Chính sách thu hút và sử dụng tài năng trẻ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước - Pdf 25

CHÍNH SÁCH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG TÀI
NĂNG TRẺ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Mã Số 60.34.70
Hà Nội, 2009


LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Mã Số 60.34.70 Người thực hiện: Dương Trọng Châu
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Xuân Định

Hà Nội, 2009
Mục lục

Trang
Lời cảm ơn
1
danh mục các từ viết tắt
2
Phần I - Mở đầu

7-
Phương pháp chứng minh luận điểm
5
8-
Dự kiến luận cứ
6

8.1-
Luận cứ lý thuyết
6

8.2-
Luận cứ thực tiễn
6
9-
Kết cấu của luận văn
6
Phần II- Nội Dung nghiên cứu
Chương 1. Cơ sở lý luận về thu hút và sử dụng
tài năng trẻ
7
1.1-
Một số khái niệm
7

1.1.1-
Tài năng
7

1.1.2-

a)
Về thu hút nhân tài
24 b)
Về sử dụng nhân tài
25

1.4.2-
Kinh nghiệm của Nhật Bản
27 a)
Về thu hút nhân tài
27 b)
Về sử dụng nhân tài
28

1.4.3-
Kinh nghiệm của Trung Quốc
29 a)
Về thu hút nhân tài
b)
Khái quát một vài nhận xét về chính sách thu hút, sử
dụng tài năng cấp Trung ương.
50

2.1.2-
Chính sách thu hút, sử dụng tài năng trẻ ở cấp địa phương
54 a)
Khảo sát văn bản liên quan đến chính sách ở các địa
phương
54 b)
Số lượng văn bản được ban hành ở các địa phương
54 c)
Về thẩm quyền ban hành văn bản ở các địa phương
55 d)
Đối tượng và phạm vi áp dụng của chính sách


c)
Phân loại chính sách theo các khâu
68 d)
Phân loại theo mức độ tác động của chính sách tài
năng trẻ
68
2.3-
Đánh giá khái quát về chính sách thu hút và sử dụng tài năng
trẻ hiện hành
69

Kết luận chương 2.
73
Chương 3. Giải pháp về chính sách thu hút và
sử dụng tài năng trẻ
74
3.1-
Đổi mới cơ chế chính sách thu hút, sử dụng tài năng trẻ
74

3.1.1-
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
74

3.1.2-
Tăng cường quản lý Nhà nước về nhân tài

3.6-
Đúc kết và phát huy các kinh nghiệm tốt ở trong nước, đồng
thời tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế để phát triển nhân
tài
82
3.7-
Kết hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về việc tham gia nghiên
cứu, xây dựng, giám sát thực thi chính sách thu hút và sử
dụng tài năng trẻ.
83

Kết luận chương 3.
84
Phần iii - Kết luận và khuyến nghị
86

Kết luận
86

Khuyến nghị
89

Danh mục tài liệu tham khảo
91
1
lý “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh,
rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy, các đấng
thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ
sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng
đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng”[1, tr 112].
Ngày nay, trong thế kỷ XXI thế giới còn nhiều biến động phức tạp khó lường,
nhiều cuộc cạnh tranh diễn ra quyết liệt về quân sự, kinh tế… nhưng sự cạnh
tranh về trí thức và nhân tài chắc chắn là quyết liệt nhất. Bởi vì, nhân tài là
nhân tố số một quyết định thắng lợi trong các cuộc cạnh tranh. Để Việt Nam
có thể cạnh tranh bình đẳng trên trường quốc tế và đẩy mạnh sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước, Đảng và Nhà nước ta cần nhanh chóng phát triển đội ngũ trí
thức và nhân tài, đặc biệt là việc thu hút và sử dụng tài năng trẻ đóng vai trò
trọng yếu trong chiến lược phát huy nhân tố con người. Nếu không làm được
điều đó, nước ta sẽ bị tụt hậu ngày một xa hơn so với các nước khác. Bài học
lịch sử của nước ta và kinh nghiệm trên thế giới về phát triển, thu hút và sử
dụng nhân tài đáng để chúng ta suy ngẫm. Trong kỷ nguyên mới, phát triển trí
thức, trọng dụng nhân tài là nhiệm vụ lịch sử, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
đưa dân tộc Việt Nam bước nhanh tới đài vinh quang của thời đại, sánh vai
với các cường quốc năm châu.
Cốt lõi của việc phát huy nhân tố nguồn lực con người bằng cách thu
hút và sử dụng nhân tài là phát triển giáo dục, phát triển toàn diện con người.
Mục đích của giáo dục là tạo ra giá trị của con người mà trong đó giáo dục
nhân cách và giáo dục tri thức phải được hết sức coi trọng, là nhiệm vụ số
một, xuyên suốt cả quá trình giáo dục và rèn luyện con người theo những
chuẩn mực và định hướng giá trị xã hội mới. Nhiệm vụ của giáo dục là đưa
con người đạt đến những giá trị phù hợp đặc điểm văn hoá và những yêu cầu

3
mới đặt ra đối với con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
Hơn lúc nào hết, Đảng và Nhà nước cùng với nhân dân nhanh chóng chấn

thi chính sách thu hút, sử dụng tài năng trẻ và các cơ quan, tổ chức, cá nhân
thụ hưởng chính sách.
3.3- Phạm vi nghiên cứu :
Luận văn tập trung nghiên cứu các chính sách nhằm thu hút và sử dụng
tài năng trẻ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
4- Mẫu khảo sát
- Chọn địa bàn khảo sát là Hà nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bình
Dương.
- Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động
Thương binh và xã hội, Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch.
- Uỷ ban quốc gia về Thanh niên Việt nam, TW Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh, Trung tâm phát triển Khoa học công nghệ và tài năng trẻ, Học viện
thanh thiếu niên Việt Nam.
- Thời gian từ năm 2000 đến nay.
5- Vấn đề nghiên cứu
Những giải pháp chính sách nhằm thu hút, sử dụng tài năng trẻ trong
thời kỳ CNH, HĐH đất nước?
6- Giả thuyết nghiên cứu
- Các cơ quan trong bộ máy công quyền các cấp trong sự nghiệp CNH -
HĐH đất nước, tăng cường hội nhập kinh tế ngày càng bộc lộ sự bất hợp lý
trong chính sách thu hút, sử dụng nhân tài trẻ.
- Các tổ chức chính trị - xã hội đã có những giải pháp về thu hút, sử
dụng tài năng trẻ nhưng vẫn chưa đủ (người có tích cực có sáng tạo đổi mới
được sử dụng? ở đó bình đẳng để khuyến khích sáng tạo được trọng dụng? )
7- Phương pháp chứng minh luận điểm
- Hệ thống hoá, kế thừa các kết quả nghiên cứu đã công bố.
- Nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, các giải pháp thực tiễn
thu hút, sử dụng tài năng trẻ (Hà nội, Trung ương, trong nước, ngoài nước).
- Trên cơ sở phân tích, tổng hợp để rút ra những vấn đề cơ bản mang
tính lý luận làm cơ sở cho hoạch định chính sách thu hút, sử dụng tài năng trẻ.

Chân lý “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” đã được nhân dân Việt Nam
truyền từ đời này qua đời khác, đã tạo nên một truyền thống anh hùng của dân
tộc. Nhưng trong xã hội Việt Nam hiện nay, không phải mọi người đều đã
hiểu rõ các khái niệm như thế nào là tài năng? tài năng trẻ? nhân tài? Muốn
hiểu được cần phải nghiên cứu, tìm hiểu sâu sắc những câu hỏi tưởng rằng dễ
mà khó nêu trên.
1.1.1- Tài năng:
Tài năng là năng lực vượt trội về một (hoặc một số) lĩnh vực chuyên
biệt của một cá nhân.
Người có năng khiếu nếu được đào tạo, bồi dưỡng một cách khoa học,
có hệ thống thì có thể trở thành người có tài năng. Người có tài năng thường
hoàn thành công việc hoặc một hoạt động trên một lĩnh vực nhất định với chất
lượng, hiệu quả cao, hoặc rất cao. Có một số tài năng nhỏ tuổi rất thông minh,
đĩnh ngộ, có tài ứng xử và đạt được kết quả vượt trội, được gọi là “Thần
đồng”. Ví dụ: Mozart, Lương Thế Vinh (khi nhỏ). Tuy nhiên, có nhiều người
có tài, hoặc rất có tài ví dụ: Hitler… nhưng không có đức, gây ra nhiều tai hoạ
cho cộng đồng, thì bị xã hội lên án đời này qua đời khác trong suốt quá trình
phát triển của lịch sử.
1.1.2- Nhân tài:
Khi nói nhân tài là nói tới nhân cách của người tài, bao gồm cả 2 mặt:
năng lực, phẩm chất; hoặc 2 mặt: đức, tài mà đức là gốc. Ngoài ra, phải kể tới
sự sáng tạo, cống hiến mà nhân tài mang lại cho xã hội. Chính vì vậy, ông cha
ta quan niệm: Hiền tài là người có đức, có tài, có cống hiến lớn với nước, với
dân. Ngày nay, khi nói tới cấu trúc nhân cách của nhân tài, người ta không chỉ
nói tới 2 thành tố: đức, tài mà còn đặc biệt quan tâm tới thành tố sáng tạo -

7
thành tố biểu thị năng lực rất đặc trưng của con người.
Như vậy: Nhân tài là người thông thái, giàu tính sáng tạo, có động cơ vì
lợi ích xã hội, cộng đồng, có năng lực chuyên biệt, và có một phẩm chất nổi

Tư tưởng và phong cách của Người đã trở thành nét đẹp văn hóa, “Văn hóa
của tương lai” và ngày càng được nhiều người, nhiều nước trên thế giới quan
tâm, tìm hiểu, nghiên cứu về tư tưởng vĩ đại của Người. ở bất cứ nơi đâu,
trong bất cứ hoàn cảnh nào, ở Người luôn toả sáng một tâm hồn lớn, một
nhân cách vĩ đại nhưng đầy ắp tính nhân văn. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về
vấn đề nhân tài luôn lắng đọng quan điểm “dân là gốc”, bởi mọi nhân tài đều
được sinh ra từ nhân dân và chính nhân dân là người tôn vinh và sử dụng
nhân tài, cũng chính nhân dân mới là nguồn cảm hứng sáng tạo cho mọi nhân
tài, mỗi phát minh, sáng kiến đều xuất phát từ nhu cầu của nhân dân, mỗi
thành quả sáng tạo của nhân tài đều nhằm mục đích phục vụ nhân dân và nhân
dân mới chính là người trọng tài đánh giá công minh, chính xác nhất.
Hồ Chí Minh đã sớm nhìn thấy mối quan hệ biện chứng và sức mạnh
vô địch của khối đại đoàn kết công - nông - trí thức, mối liên minh này chính
là sức mạnh nội sinh, là động lực quan trọng để đẩy mạnh sự nghiệp cách
mạng đến thắng lợi vinh quang. Chính vì hiểu rõ vai trò và tầm quan trọng
của đội ngũ trí thức và nhân tài Việt Nam trong liên minh công - nông - trí,
nên vấn đề này đã được Người quan tâm từ rất sớm ngay sau khi mới giành
được chính quyền. Người xem việc đào tạo nhân tài là một quá trình liên tục
được bắt nguồn từ truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo, truyền thống
quý trọng hiền tài của dân tộc ta, phương châm giáo dục truyền thống là “Tiên
học lễ, hậu học văn” và “cần khổ học”. Mục tiêu của giáo dục là học để làm
người, để trở thành tài, để trở thành người cán bộ ưu tú, nguyện suốt đời phấn
đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân. Sự nghiệp
giáo dục và đào tạo ngày hôm nay không chỉ là nâng cao dân trí mà nó phải
nhằm mục tiêu giải phóng con người, phát triển năng lực của mỗi con người,
nâng cao các tố chất của con người, không ngừng hoàn thiện nhân cách của
con người và cuối cùng nhằm mục đích xây dựng đất nước phồn vinh, nhân
dân được sống trong hoà bình, an ninh và hạnh phúc.
Lúc sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã khắc hoạ tiêu chuẩn của con


việc đó, lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng

10
cho Chính phủ. Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng có
thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay”[2, tr 316].
Trong sâu thẳm tư tưởng Hồ Chí Minh về sử dụng nhân tài là lòng thiết
tha, thực sự cầu hiền, mong muốn nhân tài ra giúp dân, giúp nước với cách
làm rất cụ thể và công khai. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác là
người thực sự quan tâm và tin tưởng đội ngũ trí thức không chỉ bằng lời nói
mà bằng việc làm rất cụ thể. Chính vì vậy, Bác đã tạo niềm tin, khơi dậy ý
thức làm chủ của đội ngũ trí thức. Bác cho rằng, để phát huy sự sáng tạo của
trí thức, cần phải đưa họ vào phong trào cách mạng, đi vào đời sống nhân dân,
coi đó là trường học lớn để học tập, rèn luyện và trưởng thành. Việc bố trí cán
bộ trí thức là một việc làm khoa học và hết sức quan trọng. Bác đặc biệt lưu ý
các tổ chức, các cấp lãnh đạo trong việc sử dụng và bố trí cán bộ phải hết sức
thận trọng. Bác nói: “ Xem người ấy xứng với việc gì. Nếu người có tài mà
dùng không đúng thì tài của họ cũng không được việc”[3, tr 511]. Người đòi
hỏi trí thức cách mạng phải là những người vừa có tài, vừa có đức. Cán bộ
lãnh đạo và người quản lý phải được đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên để
có tri thức sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực mình đang phụ trách,
có như vậy mới có thể hoàn thành công việc ngày càng tốt và cống hiến ngày
càng nhiều cho Tổ quốc, cho nhân dân. Ngay sau khi nước nhà giành được
độc lập, đất nước gặp muôn vàn khó khăn, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã hết sức
chú ý đến việc dùng người tài để giúp dân, giúp nước.
Ngày 20/10/1946, trong bài “Tìm người tài đức” đăng trên báo Cứu
quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết : “Trong số 20 triệu đồng bào, chắc
không thiếu những người có tài, có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy
không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó
tôi xin thừa nhận”[2, tr 995]. Bác kêu gọi các địa phương phải tìm và giới
thiệu những người tài đức, những người “có thể làm được những việc ích

nhận thông qua hoạt động thực tiễn. Một người có năng lực, được đào tạo cơ
bản đến trình độ cao, nhưng không được đưa vào thực tiễn cuộc sống thì sẽ
không bộc lộ được tài năng và được công nhận. Việc chọn nhân tài là một
việc làm chiến lược, do đó, phải biết nhìn xa, trông rộng, biết chấp nhận, bỏ
qua cái không chính yếu, phải biết sử dụng và phát huy năng lực của nhân tài

12
đồng thời phải biết bảo vệ họ. Thực tế không ai là hoàn hảo cả, mọi người ai
cũng có ưu, khuyết điểm, chỉ có điều là ưu điểm nhiều, hay khuyết điểm
nhiều, nếu chúng ta biết tu dưỡng để phát huy ưu điểm và hạn chế khuyết
điểm để con người ngày càng hoàn thiện. Do đó, “Dụng nhân như dụng mộc”.
Bác nói: “Phải làm cho cán bộ có gan nói, có gan đề ra ý kiến, có gan phụ
trách, có gan làm. Không biến họ thành cái máy, chỉ biết ỉ lại trông chờ cấp
trên, nhát gan dễ bảo”[4, tr 224]. Nhân tài chỉ thực sự phát huy tối đa tác
dụng đối với xã hội nếu được tạo điều kiện để họ thực hiện tài năng, mà trước
hết là những người lãnh đạo phải biết cách trọng dụng họ, tạo cho họ có điều
kiện làm việc thuận lợi, bố trí công việc vị trí công tác hợp lý, sau đó là chế
độ đãi ngộ thoả đáng, đồng thời xã hội phải tôn vinh họ. Nếu không có môi
trường, không có điều kiện thuận lợi, tài năng có thể bị thui chột hoặc không
phát huy được tác dụng, hoặc dẫn đến tình trạng “chảy máu chất xám”, đây là
bài học thực tế từ xưa đến nay.
1.2.2- Quan điểm của Đảng về thu hút và trọng dụng nhân tài:
Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đòi hỏi Đảng ta phải xây dựng được
đội ngũ cán bộ ngang tầm, góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, xây dựng và chuẩn bị đội ngũ cho cán
bộ lãnh đạo, quản lý có tầm quan trọng đặc biệt. Theo tinh thần đó, vào những
năm 1960, Trung ương đã có chủ trương phát triển những tài năng trẻ, chuẩn
bị cho việc đào tạo và bồi dưỡng nhân tài phục vụ công cuộc kháng chiến,
kiến quốc. Trong phiên họp ngày 30/3/1961 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội
bàn về cải cách giáo dục, đồng chí Trường Chinh đã nêu rõ : “Vấn đề phát

lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000…”.
Văn kiện này ghi rõ: “Giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài… bồi dưỡng nhiều người giỏi về khoa học
công nghệ, kinh doanh, về quản lý kinh tế, xã hội và nhiều công nhân lành
nghề…” đáp ứng yêu cầu của việc phát triển kinh tế - xã hội.
Những tư tưởng, quan điểm của Đảng kể trên đã được cụ thể hoá trong
các văn kiện của Nhà nước:
Trong Pháp lệnh ngày 14/11/1979 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và Hiến pháp năm 1992 của nước

14
CHXHCN Việt Nam đều nhấn mạnh đến việc đào tạo, bồi dưỡng năng khiếu,
tài năng. Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ra nhiều Nghị quyết, chỉ
thị… để thực hiện hoá chủ trương này.
Nghị định số 293-CP ngày 04/7/1981 của Hội đồng Chính phủ về công
tác giáo dục trong những năm trước mắt, đã nhấn mạnh việc phát hiện, bồi
dưỡng, đào tạo tài năng. Bộ Giáo dục ngay từ năm học 1962 - 1963 đã có
quyết định tổ chức các kỳ thi quốc gia chọn học sinh giỏi văn, toán cấp 2,3 và
từng bước đề nghị Chính phủ ra các quyết định mở các lớp năng khiếu toán
(QĐ-198/CP ngày 04/9/1965) và năng khiếu ngoại ngữ (QĐ-198/CP ngày
20/6/1969)…
Trong những năm gần đây, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Giáo dục - Đào
tạo có những chủ trương, biện pháp để phát triển hệ thống trường chuyên, lớp
chọn, trường phổ thông dân tộc nội trú ở bậc học phổ thông, và đã chú trọng
xây dựng 3 trung tâm chất lượng quốc gia bậc học phổ thông ở TP Hà Nội,
Huế, TP Hồ Chí Minh và xây dựng các trường Đại học Quốc gia và một số
trường, khoa trọng điểm ở bậc đại học.
1.3- Kinh nghiệm thu hút, sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam
Nhân tài và cách nhận biết nhân tài đã có từ xa xưa, cách đây khoảng
2500 năm, trong “Kinh thi” của Trung Quốc đã có những bài thơ nói về dáng

đại thành công”. Từ hàng nghìn năm trước đây, trong tư tưởng của một số nhà
triết học cổ Trung Quốc đã thể hiện tư tưởng trọng dân, Mạnh Tử nói: “Dân
vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi kính” (Dân là quan trọng, rồi đến đất nước, Vua
chỉ là thường). Trong tư tưởng Nho giáo cũng đã thể hiện tư tưởng gần dân và
vì dân, đặc biệt là tư tưởng lấy dân làm gốc là một tư tưởng rất tiến bộ mà cho
đến ngày nay tư tưởng này vẫn còn nguyên giá trị, đó là : “Dân là gốc của
nước, gốc vững thì nước mới yên”[4, tr 184].
Trọng dụng hiền tài cũng được đề cao trong tư tưởng nho giáo “tôn
trọng sử dụng người có tài, để họ ở vị trí xứng đáng thì người tài trong thiên
hạ sẽ vui lòng phục vụ triều đình”. Những tư tưởng tích cực của nho giáo
được nêu trên đây cũng rất đáng để chúng ta lấy đó làm bài học tham khảo.
Tuy chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng nho giáo, nhưng ông cha ta
một mặt tiếp thu có chọn lọc những điểm tích cực, mặt khác vẫn giữ được bản

16
sắc văn hoá để tạo nên nét mới trong văn hoá của mình. Vì thế, ngay trong
việc phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng và sử dụng hiền tài, ông cha ta vẫn giữ
những nét đặc trưng riêng của dân tộc Việt Nam. Điều này được thể hiện rất
rõ ở triều đại nhà Lý. Năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời đố từ Hoa Lư ra thành
Đại La, lập nên kinh đô Thăng long, đến năm 1075 mở khoa thi đầu tiên chọn
nhân tài và năm 1076 vua Lý Nhân Tông đã cho lập Quốc Tử Giám làm nơi
học tập cho các quan viên văn chức. Sự ra đời của trường Đại học này đã mở
ra một trang mới cho nền giáo dục của nước nhà. Kể từ khoa thi đầu tiên đến
những năm đầu của thế kỷ XIX tại Quốc Tử Giám, sử sách còn ghi lại được
188 khoa thi Nho học và tuyển chọn 2.898 vị khoa bảng, trong đó có 47 vị đỗ
trạng nguyên (có tài liệu nói là 56 trạng nguyên), 48 vị đỗ bảng nhãn và 75 vị
đỗ thám khoa, 2396 vị tiến sĩ (trong đó có hàng trăm vị đỗ hoàng giáp), 266 vị
đỗ phó bảng và 66 vị tiến sĩ chưa có thư tịch. Đó là những trí thức bậc cao của
các triều đại phong kiến, tên tuổi của họ gắn liền với lịch sử, với sự phát triển
đất nước, nhiều người đã có những cống hiến to lớn cho dân tộc. Để ca ngợi

trị tất sinh ra bậc toàn tài, bậc toàn tài có thể giữ nền thịnh trị”, hay trong văn
bia khoa thi năm 1715 cũng có ghi “Vận hội nước nhà được thịnh vượng, cơ
đồ được vững vàng vì có hiền tài đông đúc như cây trong rừng”. Thời Tây
Sơn, vua Quang Trung đã ban “Chiếu học”, trong chiếu khẳng định “Dựng
nước lấy việc học làm đầu, trị nước chọn nhân tài làm gốc”.
Năm Cảnh Hưng thứ 24 (1763) nhà vua đích thân viết “Chiếu hiền tài”,
chiếu viết “Nhà nước làm chính trị phải dùng người hiền tài, triều đình dùng
người phải xét lời bàn của nhiều người. Ta lưu tâm việc trị nước, độc ý việc
cầu tài”. Trong cuốn “Đại Nam thực lục” có viết, năm 1827 vua Minh Mạng
ban chiếu có ghi “Đạo trị nước phải lấy việc gây dựng nhân tài làm việc ưu
tiên mà phương pháp gây dựng thì trước hết phải nuôi dưỡng người tài”.
Trong các triều đại phong kiến tiêu chuẩn lựa chọn hiền tài được quy
định rõ ràng, phải tuyệt đối trung thành với vua, phải là người trong sạch,
chính trực, ngay thẳng, không xu nịnh. Triều đình phong kiến đã áp dụng chế
độ thưởng phạt nghiêm minh: đối với người đỗ cao, làm việc giỏi được cân
nhắc, lên chức lên lương, cấp bổng lộc, được ban chức tước cho bố mẹ, vợ
con. Ngược lại là những hình thức xử phạt: hạ lương, giáng chức, tống giam,

18
tịch thu tài sản, cách tuột hết các chức, tước bổng lộc cho lưu đày… các điều
luật cũng hết sức cụ thể, tiêu biểu là Bộ Luật Hồng Đức. Từ cách thưởng, phạt
như vậy chính là những hình thức giáo dục quan lại không ngừng tu dưỡng và
rèn luyện vươn lên. Trong việc sử dụng hiền tài, ông cha ta không chỉ chú
trọng vào bằng cấp mà quan trọng hơn là năng lực thực tế thông qua kết quả
hoàn thành công việc. Bên cạnh việc phát hiện và sử dụng hiền tài, cha ông ta
cũng rất chú trọng đến việc tôn vinh bậc hiền tài, những người có đức, có tài,
có công lớn với quê hương, đất nước. Những người này đều được đích thân
nhà vua trọng thưởng tùy theo công trạng và khi chết đều được nhân dân thờ
cúng, suy tôn là thần, là thánh.
Để tìm được hiền tài đích thực thì ngoài việc thi cử phải nghiêm túc

hết; kẻ tiểu nhân chỉ lo vun vén cho cá nhân. Nhân cách tốt ắt sẽ làm được
việc lớn, nhân cách xấu chỉ làm điều có hại. Việc giáo dục dẫn dắt học sinh
nắm vững tri thức, hình thành các quan niệm và đòi hỏi người có học phải
hoàn toàn chủ động, tìm tòi trong quá trình dạy và học, tư tưởng này phù hợp
với tư tưởng giáo dục hiện đại ngày nay là biến quá trình đào tạo thành quá
trình tự đào tạo.
Đầu tiên, mục đích giáo dục ở các triều đại phong kiến là quan tâm đến
đào tạo con em hoàng tộc, chọn các vị quan tài giỏi nhất trong triều phong
làm thái phó (một chức quan cao nhất trong hoàng đại thần làm nhiệm vụ dạy
dỗ trong cung). Nội dung đào tạo ở thời kỳ này nặng về khoa học xã hội -
nhân văn, chỉ chú ý đến kỹ năng cai trị, binh pháp, văn học nghệ thuật, lễ,
nhạc, đạo làm vua, làm tướng mà nhẹ về đào tạo khoa học tự nhiên và khoa
học kỹ thuật. Thi cử thì qúa nặng nề về phạm trường quy (Phạm huý) khiến
nhiều người thực tài có khi không đỗ đạt. Đối tượng đào tạo thường là con
nhà quý tộc hoặc giàu có, miệt thị con nhà nghèo, con hàng cháu mỏ (tầng lớp
hạ lưu); nặng tư tưởng trọng nam, khinh nữ.
Chính vì những hạn chế về việc đào tạo mà các triều đại phong kiến
không có những nhà khoa học công nghệ giỏi, làm kìm hãm sự phát triển của
đất nước. Sau này việc đào tạo đã được mở rộng cho phép các con em nông
dân thực sự tài năng cũng được vào học. Tới thời nhà Nguyễn, nhà vua cấp
lương bổng cho các giám sinh để họ theo học ở kinh đô.

20
Việc tuyển chọn hiền tài các triều đại về sau càng được tiến hành
thường xuyên hơn để lựa chọn nhiều nhân tài (Triều Lý cứ 12 đến 20 năm tổ
chức một khoa thi, đến triều Lê trở về sau thì 3 năm tổ chức một khoa thi).
Việc tổ chức thi ở các triều đại phong kiến được tổ chức ở ba cấp trình độ
khác nhau; thi Hương - tổ chức ở cấp tỉnh để chọn cử nhân; thi Hội - do Bộ lễ
của triều đình tổ chức để chọn tiến sĩ; thi Đình - được triều đình tổ chức do
đích thân vua chủ trì để chọn trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa (tam khôi).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status