ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Từ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin
về vai trò của quần chúng nhân dân
đến tư tưởng “Lấy dân làm gốc”của Hồ Chí Minh
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn:
Th.S. Hoàng Ngọc Vĩnh
Sinh viên thực hiện:
Đàm Thị Thu Liễu
HUẾ, 05/2010
1
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo
trong khoa Lý luận chính trị, những người đã dạy dỗ, cung cấp
kiến thức cho em trong suốt khóa học.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo,
Th.S Hoàng Ngọc Vĩnh đã trực tiếp giúp đỡ, hướng dẫn tận tình,
ân cần bảo ban để em hoàn thành khóa luận này.
Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ động viên
trong suốt thời gian vừa qua.
Do hạn chế về thời gian và kiến thức nên khóa luận này sẽ
không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự quan
tâm, góp ý của quý thầy cô giáo và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 05 năm 2010
Sinh viên
Đàm Thị Thu Liễu
2
MỤC LỤC
trong điều kiện mới của lịch sử dân tộc với tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc”.
Quan điểm này có trong Nho giáo từ thế kỷ IV TCN. Ở Việt Nam, tư
tưởng này xuất hiện từ Trần Hưng Đạo. Đến thế kỷ XV nó được Nguyễn Trãi
mở rộng và hoàn thiện thêm, và sau này được nhiều nhà tư tưởng Việt Nam
không ngừng hoàn thiện: Lê Thánh Tông, Minh Mạng, Phan Bội Châu, v.v.
Hồ Chí Minh sau ngần 40 năm bôn ba nước ngoài và trực tiếp lãnh đạo
cách mạng Việt Nam, Người nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn chân lý “Nước
lấy dân làm gốc” mà khẳng định: “Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng
lợi trên nền nhân dân”[15; 410]. Trong rất nhiều bài nói, bài viết, Hồ Chí
Minh luôn coi “Dân là gốc của nước, nước lấy dân làm gốc”.
Vì vậy, việc nghiên cứu vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trong
triết học Mác-Lênin, đến tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh là hết
sức cần thiết. Trên cơ sở đó chúng ta hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn về vai trò của
quần chúng nhân dân trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay và tương
lai.
Xuất phát từ nhận thức đó, tôi mạnh dạn chọn vấn đề: “Từ quan điểm
của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân đến tư
tưởng “Lấy dân làm gốc”của Hồ Chí Minh” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
của mình.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu của đề tài
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần chúng nhân
dân và bài học “Lấy dân làm gốc” là vấn đề đã được khá nhiều tác giả nghiên
cứu dưới các góc độ khác nhau.
4
Quan điểm triết học Mác-Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân
và cá nhân trong lịch sử được trình bày trong các giáo trình, các bài giảng
môn triết học Mác-Lênin và những tài liệu khác nhau, đặc biệt là các Giáo
trình triết học Mác-Lênin dùng trong các trường Cao đẳng, Đại học do Bộ
giáo dục và đào tạo biên soạn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, phát hành từ
năm 1992 đến nay.
nhân dân như thế nào.
Chỉ rõ ý nghĩa của vấn đề này trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng và
phương pháp luận biện chứng duy vật; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của quần chúng nhân dân.
Các phương pháp nghiên cứu của đề tài là: phương pháp phân tích-tổng
hợp, phương pháp logic-lịch sử, phương pháp đối chiếu-so sánh, v.v.
5. Đóng góp của đề tài
Khóa luận là một công trình nghiên cứu ở trình độ cử nhân. Vì vậy, tác
giả chỉ mong rằng được góp phần của mình vào việc làm rõ tư tưởng Hồ Chí
Minh về “Lấy dân làm gốc” đã kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân như thế nào.
Ngoài ra kết quả nghiên cứu của đề tài còn có thể làm tài liệu học tập,
tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
khóa luận gồm 2 chương 4 tiết:
Chương1: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần
chúng nhân dân.
1.1. Quần chúng nhân dân, nhân tố quyết định lịch sử
1.2. Khái niệm và vai trò của vĩ nhân-lãnh tụ trong lịch sử
Chương 2: Tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh.
2.1. Cơ sở hình thành tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh
6
2.2. Nội dung tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh và ý nghĩa
của nó trong giai đoạn hiện nay
7
NỘI DUNG
Chương 1
chúng nhân dân, cá nhân, vĩ nhân, anh hùng, lãnh tụ, về vai trò của quần
chúng nhân dân và vĩ nhân-lãnh tụ trong lịch sử.
Quần chúng nhân dân là khái niệm mang tính lịch sử, gắn với những
hình thái kinh tế-xã hội nhất định. Trong bất cứ giai đoạn phát triển nào, quần
chúng nhân dân đều được xác định bởi: Những người lao động sản xuất ra của
cải vật chất, đây là bộ phận hạt nhân của quần chúng nhân dân; Bộ phận dân
cư chống lại những lực lượng xã hội phản động ngăn cản sự tiến bộ xã hội;
Những giai cấp, những tầng lớp xã hội thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.
Khái niệm quần chúng nhân dân có sự thay đổi và phát triển trong lịch
sử, gắn liền với từng giai đoạn lịch sử, với những hình thái kinh tế-xã hội nhất
định, do đó nó là một phạm trù lịch sử. Căn cứ vào điều kiện lịch sử xã hội và
những nhiệm vụ đặt ra của mỗi thời đại mà quần chúng nhân dân bao hàm
những thành phần, những giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau, chứ không
phải toàn bộ mọi người trong xã hội. Quần chúng nhân dân thay đổi theo lịch
sử, có thể trong giai đoạn lịch sử này họ là quần chúng nhân dân nhưng trong
giai đoạn khác họ không phải là quần chúng nhân dân nữa. Nhưng trong bất
kỳ giai đoạn nào của lịch sử quần chúng nhân dân cũng đều được xác định bởi
các nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất: những người lao động sản xuất ra của cải vật chất và của
cải tinh thần cho xã hội, đây là lực lượng hạt nhân cơ bản của quần chúng
nhân dân, do đó thường có tên gọi là quần chúng nhân dân lao động.
Quần chúng nhân dân không phải tất cả các giai cấp, tầng lớp trong
xã hội, mà nó là bộ phận đông đảo của xã hội, trước hết là người lao động
sản xuất của cải vật chất và của cải tinh thần cho xã hội, là nhân tố quyết định
sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Ngày nay, lực lượng lao động cơ
bản của thời đại là giai cấp công nhân.
Chính nguời lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, đã
sáng tạo ra lịch sử xã hội loài người. Với sức mạnh về vật lực và trí lực của
9
mình người lao động đã tác động vào giới tự nhiên, cải tạo các dạng vật chất
Ngày nay, quần chúng nhân dân bao gồm toàn bộ lực lượng tiến bộ của
nhân loại, trong đó lực lượng cơ bản là giai cấp công nhân và nhân dân lao
động, đoàn kết đấu tranh phấn đấu thực hiện cho các mục tiêu cơ bản của thời
đại: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Như vậy, quần chúng nhân dân là bộ phận có cùng chung lợi ích cơ bản
gắn liền với một hình thái kinh tế-xã hội nhất định, bao gồm những thành
phần, những tầng lớp và những giai cấp, liên kết lại thành tập thể dưới sự lãnh
đạo của một cá nhân, tổ chức hay đảng phái nhằm giải quyết những vấn đề
kinh tế, chính trị, xã hội của một thời đại nhất định.
Thực chất quần chúng nhân dân là sự liên kết những cá nhân thành một
khối thống nhất được xây dựng trên cơ sở nền tảng là lợi ích cơ bản nhằm
thực hiện những nhiệm vụ lịch sử đặt ra. Do đó quần chúng nhân dân là một
phạm trù lịch sử, vận động và biến đổi theo sự phát triển của lịch sử xã hội.
1.1.2. Vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử
Con người sáng tạo ra lịch sử, song vai trò quyết định đối với sự phát
triển xã hội là ở một cá nhân đặc biệt hay quần chúng nhân dân đông đảo?.
Trước khi chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời, các trường phái triết học trước
Mác đều chưa nhận thức được vai trò của quần chúng nhân dân. Tư tưởng tôn
giáo và chủ nghĩa duy tâm cho rằng mọi sự thay đổi trong lịch sử xã hội là do
ý chí của đấng tối cao, do mệnh trời tạo nên và trao quyền cho các cá nhân
thực hiện, lịch sử chỉ còn là lịch sử của cá nhân lãnh đạo, nắm quyền lực cùng
với tư tưởng của họ, quần chúng nhân dân chỉ là vật mang công cụ thực hiện
tư tưởng của các “đấng bề trên” mà thôi. Chủ nghĩa duy vật trước Mác vẩn
chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm về xã hội, khi cho rằng nhân tố quyết định
sự phát triển của xã hội là tư tưởng, đạo đức, là các vĩ nhân và chỉ có họ mới
sớm nhận thức được chân lý vĩnh cửu. Khi đề cao vai trò quần chúng nhân
dân, thì lại phủ nhận vai trò vĩ nhân hoặc không lý giải được một cách khoa
học vai trò quần chúng nhân dân.
Với sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chứng minh một cách
khoa học vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử và xác định đúng đắn
hiểu biết về giới tự nhiên, cải tiến kỹ thuật sản xuất, công cụ sản suất, cải tiến
12
tổ chức quản lý nâng cao năng suất lao động. Nghĩa là không ngừng phát triển
lực lượng sản xuất. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn tới sự
thay đổi của quan hệ sản xuất cho phù hợp. Điều đó cũng làm cho phương
thức sản xuất của xã hội thay đổi và phát triển.
Lao động sản xuất ra của cải vật chất của quần chúng nhân dân là
yêu cầu khách quan của sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Quá
trình sản xuất vật chất, chế tạo và cải biến công cụ lao động là hoạt động
của toàn bộ xã hội chứ không phải của một cá nhân. Lực lượng sản xuất
cơ bản là đông đảo quần chúng nhân dân lao động bao gồm lao động chân
tay và lao động trí óc. Người ta chỉ có thể sản xuất được bằng cách hợp
tác với nhau theo một cách nào đó và trao đổi hoạt động với nhau.
Thực tiễn sản xuất của loài người, của quần chúng nhân dân là cơ sở và
là động lực, phát triển của khoa học-kỹ thuật. Khoa học không có lý do tồn tại
nếu không có hoạt động sản xuất. C.Mác, Ph.Ăngghen đã từng nói: “Chính
con người khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình
đã làm biến đổi cùng với sự tồn tại của mình cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy
của mình”[12; 277].
Đến lượt nó khoa học lại thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất
lao động. Khoa học-kỹ thuật cũng không hoạt động riêng lẻ của một số cá
nhân nào. Ngày nay, nhân dân lao động trước hết là giai cấp công nhân và đội
ngũ trí thức là lực lượng cơ bản của nền sản xuất hiện đại, trí tuệ cao. Nền sản
xuất xã hội sẽ sa sút, kém hiệu quả nếu tài năng trí tuệ, năng suất lao động của
đông đảo những người lao động không được phát huy, không được nâng cao.
Trong trường hợp đó khoa học cũng khó phát triển. Đó là cơ sở để khẳng định
hoạt động sản xuất của quần chúng là điều kiện cơ bản để quyết định sự tồn
tại và phát triển của xã hội.
Thứ hai: quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách
mạng xã hội.
Cách mạng là sự nghiệp của bản thân quần chúng, không có sự
tham gia tích cực của đông đảo quần chúng nhân dân thì không thể có
những chuyển biến cách mạng trong lịch sử. Các cuộc cách mạng xã hội
14
trong lịch sử đã chứng tỏ rằng sự chuyển biến từ chế độ xã hội này sang
chế độ xã hội khác, là sự nghiệp cách mạng của quần chúng nhân dân.
Ngay cả trong thời kỳ hòa bình, tức khi cuộc đấu tranh giai cấp của
quần chúng nhân dân chống lại bọn thống trị áp bức, bóc lột chưa chuyển
thành cách mạng xã hội, quần chúng nhân dân cũng có tác dụng thúc đẩy mọi
lĩnh vực đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ
thuật, phát triển. Không những thế nó còn có tác dụng cải tạo ngay chính cả
bản thân giai cấp cách mạng.
Chính vì vậy, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân là ngày
hội của quần chúng nhân dân, là động lực của những biến cố lịch sử.
Thứ ba: quần chúng nhân dân chính là người sáng tạo ra những giá
trị văn hóa, tinh thần.
Quần chúng nhân dân chẳng những đóng vai trò quyết định trong sản
xuất vật chất, trong cách mạng xã hội, mà còn đóng vai trò vô cùng to lớn
trong sự nghiệp phát triển văn học, nghệ thuật, khoa học, đồng thời áp dụng
những thành tựu đó trong hoạt động thực tiễn. Những sáng tạo về văn học,
nghệ thuật, xã hội, y học, quân sự, kinh tế, chính trị, đạo đức của nhân dân
vừa là cội nguồn, vừa là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển nền văn hóa tinh
thần của các dân tộc trong mọi thời đại. Hoạt động của quần chúng nhân dân
từ trong thực tiễn là nguồn cảm hứng vô tận cho mọi sáng tạo tinh thần trong
đời sống xã hội. Mặt khác, các giá trị văn hóa tinh thần chỉ có thể trường tồn
khi được đông đảo quần chúng nhân dân chấp nhận và truyền bá sâu rộng, trở
thành giá trị phổ biến.
Nói về vai trò quần chúng nhân dân trong sáng tạo nghệ thuật,
Hồ Chí Minh nhận định: “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là
những người sáng tạo. Nhưng, quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra những
Dưới chủ nghĩa xã hội, quần chúng nhân dân thực sự trở thành
chủ thể sáng tạo và hưởng thụ những của cải tinh thần. Chủ nghĩa xã hội
một mặt đã tạo ra được những điều kiện khách quan về kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội, mà trước hết là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất,
nhân tố đóng vai trò quyết định đảm bảo cho quần chúng nhân dân trở
16
thành người làm chủ xã hội nói chung và chủ thể sáng tạo, hưởng thụ
những của cải tinh thần nói riêng, đời sống của quần chúng nhân dân
không ngừng được cải thiện và nâng cao nói chung, đặc biệt là trình độ
văn hóa, khoa học-kỹ thuật. Mặt khác chủ nghĩa xã hội còn đòi hỏi quần
chúng nhân dân phải thực sự là chủ thể của những của cải tinh thần, phải
đem hết khả năng, lòng nhiệt tình, tính tự giác của mình để sáng tạo và
hưởng thụ những của cải tinh thần đó.
Tóm lại, xét từ góc độ kinh tế-chính trị, từ thực tiễn đến tinh thần tư
tưởng thì quần chúng nhân dân luôn đóng vai trò quyết định trong lịch sử.
Từ khẳng định vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch
sử, thì một trong những nội dung quan trọng của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai
trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng vô sản là “Liên minh công-
nông”.
Khi tổng kết thực tiễn phong trào công nhân ở Châu Âu, nhất là Anh,
Pháp cuối thế kỷ XIX, C.Mác và Ăngghen đã khái quát thành lý luận về liên
minh công-nông và các tầng lớp lao động khác. Các ông đã chỉ ra nguyên
nhân chủ yếu của thất bại trong các cuộc đấu tranh là do giai cấp công nhân
không tổ chức được mối liên minh với “người bạn đồng minh tự nhiên” của
mình là giai cấp nông dân. Do vậy, trong các cuộc đấu tranh này giai cấp công
nhân luôn đơn độc và cuộc cách mạng vô sản này đã trở thành “bài ca ai
điếu”.
Để thực hiện khẳ năng đưa cách mạng tư sản vượt qua mục tiêu ban
đầu của nó tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thì giai cấp công nhân phải
thực hiện được sự liên minh với giai cấp nông dân và các tầng lớp tiểu tư sản
điều kiện để giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo. Đó chính là tính tất yếu
về mặt chính trị-xã hội, là yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng vô sản.
Vậy, để giai cấp công nhân - là đội tiên phong, là người lãnh đạo
quần chúng nhân dân - hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội, tất yếu phải liên minh công-nông.
18
Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước, đương nhiên sự liên minh
giữa các giai cấp về chính trị cũng rất cần thiết, nhằm cũng cố và xây dựng
chính quyền cách mạng. Nhưng sự liên minh về kinh tế mới là chủ yếu, ngay
liên minh chính trị cũng cần được cũng cố trên cơ sở kinh tế, Lênin đã nói:
“lúc này chính trị ngay trong kinh tế”.
Lênin còn chỉ ra cách mạng chủ nghĩa xã hội ở một nước mà số đông
nhân dân là nông dân thì chỉ có thể giành thắng lợi với điều kiện có sự thỏa
thuận về kinh tế giữa giai cấp công nhân và nông dân lao động. Theo Lênin,
liên minh công - nông - trí cần được bảo đảm vững chắc về kinh tế, không
phải chỉ trên cơ sở tôn trọng quyền sử dụng ruộng đất của nông dân, mà phải
trên cơ sở mới. Đó là tạo điều kiện cho sản xuất công nghiệp và nông nghiệp
phát triển, thực hiện giao lưu sản phẩm hàng hóa giữa thành thị và nông thôn,
đảm bảo đời sống của quần chúng công - nông - trí thức. Do đó vai trò của thị
trường, thương nghiệp, quan hệ hàng hóa - tiền tệ, giao thông vận tải trở nên
cực kỳ quan trọng.
Liên minh công - nông - trí hợp thành đội quân chủ lực hùng mạnh làm
hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân, không những đảm bảo vai trò lãnh
đạo của các giai cấp công nhân và giữ vững chính quyền cách mạng mà xét
đến cùng còn là yếu tố có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của một nước.
Trong khối liên minh ấy, giai cấp nông dân là người bạn đồng hành chiến
lược của giai cấp công nhân trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa cộng sản. Thực tế lịch sử chứng minh rõ mọi khuynh hướng coi thường
hoặc phủ nhận vai trò của lực lượng xã hội to lớn này, không quan tâm đầy đủ
đến việc xây dựng, cũng cố khối liên minh công - nông trong các giai đoạn và
ngẫu nhiên. Nhưng nếu chúng ta phế bỏ người ấy đi, thì lại xuất hiện sự đòi
hỏi phải có một người khác thay thế và người thay thế này sẽ xuất hiện thích
hợp ít hay nhiều nhưng cuối cùng thì cũng xuất hiện”[8; 626].
Nhận định trên đây nói lên rằng các nhà sáng lập chủ nghĩa duy vật lịch
sử không hề coi nhẹ mà ngược lại các ông đã đánh giá rất cao vai trò của cá
nhân kiệt xuất, lãnh tụ sáng suốt.
Khái niệm lãnh tụ
20
Lãnh tụ là vĩ nhân, nhưng đồng thời là người dẫn dắt, định hướng cho
hoạt động của dân tộc, của quần chúng nhân dân. Phẩm chất cơ bản của lãnh
tụ là: Có tri thức khoa học uyên bác, nắm bắt được xu hướng vận động của
dân tộc, quốc tế và thời đại; Có khả năng tập hợp quần chúng nhân dân, thống
nhất ý chí và hành động của họ hướng vào nhiệm vụ cụ thể của dân tộc hoặc
của thời đại; Hy sinh quên mình cho lợi ích của dân tộc, quốc tế và thời đại.
Các phẩm chất cơ bản của lãnh tụ gồm có:
Một là: có tri thức khoa học uyên bác nắm bắt được xu thế vận động
của dân tộc, quốc tế và thời đại.
Hai là: có năng lực tập hợp quần chúng nhân dân, thống nhất ý chí
và hành động của quần chúng nhân dân vào nhiệm vụ của dân tộc, quốc tế
và thời đại.
Ba là: gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, nguyện hy sinh quên
mình vì lợi ích của dân tộc, quốc tế và thời đại.
Bất cứ một thời kỳ nào, một dân tộc nào nếu lịch sử đặt ra những nhiệm
vụ cần giải quyết thì từ trong phong trào quần chúng nhân dân, tất yếu sẽ xuất
hiện những lãnh tụ đáp ứng yêu cầu của lịch sử. Lênin viết: “Trong lịch sử,
chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu không đào tạo
được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị những đại biểu tiên phong
có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo”[5; 487-488].
1.1.2. Vai trò của vĩ nhân-lãnh tụ
hướng khánh quan của nó.
Vai trò của cá nhân anh hùng, lãnh tụ được thể hiện nổi bật trong những
thời điểm cấp bách của lịch sử, khi lịch sử đặt ra cho một giai cấp, một dân tộc
phải giải quyết những tình huống khó khăn và phức tạp để tiếp tục tiến lên, nhất
là trong thời kỳ cách mạng. Lúc này sự sáng suốt, tỉnh táo của lãnh tụ có một tác
dụng hết sức quan trọng đối với diễn biến của tình hình. Đặc biệt với phong trào
cách mạng của giai cấp công nhân và các tầng lớp bị áp bức bóc lột khác, nhằm
thủ tiêu các chế độ tư hữu xây dựng nên một xã hội mới, dựa trên nền tảng chế
độ công hữu thì vai trò tổ chức, lãnh đạo của vĩ nhân-lãnh tụ lại càng quan trọng.
Nếu không có sự lãnh đạo của Đảng Mác-Lênin và lãnh tụ xuất sắc nhất của
22
Đảng có nhiều kinh nghiệm và nhận thức đúng đắn quy luật khách quan, thì nhất
định sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản không thể thắng lợi. V.I.Lênin
viết: “Trong lịch sử chưa hề có giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu như
nó không đào tạo ra được hàng ngũ của mình, những lãnh tụ chính trị, những đại
diện tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”[8; 626].
Trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân, vĩ nhân-lãnh tụ có nhiệm
vụ chủ yếu sau:
* Nắm bắt xu thế của dân tộc, quốc tế và thời đại trên cơ sở hiểu biết
những quy luật khách quan của các quá trình kinh tế, chính trị, xã hội.
* Định hướng chiến lược và hoạch định chương trình hành động cách
mạng.
* Tổ chức lực lượng, giáo dục thuyết phục quần chúng thống
nhất ý chí và hành động của quần chúng nhân dân nhằm hướng vào giải quyết
mục tiêu cách mạng đề ra.
Từ nhiệm vụ trên thì vĩ nhân-lãnh tụ có vai trò to lớn đối với phong
trào quần chúng như sau:
Một là: thúc đẩy hoặc kìm hãm sự tiến bộ xã hội.
Hai là: là người sáng lập ra các tổ chức chính trị-xã hội, là linh hồn của
các tổ chức đó. Là người tổ chức, điều khiển, quản lý và có vai trò ảnh hưởng
yêu và ủng hộ thì cá nhân đó cho dù có tài năng đến đâu cũng không còn gây
được ảnh hưởng, mà làm cản trở tiến trình lịch sử.
Sở dĩ, những vĩ nhân-lãnh tụ, anh hùng phát huy được tác dụng tích
cực đối với lịch sử, là nhờ hoạt động của họ gắn với tiến trình xã hội, phù hợp
với nguyện vọng và lợi ích của quần chúng. Nhờ đó, họ tập hợp được quần
chúng, động viên được quần chúng. Hết sức hết lòng vì lợi ích của quần
chúng nhân dân, dám hy sinh bản thân mình vì tập thể, vì nhân dân mà vĩ
nhân-lãnh tụ được quần chúng nhân dân ra sức ủng hộ. Như vậy, sức mạnh
của vĩ nhân-lãnh tụ không nằm ở đâu ngoài sức mạnh của quần chúng nhân
dân.
Giai cấp công nhân, quần chúng nhân dân lao động các dân tộc bị áp
bức trên thế giới vô cùng tự hào về những vị lãnh tụ thiên tài có đầy đủ năng
24
lực và phẩm chất lãnh đạo giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao
động làm cách mạng, đó là: C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin. Tên tuổi của
các vị lãnh tụ ấy mãi mãi gắn liền với phong trào cách mạng của thế giới và
thời đại.
Giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam còn
có thêm sự tự hào về vĩ nhân-lãnh tụ Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời gắn bó
với quần chúng nhân dân, có lòng thương yêu vô hạn đối với quần chúng
nhân dân. Ở Người đã kết tinh những phẩm chất tiêu biểu nhất của một lãnh
tụ vô sản, lãnh tụ dân tộc. Người là một vị anh hùng giải phóng dân tộc, một
danh nhân văn hóa thế giới.
Chủ nghĩa Mác-Lênin đánh giá rất cao vai trò của các vĩ nhân-lãnh tụ
anh hùng trong sự phát triển của lịch sử, đồng thời kiên quyết chống tệ sùng
bái vĩ nhân-lãnh tụ.
Tệ sùng bái vĩ nhân-lãnh tụ là thần thánh hóa vĩ nhân-lãnh tụ, người
lãnh đạo đi đến chỗ chỉ thấy vai trò của vĩ nhân-lãnh tụ quyết định tất cả, mà
không thấy hoặc coi nhẹ vai trò của quần chúng nhân dân.
Tệ sùng bái vĩ nhân-lãnh tụ sẽ dẫn đến những hạn chế hoặc tước bỏ