khái niệm thu hút nhân lực KHXH
Theo quan điểm của tác giả luận văn này, thu hút nhân lực KHXH là việc thực
hiện hoạt động thu hút với đối tượng là nhân lực KHXH. Nhân lực KHXH là bộ phận
của nhân lực KH&CN nói chung
Theo định nghĩa của UNESCO, nhân lực KH&CN là những người trực tiếp tham
gia vào hoạt động khoa học và công nghệ trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương
hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và
nhân lực phù trợ
5
.
OECD cho rằng: nguồn nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được
một trong các điều kiện sau: (i) Đã tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định nào đó
về một chuyên môn khoa học và công nghệ (từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên
hay còn được gọi là trình độ 3 trong hệ giáo dục đào tạo
6
); (ii) Không được đào tạo

các nguồn cung cấp nhân lực KH&CN đến nơi cần thu hút phục vụ mục tiêu phát triển,
được thực hiện bởi cơ chế chính sách của chủ thể quản lý.
Như vậy thu hút ở đây đề cập đến chính là sự huy động trí tuệ của nhân lực
KH&CN từ các nguồn cung cấp nhân lực KH&CN ở mọi nơi trong địa bàn, ngoài địa
bàn, trong nước, ngoài nước để phục vụ phát triển kinh tế xã hội một vùng nào đó hoặc
một ngành, một lĩnh vực nào đó.”
7

Trên quan điểm thu hút là quá trình mở, trong đó thu hút thể hiện trên cả hai
phương diện bên thực hiện hoạt động thu hút và bên được thu hút, chúng tương tác với
nhau. Do đó bên cạnh quá trình thu hút xuất hiện hiện tượng phản thu hút, hệ quả của
việc thực hiện thu hút nhưng sử dụng không hợp lý. Quá trình này thường diễn ra trong
hoạt động thu hút được thực hiện với đối tượng được thu hút nằm ngoài chủ thể thực
hiện thu hút.
Thu hút là quá trình đóng thì khi mà hoạt động thu hút được thực hiện với đối
tượng nằm trong chủ thể thực hiện thu hút. Quá trình thường phát huy hiệu quả với
những nhân tố tích cực trong chủ thể, bên cạnh đó nó có nhược điểm là ảnh hưởng tới
khả năng đào thải, hiện tượng phản thu hút có khả năng phát triển.
1.1.4 Khái niệm sử dụng nhân lực KHXH
Theo thư viện từ điển tiếng việt online “Sử dụng: là động từ dùng để chỉ hành
động lấy làm phương tiện để phục vụ nhu cầu, mục đích nào đó”.
8
Trong Viện nghiên
cứu thì hoạt động sử dụng là hành động của cấp quản lý đối với cán bộ nhằm phục vụ
hoạt động nghiên cứu khoa học. 7
[11, tr 33].
8

KHXHVN. 9
[53]. 17
Ở đây cần phân biệt rõ cán bộ khoa học trẻ là đội ngũ kế cận của nhóm cán bộ
nghiên cứu cao tuổi, chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành.
1.2. Lý luận về thu hút và sử dụng cán bộ khoa học trẻ
1.2 1 Đặc điểm của cán bộ KHXH trẻ
Cán bộ KHXH trước hết là người lao động sáng tạo trong lĩnh vực khoa học xã
hội, đó không phải là quá trình vốn có, tự nhiên xuất hiện mà được tiến hành trên cơ sở
một hệ thống các quy tắc, nguyên lý, phương pháp nhất định. Các quy tắc, nguyên lý và
phương pháp đó đóng vai trò là phương tiện và công cụ để xử lý và giải thích các hiện
tượng xã hội và quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu.
Cán bộ KHXH phải là người có hệ thống tri thức khoa học, phương pháp nghiên
cứu, lao động khoa học hay là người lao động sáng tạo. Sáng tạo là sự tạo ra những giá
trị mới về vật chất hoặc tinh thần, hay tìm ra cách giải quyết mới, phương pháp mới. Sự
sáng tạo không phải ai cũng có và không phải xuất hiện bất kỳ lúc nào. Sự sáng tạo
khoa học thường có mầm mống và tích lũy dần qua giáo dục, đào tạo và nảy sinh trong
quá trình nghiên cứu. Việc trang bị kiến thức, môi trường hoạt động, điều kiện sống
cũng như các quan hệ xã hội, tuổi tác là những yếu tố tác động đến lao động sáng tạo
của đội ngũ cán bộ NCKH. Chính sách quan trọng đối với đội ngũ này là tạo điều kiện
vật chất và tinh thần, môi trường dân chủ để phát huy sáng tạo của họ.
Cán bộ KHXH là người thể hiện quan điểm cá nhân trong nghiên cứu khoa học.
Điều đó được thể hiện ở khả năng độc lập và tự chủ trong khám phá, sáng tạo mang nét
cá tính và năng lực của cá nhân nhà khoa học. Tùy theo trình độ học vấn, tư chất, thể
lực và môi trường xã hội mà cá tính và năng lực cá nhân hình thành và phát huy khác

quá trình đó thì đội ngũ cán bộ khoa học trẻ ngày càng phát triển hơn về số lượng lẫn
chất lượng, điều đó được thể hiện ở sự gia tăng về mặt số lượng cử nhân tốt nghiệp đại
học, thạc sỹ, tiến sỹ. Cán bộ khoa học trẻ là đối tượng luôn thể hiện được sự khát khao,
nỗ lực vươn lên trên con đường nâng cao trình độ học vấn.
Ngay trong nhóm cán bộ khoa học trẻ 25-35 tuổi có đặc điểm là sự khác biệt về
trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng. Điều đó được thể hiện ở những cán bộ khoa
học được đào tạo ở nước ngoài so với cán bộ được đào tạo ở trong nước, điều đó được
thể hiện ở khả năng ngoại ngữ, khả năng tiếp cận nguồn tài liệu trên thế giới, tiếp cận
với phương pháp khoa học mới, kỹ thuật phục vụ nghiên cứu khoa học… Và cũng 10
Từ điển Triết học, 1986, trang 598.

19
chính vì vậy, xu hướng ra nước ngoài để học tập và nghiên cứu đã và đang là đích
hướng tới của nhiều cán bộ khoa học trẻ hiện nay.
Một đặc điểm khác của cán bộ khoa học trẻ đó là sự khác biệt trong cơ cấu vùng
miền, dân tộc. Trong những năm qua, cán bộ khoa học trẻ chủ yếu tập trung ở các Viện
nghiên cứu nằm ở khu vực trung tâm, khu đô thị, thành phố lớn trên cả nước, sự phân
bố không đồng đều giữa các khu vực trên cả nước đã và đang là trở ngại lớn trong định
hướng phát triển các đơn vị nghiên cứu vùng. Bên cạnh đó, cơ cấu về dân tộc trong hoạt
động khoa học cũng như đội ngũ cán bộ khoa học trẻ thể hiện sự chênh lệch rõ nét. Bộ
phận những cán bộ khoa học trẻ là cán bộ người dân tộc thiểu số là rất hạn chế so với
cán bộ khoa học là người kinh. Chưa có một đánh giá cụ thể nào trên quy mô lớn về vấn
đề này, tuy nhiên nó là yêu cầu đặt ra trong định hướng phát triển nhân lực Việt Nam
giai đoạn 2011-2020.
Cán bộ khoa học trẻ tại các Viện nghiên cứu trực thuộc Viện Khoa học xã hội
Việt Nam hoạt động chung trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn, trong đó phân ra
nhiều ngành cụ thể: Triết học, Hán Nôm, Xã hội học, Tâm lý học, Gia đình và Giới ….

thường xuyên và đồng bộ. Bên cạnh hoạt động thu hút cán bộ luôn cần có hoạt động
đào thải cán bộ. “Thu hút” và “đào thải” tạo nên chu trình khép kín, tạo động lực cho sự
phát triển đối với vấn đề nhân sự. Thông qua chu trình đó mà sự sàng lọc về chất lượng
đội ngũ cán bộ có cơ sở để thực hiện và tạo bước chuyển biến mới trong tổ chức Viện
nghiên cứu.
Xét về mặt bản chất của “thu hút” là phải tạo ra được sự quan tâm, hướng chú ý
của các chủ thể khác nhau đến một hướng nhất định. Vậy trong môi trường Viện nghiên
cứu cần có yếu tố nào tạo nên sự “thu hút”?.
Theo Luận văn thì thu hút cán bộ khoa học trẻ cũng giống như môi trường điện
cực, ở đó luôn tồn tại hai cực: cực âm (-) và cực dương (+). Nếu coi yếu tố thu hút cán
bộ khoa học trẻ là cực dương (+), thì những yếu tố được coi là cực âm (-) để tiến hành
quá trình “thu hút” với nhóm đối tượng cán bộ khoa học trẻ. Xin nêu lên 6 yếu tố:
1. Thu nhập
2. Môi trường làm việc
3. Có nhà quản lý giỏi
4. Cơ hội thăng tiến

21
5. Cơ hội được đào tạo
6. Phù hợp chuyên môn được đào tạo
1.2.3 Lý luận về sử dụng cán bộ khoa học trẻ
Theo lý thuyết vị trí – chức năng thì mỗi người đều đảm nhiệm một vị trí nhất
định trong xã hội, trong tổ chức; và với mỗi vị trí đó đều có các chức năng tương ứng.
Vị trí của nhà quản lý có chức năng tổ chức, điều hành hoạt động của cơ quan, trong đó
yếu tố đặc biệt quan trọng là việc sử dụng nhân lực con người sao cho có hiệu quả. Tính
hiệu quả được đánh giá ở kết quả công việc cá nhân đạt được, từ đó góp phần vào sự
thành công chung của tổ chức. Sử dụng nguồn nhân lực là việc làm không dễ và cũng
không phải ai cũng làm được. Đối với nhân lực là cán bộ khoa học trẻ thì càng đặt ra
thử thách với mỗi nhà quản lý.
Nếu xem sử dụng nhân lực là sự đối xử của tổ chức với các cá nhân trong tổ chức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status