ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHÙNG VĂN NAM
VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN
TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ AN NINH TỔ QUỐC
VÙNG ĐÔNG NAM BỘ HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
TP. HỒ CHÍ MINH – 2013
3. PGS.TS. Vũ Tình
TP. HỒ CHÍ MINH – 2013ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHÙNG VĂN NAM
VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN
TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ AN NINH TỔ QUỐC
VÙNG ĐÔNG NAM BỘ HIỆN NAYChuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số: 62.22.80.05 LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận án 12
5. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án 12
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 13
7. Kết cấu của luận án 13
Chương 1: Lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của quần chúng nhân
dân trong lịch sử và sự vận dụng vào sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ
quốc…………………………………………………………………….
14
1.1. Lý luận chung của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của quần
chúng nhân dân trong lịch sử
14
1.1.1. Khái lược các quan đi
ểm khác nhau trong lịch sử triết học trước
Mác về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử………………… 14
1.1.2. Bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học và sự hình thành lý
luận Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử…… 21
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về vận dụng vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử
vào sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quố
c
37
1.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân trong
lịch sử và sự vận dụng vào sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc………… 37
1.2.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của quần
chúng nhân dân trong lịch sử và sự vận dụng vào sự nghiệp bảo vệ an
ninh tổ quốc…………………………………………………………… 51
1.3. Lý luận về vai trò của quần chúng nhân dân và vận động quần
chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc
2.3.1. Những hạn chế của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ
an ninh tổ quốc vùng Đông Nam bộ 141
2.3.2. Nguyên nhân cơ bản những hạn chế trong sự nghiệp bảo vệ an
ninh tổ quốc của quần chúng nhân dân vùng Đông Nam bộ 145
Chương 3: Phương hướng và những giải pháp cơ bản phát huy vai
trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ
quốc vùng Đông Nam bộ hi
ện nay
155
3.1. Xu hướng biến đổi về kinh tế - xã hội, an ninh trật tự tác động
đến vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an
ninh tổ quốc vùng Đông Nam bộ hiện nay
155
3.1.1. Sự biến đổi về kinh tế - xã hội tác động đến vai trò của quần
chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc vùng Đông
Nam bộ hiện nay 155
3.1.2. Xu hướ
ng biến đổi về an ninh trật tự tác động đến vai trò của
quần chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc vùng
Đông Nam bộ hiện nay 163
3.2. Phương hướng phát huy vai trò của quần chúng nhân dân
trong sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc vùng Đông Nam bộ hiện
nay
172
3.2.1 Tăng cường xây dựng hoàn thiện các chủ thể làm công tác vận
động quần chúng nhân dân bảo v
ệ an ninh tổ quốc, xây dựng lực lượng
Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh 172
3.2.2. Xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp hài hòa các lợi
ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ của công dân, gắn liền với công
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của để tài
Vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử đã được Mác
và Ăngghen khẳng định trong quá trình xây dựng thế giới quan triết học mới,
nhất là trong quan niệm duy vật về lịch sử. Việc xác lập vai trò của quần
chúng nhân dân không phải ngẫu nhiên, mà dựa trên nền tảng vững chắc của
tiến trình lịch sử xã hội, gắn với hoạt động củ
a quần chúng nhân dân trong các
lĩnh vực sản xuất vật chất, đấu tranh biến đổi xã hội và sáng tạo ra các giá trị
văn hóa tinh thần. Không một nhà triết học nào ở các thế kỷ trước, kể cả các
nhà triết học khai sáng Pháp và Đức có được cách nhìn toàn diện như vậy.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, bằng sự nhạy bén
khoa học và bản lĩnh chính trị của mình, đã tiế
p thu rất sâu sắc quan điểm của
chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử,
đồng thời vận dụng một cách sáng tạo quan điểm ấy vào quá trình lãnh đạo
cách mạng Việt Nam, trong đó có sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc. Đảng ta
khẳng định: “Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân; nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ” [31, tr.40]. Đó là một trong những
nguyên nhân vô cùng quan trọng và có ý nghĩa lớn lao góp phầ
n làm nên
thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt cuộc trường chinh chống giặc
ngoại xâm, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Ngày nay, đất nước ta đang thực hiện công cuộc đổi mới. Tình hình
kinh tế, chính trị trên thế giới và trong nước đang diễn ra khá phức tạp. Các
thế lực thù địch vẫn chưa từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam.
thay đổi tư duy, tình cảm, lối sống của nhân dân địa phương, đồng thời các
loại tội phạm, tai nạn, tệ nạn xã hộ
i cũng xuất hiện và gia tăng. Trình độ nhận
thức của quần chúng nhân dân ở một số địa bàn còn thấp, ý thức chấp hành
pháp luật còn hạn chế, chưa nhận thức và phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của
công dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc.
Tại các tỉnh Bình Phước và Đồng Nai, ở các địa bàn tập trung nhiều
đồng bào dân tộc và đồng bào có đạo, các phần tử phá hoại đã l
ợi dụng vấn đề
phức tạp về dân tộc, tôn giáo để lôi kéo đồng bào tham gia hoạt động 3
FULRO, các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, kích động đồng bào gây trở
ngại cho việc thực hiện các chủ trương của tỉnh và gây chia rẽ tình đoàn kết
giữa các dân tộc, tôn giáo.
Những vấn đề trên làm cho tình hình an ninh trật tự ở khu vực này cũng
thay đổi cơ bản, phá vỡ sự ổn định vốn có trước kia, đã gây tâm lý hoang
mang trong quần chúng nhân dân và tạo ra tính chất phức tạp về an ninh trật
tự. Trong khi đó việ
c lãnh đạo, chỉ đạo công tác vận động quần chúng nhân
dân tham gia Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc chưa được quan tâm
đúng mức. Các tổ chức Đảng, chính quyền ở một số địa phương trong vùng
nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc xây dựng phong
trào nên việc triển khai thực hiện còn mang tính hình thức, chiếu lệ, thiếu sơ
kết, tổng kết để rút kinh nghi
ệm và có biện pháp khắc phục kịp thời. Vai trò
nòng cốt trong công tác vận động phát huy vai trò quần chúng nhân dân bảo
vệ an ninh tổ quốc của lực lượng Công an nhân dân chưa được chú ý, coi
trọng; sự phối hợp giữa ngành Công an với các ngành, đoàn thể chính trị - xã
nghiên cứu trong và ngoài nước
đặc biệt quan tâm rất nhiều. Các công trình,
bài viết về vai trò của quần chúng nhân trong lịch sử nói chung, trong các lĩnh
vực cụ thể của đờì sống xã hội nói riêng, trong đó có lĩnh vực bảo vệ an ninh
tổ quốc khá phong phú, song chủ yếu tập trung vào ba nhóm chính:
Thứ nhất, những công trình, bài viết mang tính định hướng về thế giới
quan và phương pháp luận, liên quan đến vai trò của quần chúng nhân dân
trong các tác phẩm của các nhà kinh điển chủ ngh
ĩa Mác – Lênin, của Hồ Chí
Minh, các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Có thể nói, vấn đề vai trò
của quần chúng nhân dân chiếm vị trí quan trọng trong các tác phẩm của các
nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin. Ngay từ bài viết Lời nói đầu cho tác
phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen (tháng Chạp 1843
– tháng Giêng 1844), C. Mác Viết: “… Lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh
đổ bằng l
ực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật
chất, một khi nó xâm nhập vào quần chúng” [61, tr.580]. Các thời kỳ của sự
phát triển triết học Mác, giai đoạn Mác – Ăngghen, đều đề cập đến vai trò của
quần chúng nhân dân. Gia đình thần thánh (1845), Hệ tư tưởng Đức (1846), 5
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848). Tiếp đó các bài viết thời kỳ cách
mạng tư sản với các tác phẩm chủ yếu của Mác như “Đấu tranh giai cấp ở
Pháp”, “Ngày 18 tháng Sương mù của Lui Bônapáctơ”, “Nội chiến ở Pháp”,
“Phê phán Cương lĩnh Gôta” cho thấy tính tiên phong, vai trò cách mạng của
giai cấp công nhân - bộ phận đông đảo nhất trong quần chúng nhân dân. Đến
những tác phẩm của Ph. Ăngghen (Vấn đề nhà nước, cách m
ạng xã hội,
chuyên chính vô sản…) đều khẳng định vai trò của quần chúng nhân dân
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng khẳng định “Đại đoàn kế
t toàn dân tộc là
đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh, động lực
chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [28, 48]
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo và phát triển
chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện cách mạng Việ
t Nam. Quan điểm về
vai trò của quần chúng nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác lập trong
quá trình hoạt động cách mạng, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập
dân tộc, bảo vệ tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ở Hồ Chí Minh, những
tư tưởng về vai trò của quần chúng nhân dân được Người nói đến rất nhiều
các bài viết, bài nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ, đồng bào và được tậ
p hợp
trong “Hồ Chí Minh toàn tập” Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội -
2000). Điển hình là các tập 2, bài “Công nhân quốc tế”, “Quốc tế ca”; tập 5,
bài “Dân vận”; tập 6, “Bài nói chuyện tại Trường Công an trung cấp khóa 2
năm 1951”, “Bài nói tại Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất ngày 24-6-
1952 ”; tập 8, “Bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa II Trường Đại
học nhân dân Việt Nam ngày 08-12-1956”; tập 11, “Bài nói chuyện tại Hội
nghị cán bộ
Ngành Công an ngày 19-4-1963”; tập 12, “Bài nói với cán bộ tỉnh
Hà Tây ngày 10-02-1967”. Trong những bài viết của Người, sự kết hợp chủ
nghĩa yêu nước truyền thống và chủ nghĩa Mác - Lênin, độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội đã được làm sáng tỏ trên cơ sở khẳng định sức mạnh vô song
của quần chúng nhân dân.
Lê Duẩn với tác phẩm “Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”
(Nhà xuất bả
n Sự thật, Hà Nội 1976); Trường Chinh với “Cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân ở Việt Nam” (Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1975); Đỗ
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005) những nguyên tắc của tư tưởng đại đoàn kết
của Hồ Chí Minh được đề cập đến hết sức cụ thể và sâu sắc. Tác giả đã chứng
minh rằng: chính sự vận dụng linh hoạt và nhuần nhuyễn những quan điểm cơ
bản, những giải pháp và nguyên tắc của tư tưởng đại đoàn kết c
ủa Hồ Chí 8
Minh một cách sáng tạo trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã
góp phần quyết định thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân,
là điều kiện của việc đưa cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tác phẩm “Dân chủ - di sản văn hóa Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn
Khắc Mai (Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội - 1997) đ
ã hệ thống hóa tư tưởng
dân chủ của Hồ Chí Minh và trình bày tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh trong
một số lĩnh vực thực tiễn. Tác giả cho rằng làm theo tư tưởng của Người sẽ đạt
được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
Trong những năm qua Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính
sách nhằm phát huy vai trò quần chúng nhân dân trong xây dựng thế trận
Quốc phòng toàn dân nói chung và bảo v
ệ an ninh tổ quốc nói riêng. Ngành
Công an cũng luôn xác định vai trò quần chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo
vệ an ninh tổ quốc là một lực lượng hùng hậu, hết sức to lớn. Từ trước đến
nay cũng đã có một số đề tài khoa học, bài viết trên các báo, tạp chí về vai trò
của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc.
Sách “Cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ,
Công an nhân dân làm nòng cốt trong sự
nghiệp bảo vệ an ninh chính trị và
giữ gìn trật tự an toàn xã hội ở nước ta hiện nay” (Nhà xuất bản Công an nhân
dân, Hà Nội - 2000) khẳng định: đảm bảo an ninh chính trị và giữ gìn trật tự
Đồng Nai, tác giả đã đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
đảm bảo trật tự an toàn xã hội tại khu công nghiệp tập trung Biên Hòa – Đồng
Nai, trong đó có giải pháp về công tác vậ
n động nhằm phát huy vai trò của
quần chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc.
Nguyễn Văn Dựt, “Hoạt động phòng ngừa và điều tra tội phạm xâm
phạm về trật tự xã hội ở các khu công nghiệp theo chức năng của lực lượng
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Bình Dương”
(Luận văn Thạc sĩ luật học, nă
m 2006). Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng tình
hình hoạt động phòng ngừa và điều tra tội phạm xâm phạm về trật tự xã hội ở
các khu công nghiệp theo chức năng của lực lượng Cảnh sát quản lý hành
chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Bình Dương, tác giả Nguyễn Văn Dựt rút 10
ra nguyên nhân của những hạn chế và đề ra các giải pháp khắc phục, trong đó
có giải pháp về công tác vận động quần chúng nhân dân tham gia phong trào
toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc.
Nguyễn Văn Khánh, “Những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
dân vận của Công an tỉnh Đồng Nai”, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Nâng cao
chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của lực lượng Công an nhân dân, (Bộ
Công an, Hà Nội – 2007. Tác giả đã nêu lên đặ
c điểm tình hình, thực trạng và
những giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác dân vận của Công an tỉnh
Đồng Nai góp phần bảo vệ an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Lê Đông Phong, “Công tác dân vận của Công an thành phố Hồ Chí
Minh – thực trạng và giải pháp”, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác dân vận của lực lượng Công an nhân dân, (Bộ Công
an, Hà Nội – 2007. Tác giả đã nêu lên đặ
Nam bộ hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Mụ
c đích của luận án
Từ việc phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của
quần chúng nhân dân trong lịch sử, sự vận dụng của Hồ Chí Minh và Đảng
Cộng sản Việt Nam về vai trò của quần chúng nhân dân vào sự nghiệp bảo vệ
an ninh tổ quốc, luận án làm rõ thực trạng vai trò của quần chúng nhân dân
trong sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc tại vùng Đông Nam bộ. Đồ
ng thời đề ra
phương hướng và những giải pháp cơ bản phát huy vai trò của quần chúng
nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc vùng Đông Nam bộ hiện nay.
- Nhiệm vụ của luận án
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:
Phân tích những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò
của quần chúng nhân dân trong lịch sử,
sự vận dụng của Hồ Chí Minh và
Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử
vào sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc, đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới hiện
nay; vấn đề lý luận về vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo
vệ an ninh tổ quốc. 12
Nghiên cứu những điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội và an ninh trật tự,
sự tác động của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa ảnh hưởng đến vai trò của
quần chúng nhân dân bảo vệ an ninh tổ quốc ở vùng Đông Nam Bộ. Làm rõ
những thành quả, hạn chế và những nguyên nhân cơ bản vai trò của quần
chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc vùng Đông Nam bộ.
Nêu ra ph
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn cửa luận án
Về mặt lý luận, luận án góp phần làm rõ một cách có hệ thống lý luận
của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng
sản Việt Nam v
ề vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, và vận dụng
vào sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc, đặt biệt là trong sự nghiệp đổi mới, quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Về mặt thực tiễn, luận án đã làm rõ thực trạng vai trò quần chúng nhân
dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc ở vùng Đông Nam bộ, chỉ ra
những thành quả, những hạn chế và nguyên nhân,
đề ra phương hướng và
những giải pháp nhằm phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong sự
nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc vùng Đông Nam bộ hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung của luận án được kết cấu thành 3 chương, 9 tiết.
14
Chương 1
15
điều nữa?” “Bỏ lương thực vì từ trước đến nay nếu thiếu cái ăn chỉ đói chứ
không mất nước, còn nếu thiếu lòng tin của dân thì sớm muộn chính quyền sẽ
sụp đổ” (Luận ngữ, Nhan Uyên) [Dẫn lại 17, tr.59]. Kế thừa tư tưởng của
Khổng Tử, Mạnh Tử cho rằng: “quần chúng nhân dân lao động có vai trò hết
sức quan trọng đối với sự t
ồn vong, thịnh suy của một đất nước. Thậm chí,
ông còn cho rằng, dân còn quý hơn cả vua chúa và xã tắc. Ông nói: “Dân vi
quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Mạnh Tử, Tận tâm hạ) [Dẫn lại 17,
tr.245]. Đây là tư tưởng nổi bật trong quan điểm “Dân vi bang bản” của Nho
giáo. Hiểu một cách chung nhất luận điểm trên của Mạnh Tử là trong xã hội
không có dân là không có xã tắc, không có nước sẽ không có vua, cho nên
việc của dân, lợi ích của dân phải được đặ
t lên hàng đầu.
“Dân là gốc nước”, “nước lấy dân làm gốc” vốn là tư tưởng trong quan
niệm của Nho giáo, được cha ông ta tiếp thu và sử dụng trong quá trình dựng
nước và giữ nước. Mặc dù vậy, tư tưởng “dân vi bang bản” của Nho giáo xét
đến cùng, về mặt bản chất thì chỉ xem dân là phương tiện của nước. Nước
trong khái niệm của Nho giáo, là nhà riêng của vua, của giai cấp thống trị; dân
là những “thần dân”, kẻ hạ tiệ
n nghèo khổ, dốt nát được sinh ra để làm bầy tôi
phụng sự cho “thiên tử” (vua - con trời) chứ không có quyền lợi gì cả. Như
vậy, dân chỉ là công cụ lợi dụng của giai cấp thống trị. Có thể nói rằng Khổng
– Mạnh đã có cách nhìn nhận tích cực về “dân”, đây là điều đáng ghi nhận.
Song, do lập trường giai cấp và bị hoàn cảnh lịch sử chi phối, Khổng - Mạnh
chưa thể
thấy được dân là lực lượng quyết định sự phát triển của lịch sử. Xuất
phát từ tư tưởng đạo đức Nho giáo là phụng sự nhà vua, coi dân chỉ là phương
coi đây là ý Trời, là thiêng liêng, là quyền uy mạnh mẽ, sáng láng, công minh,
to lớn, bền lâu. “kiêm ái” là cái thực của nhân, là nội dung của ngh
ĩa. Mặc Tử
chủ trương tiết dụng, tiết táng, phi nhạc, phi công. Tất cả những điều trên xuất
phát từ tư tưởng kiêm ái của ông.
Học thuyết kiêm ái của Mặc Tử đề cao tính chủ động trong tình thương.
Thực ra đó chỉ là nguyện vọng tốt lành đáng kính của ông mà thôi. Mặc dù
vậy vẫn có thể khẳng định rằng tư tưởng kiêm ái của Mặc Tử là s
ự thể hiện
tinh thần dân chủ bình đẳng sơ khai và chủ nghĩa vị tha trong triết học của 17
ông phản ánh ước mơ sâu sắc không chỉ của Mặc Tử mà còn là nguyện vọng
của đại đa số tầng lớp nhân dân lao động Trung Quốc thời bấy giờ. Ông còn
thấy được sức mạnh của quần chúng nhân dân trong xã hội qua học thuyết
thượng đồng của ông. Đó là sự tồn tại và phát triển của xã hội là một thể
thống nhất, sự thống nhất ấ
y không chỉ nằm ở tầng lớp thống trị mà là sự
thống nhất của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Những tư tưởng thân dân,
tiếp cận với tư tưởng dân chủ của Mặc tử có tính chất nguyên sơ nhưng đã
góp phần quan trọng vào chủ trương cải cách xã hội, cải thiện đời sống nhân
dân lao động và sự nhận thức đánh giá đúng vai trò của qu
ần chúng nhân dân
trong quá trình phát triển xã hội.
Nói đến triết học phương Đông không thể không nói đến triết học Ấn
Độ. Đó là một trong những chiếc nôi triết học lâu đời, phong phú và tương
đối đặc biệt của nhân loại. Những học thuyết triết học nghiên cứu hầu hết các
lĩnh vực, cố gắng vạch ra bản chất của thế giới, thực chất bản tính của con
người và sự tương ứng, tương đồng giữa nội tâm và ngoại giới, tìm con đường