Lời mở đầu
Xây dựng và phát triển con ngời là mục tiêu cao cả nhất của toàn nhân loại.
Làn sóng văn minh thứ ba đang đa loài ngời tới một kỷ nguyên mới, mở ra bao
khả năng để loài ngời tìm ra những con đờng tối u đi tới tơng lai. Trong bối
cảnh đó, sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa càng làm cho các t tởng tự do
tìm kiếm con đờng khả quan nhất cho sự nghiệp phát triển con ngời Việt Nam
dễ đi đến phủ nhận vai trò và khả năng của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Trong thực tế, không ít ngời rẽ ngang đi tìm khả năng phát triển đó
trong chủ nghĩa t bản. Nhiều ngời trở về phục sinh và tìm sự hoàn thiện con
ngời trong các tôn giáo và hệ t tởng truyền thống. Có ngời lại sáng tạo ra
những t tởng, tôn giáo cho phù hợp hơn với con ngời Việt Nam hiện nay.
Song nhìn nhận lại một cách thật sự khách quan và khoa học sự tồn tại của
chủ nghĩa Mác-Lênin trong xã hội ta có lẽ không ai phủ nhận đợc vai trò u
trội và triển vọng của nó trong sự phát triển con ngời.
Trên cơ sở vận dụng khoa học và sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin về con
ngời, tại hội nghị lần thứ t của Ban chấp hành Trung ơng khoá VII, Đảng ta đã
đề ra và thông qua nghị quyết về việc phát triển con ngời Việt Nam toàn diện
cách là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới đồng thời là mục tiêu
của chủ nghĩa xã hội. Đó là con ngời phát triển cao về trí tuệ, cờng tráng về
thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức.
Xây dựng và phát triển con ngời Việt Nam toàn diện- đó cũng chính là
động lực, là mục tiêu nhân đạo của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
mà chúng ta đang từng bớc tiến hành. Bởi lẽ, lực lợng lao động nớc ta ngày
càng đóng vai trò quan trọng và quyết định trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội và trong sự phát triển nền kinh tế của đất nớc theo cơ chế thị trờng có sự
quản lý của nhà nớc định hớng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng đinh: Nâng cao dân trí, bồi dỡng
và phát huy nguồn lực to lớn của con ngời Việt Nam là nhân tố quyết định
thắng lợi cuả công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thực tiễn đã chứng tỏ
rằng không có ngời lao động chất lợng cao. Chúng ta không thể phát triển
kinh tế, đa nớc ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Nhng cũng chính vì nghèo
Con ngời trong quan niệm của các học thuyết tôn giáo phơng Đông đều phản
ánh sai lầm về bản chất con ngời, hớng con ngời tới thế giới thần linh. Khổng
Tử cho bản chất con ngời là do thiên mệnh chi phối quyết định, đức nhân
chính là giá trị cao nhất của con ngời, đặc biệt là ngời quân tử. Mạnh Tử quy
tính thiện của con ngời vào năng lực bẩm sinh, do ảnh hởng của phong tục, tập
quán xấu mà con ngời bị nhiễm cái xấu, xa rời cái tốt đẹp, vì vậy phải thông
qua tu dỡng rèn luyện để giữ đợc đạo đức của mình. Triết học Tuân Tử lại cho
rằng, bản chất con ngời khi sinh ra là ác, nhng có thể cải biến đợc, phải chống
lại cái ác ấy thì con ngời mới tốt đợc. Có thể nói rằng, Triết học phơng Đông
biểu hiện tính đa dạng và phong phú, thiên về con ngời trong mối liên hệ
chính trị, đạo đức. Nhìn chung, con ngời trong triết học phơng Đông biểu hiện
yếu tố duy tâm, có pha trộn tính chất duy vật chất phác ngây thơ trong mối
quan hệ với tự nhiên và xã hội.
1.1.2. Quan niệm về con ngời trong triết học phơng Tây trớc Mác
Lênin
Triết học phơng Tây trớc Mác Lênin biểu hiện nhiều quan niệm khác nhau
về con ngời:
Các trờng phái triết học tôn giáo phơng Tây, đặc biệt là Kitô giáo nhận
thức vấn đề con ngời trên cơ sở thế giới quan duy tâm thần bí.
Trong triết học Hy Lạp cổ đại, con ngời đợc xem là điểm khởi đầu của t
duy triết học. Prôtago, một nhà ngụy biện cho rằng con ngời là thớc đo của
vũ trụ. Quan niệm của Arixtôt về con ngời, theo ông chỉ có linh hồn, t duy, trí
nhớ, ý chí, năng khiếu nghệ thuật là làm cho con ngời nổi bật lên, con ngời là
thang bậc cao nhất của vũ trụ. Khi đề cao nhà nớc, ông xem con ngời là một
động vật chính trị. Nh vậy, triết học Hy Lạp cổ đại bớc đầu đã có sự phân
biệt con ngời với tự nhiên, nhng chỉ là hiểu biết bên ngoài về tồn tại con ngời.
Triết học Tây âu trung cổ xem con ngời là sản phẩm của Thợng đế sáng
tạo ra.
Triết học thời kỳ phục hng-cận đại đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lý tính
của con ngời, xem con ngời là một thực thể có trí tuệ. Tuy nhiên con ngời mới
học để không còn một sự liên hệ nào với tổ tiên của mình. Con ngời là sản
phẩm của tự nhiên, là kết quả của sự tiến hoá lâu dài của giới hữu sinh. Con
ngời tựu nhiên là con ngới sinh học mang bản tính sinh vật. Cái sinh học trong
con ngời quy định sự hình thành những hiện tợng và quá trình tâm lý trong
con ngời, là điều kiện quyết định sự tồn tại của con ngời. Chẳng hạn, đã là ng-
ời thì ai cũng phải trải qua các giai đoạn sinh trởng, tử vong, ai cũng phải có
nhu cầu ăn, mặc, ở, sinh hoạt, văn hoá, tình cảm, Song con ngời không phải
là động vật thuần tuý nh các động vật khác mà là một động vật có tính chất xã
hội với tất cả nội dung văn hoá-lịch sử của nó. Con ngời là sản phẩm của xã
hội, là con ngời xã hội, mang bản tính xã hội. Những yếu tố xã hội là tất cả
những quan hệ, những biến đổi xuất hiện do ảnh hởng của các điều kiện xã
hội khác nhau, những sự quy định về mặt xã hội tạo nên cá nhân con ngời.
Con ngời chỉ có thể tồn tại đợc một khi con ngời tiến hành lao động sản xuất
ra cảu cải vật chất thoả mãn nhu cầu sinh hoạt của mình. Chính lao động sản
xuất là yếu tố quyết định hình thành con ngời và ý thức. lAo động là nguồn
gốc tạo ra nền văn hoá vật chất và tinh thần. Mặt khác, trong lao động con ng-
ời quan hệ với nhau trong lĩnh vực sản xuất, đó là những quan hệ nền tảng để
từ đó hình thành các quan hệ xã hội khác trong các lĩnh vực của đời sống tinh
thần.
Chính vì con ngời là sản phẩm của tự nhiên và xã hội cho nên con ngời
chịu sự chi phối của môi trờng tự nhiên và xã hội cùng các quy luật biến đổi
của chúng. Các quy luật tự nhiên nh quy luật về sự phù hợp giữa cơ thể và môi
trờng, quy luật về quá trình trao đổi chất, tác động tạo nên phơng diên sinh
học của con ngời. Các quyluật tâm lý, ý thức hình thành và hoạt động trên nền
tảng sinh học của con ngời, hình thành t tởng, tình cảm, khát vọng, niềm tin và
ý chí. Các quy luật xã hội quy định mối quan hệ giữa ngời với ngời, điều
chỉnh hành vi của con ngời. Hệ thống các quy luật trên cùng tác động lên con
ngời tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh giữa cái sinh học và cái xã hội trong
con ngời.
Với t cách là con ngời xã hội, là con ngời hoạt động thực tiễn, con ngời
giới những con ngời, là nhà nớc, là xã hội. Ông cũng phê phán những quan
điểm mang tính chất thần linh trong triết học tôn giáo : Tôn giáo biến bản
chất con ngời thành tính hiện thực ảo tởng, vì bản chất của con ngời mang
tính hiện thực thực sự. Do đó, đấu tranh chống tôn giáo là gián tiếp đấu tranh
chống cái thế giới tinh thần mà lạc thú của nó là tôn giáo. Ông cho rằng tôn
giáo là thuốc phiện của nhân dân, là sự tha hóa của con ngời. Hay trong
Luận cơng về Phoiơbắc, Mác viết : Bản chất con ngời không phải là một
cái trừ tợng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản
chất con ngời là tổng hòa những quan hệ xã hội.
Một số ngời khi nói đến lý luận của Mác về con ngời chỉ nói đến câu:
Con ngời là tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Thực ra không phải chỉ có vậy
mà quan điểm của Mác về con ngời là một quan điểm toàn diện.
Mác và Ăngghen nhiều lần khẳng định lại quan điểm của những ngời đi
trớc rằng con ngời là một bộ phận của giới tự nhiên, là một động vật xã hội.
Nhng khác với họ, hai ông xem xét mặt tự nhiên của con ngời nh ăn, ngủ, đi
lại, yêu thích, không còn hoàn toàn mang tính tự nhiên nh ở con vật mà là đã
xã hội hoá. Ngay câu nói của Mác: Bản chất của con ngời không phải là một
cái trừu tợng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiên thực của nó bản
chất con ngời là tổng hoà những quan hệ xã hội cũng chỉ có nghĩa là khi xét
con ngời thì phải đặt nó trong xã hội, phải thấy đợc các quan hệ xã hội và lịch
sử đã tạo nên nó.
Cũng vì trong con ngời có hai mặt, mặt tự nhiên và mặt xã hội nên Mác
nhiều lần so sánh con ngời với con vật, so sánh con ngời với những con vật có
hành động gần giống con ngời nh con ong, để tìm ra sự khác biệt và Mác đã
chỉ ra sự khác biệt đó ở nhiều chỗ nh nói con ngời sống trong xã hội, con ngời
làm ra t liệu sinh hoạt của mình, con ngời biến đổi tự nhiên theo quy luật của
tự nhiên, con ngời là thớc đo của muôn loài, con ngời sản xuất ra công cụ sản
xuất, Luận điểm xem con ngời là sinh vật biết chế tạo ra công cụ sản xuất đ-
ợc xem là luận điểm tiêu biểu cho chủ nghĩa Mác về con ngời.
Luận điểm của Mác coi bản chất con ngời là tổng hoà các quan hệ xã
thân. Bởi vậy theo Mác, phát triển sản xuất vì sự nghiệp phồn vinh của xã
hội, vì cuộc sống tốt đẹp hơn cho mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội và
phát triển con ngời toàn diện là quả trình thống nhất để làm tăng thêm nền
sản xuất xã hội, để sản xuất ra những con ngời phát triển toàn diện. Và hơn
nữa Mác coi sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển sản xuất và phát triển con ng-
ời là một trong những biện pháp mạnh để cải biến xã hội.
Trong quan niệm của Mác, con ngời không chỉ là chủ thể của hoạt động
sản xuất vật chất, là yếu tố hàng đầu, yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực
lợng sản xuất của xã hội mà hơn nữa nó còn đóng vai trò là chủ thể hoạt động
của quá trình lịch sử. Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con ngời sáng
tạo ra lịch sử của mình, lịch sử của xã hội loài ngời. Từ quan niệm đó Mác
khẳng định: Sự phát triển lực lợng sản xuất xã hội trớc hết có ý nghiã là phát
triển sự phonng phú của bản chất con ngời, coi nh là một mục đích tự thân .
Bởi vậy theo Mác ý nghĩa lịch sử, mục đích cao cả của sự phát triển xã hội là
phát triển con ngời toàn diện, nâng cao năng lực và phẩm giá con ngời, giải
phóng con ngời, loại trừ ra khỏi cuộc sống con ngời mọi sự tha hoá để con
ngời đợc sống với cuộc sống đích thực của mình. Và bớc quan trọng nhất trên
con đờng đó theo Mác là giải phóng con ngời về mặt xã hội. Điều đó cho thấy
trong quan niệm của Mác, thực chất của tiến trình phát triển lịch sử xã hội loài
ngời là vì con ngời, vì cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn cho con ngời, phát
triển con ngời toian diện và giải phóng con ngời. Nói theo Anghen là đa con
ngời từ vơng quốc của tất yếu sang vơng quốc của tự do , là làm cho con
ngời cuối cùng là ngời chủ của tồn tại xã hội của chính mình, cũng đồng thời
trở thành những ngời chủ của tự nhiên, ngời chủ của bản thân mình, trở thành
những ngời tự do . Đó là quá trình mà nhân loại tự tạo ra những điều kiện,
những khả năng cho chính mình nhằm đem lại sự phát triển toàn diện, tự do và
hài hoà cho mỗi con ngời trong cộng đồng nhân loại, toạ cho con ngờo năng
lực làm chủ tiến trình lịch sử của chính mình.
Quan niệm của Mác về định hớng phát triển xã hội lấy sự phát triển của
con ngời làm thớc đo chung càng phải đợc khẳng định trong bối cảnh hiện
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con
ngời. Bởi vậy, con ngời là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của
giới hữu sinh. Song điều quan trọng hơn cả là, con ngời luôn luôn là chủ thể
của lịch sử-xã hội. Nếu nh Phoiơbắc khi nghiên cứu về vấn đề bản chất con
ngời đã đi từ chủ nghĩa duy vật sang chủ nghĩa duy tâm thì Mác lại đi từ quan
niệm duy vật chung về con ngời đến quan niệm duy vật lịch sử về con ngời.
Ông đã chỉ ra tính chất biện chứng của mối quan hệ giữa đời sống cá nhân và
đời sống xã hội của con ngời : xã hội không phải là một lực lợng độc lập, một
chủ thể độc lập; những con ngời hiện thực sống về thực chất là chủ thể duy
nhất, là cơ sở hiện thực của toàn bộ thế giới ngời; cá tính con ngời là yếu tố
quan trọng, là trung tâm trong toàn bộ sự vận động bản chất của con ngời. Từ
đó ông định nghĩa : tha hóa là sự tách rời giữa cá nhân và xã hội.
Mác đã khẳng định : Xã hội là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa
những con ngời và Lịch sử xã hội của con ngời luôn chỉ là lịch sử của sự
phát triển cá nhân. Với t cách là thực thể xã hội, con ngời hoạt động thực
tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận
động phát triển của lịch sử xã hội. Trong quá trình cải biến tự nhiên, con ngời
cũng làm ra lịch sử của mình. Con ngời là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là
chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con ngời. Sáng tạo ra lịch sử của
chính mình, con ngời thể hiện ra là giá trị sản sinh ra mọi giá trị, là thớc đo
giá trị của mọi giá trị và do vậy, trong con ngời luôn chúa đựng rất nhiều tiềm
năng và giá trị.
Không có con ngời trừu tợng, chỉ có con ngời cụ thể trong mỗi giai đoạn
phát triển của xã hội. Do vậy, bản chất con ngời, trong mối quan hệ với điều
kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng phải thay đổi cho phù
hợp. Có thể nói rằng, mỗi sự vận động tiến lên của lịch sử sẽ quy định tơng
ứng với sự vận động và biến đổi của bản chất con ngời.
Nhờ hiện tợng đơn giản là mỗi thế hệ sau có đợc những lực lợng sản xuất
do thế hệ trớc tạo ra, và những lực lợng sản xuất ấy là nguyên liệu cho thế hệ
sau ấy để thực hiện một hoạt động sản xuất mới nhờ hiện tợng ấy mà hình
sáng về đạo đức. Bởi lẽ ngời lao động nớc ta ngày càng đóng vai trò quan
trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và trong sự phát triển nền kinh tế
đất nớc theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc định hớng xã hội chủ
nghĩa thì chất lợng của ngời lao động là nhân tố quyết định. Nghị quyết Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: Nâng cao dân
trí, bồi dỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con ngời Việt Nam là nhân tố
quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thực tiễn
đã chứng tỏ rằng trong xã hội ta hiện nay tình trạng mất hài hoà về mặt bản
thể của môĩ cá nhân là chủ yếu, là tất cả. Bản thể cá nhân phát triển toàn
diệnvà hài hoà về đức-trí-thể-mĩ là mục tiêu xây dựng con ngời trong CNXH.
Nhng mục tiêu cơ bản và quan trọng hơn là vấn đề con ngời phải trở thành
nhân tố quyết định lịch sử xã hội và lịch sử của chính mình.
Các nhà t tởng t sản xuyên tạc Chủ nghĩa Mác cho rằng đó là Chủ
nghĩa không có con ngời. Thực tế, chủ nghĩa Mác là một chỉnh thể thống
nhất ba bộ phận: Triết học nghiên cứu các quy luật của thế giới giúp ta hiểu đ-
ợc bản chất mối quan hệ tự nhiên- xã hội- con ngời, chính trị kinh tế học giải
phẫu xã hội t bản và vạch ra quy luật đi lên của CNXH, chủ nghĩa xã hội khoa
học chỉ ra con đờng và biện pháp giải phóng phát triển con ngời. Có thể nói
cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin là chủ nghĩa nhân đạo, học thuyết vì con ng-
ời. Học thuyết đó không chỉ chứng minh bản chất con ngời (tổng hoà các quan
hệ xã hội) và bản tính con ngời (luôn vơn tới sự hoàn thiện) mà còn vạch hớng
đa con ngời đi đúng bản chất và bản tính của mình: giải phóng, xoá bỏ sự tha
hoá, tạo điều kiện phát huy sức mạnh bản chất ngời, phát triển toàn diện- hài
hoà cho từng cá nhân. Sự phù hợp giữa t tởng Mácxít với bản chất và bản tính
ngời đã thu phục và làm say mê những con ngời hằng mong vơn lên xây dựng
xã hội mới, mở ra mọi khả năng cho sự phát triển con ngời.
Cùng với t tởng Hồ Chí Minh, Chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam đã
làm nên thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc (1945) và thống nhất đất nớc
(1975), thực hiện ý chí độc lập tự do cho con ngời Việt Nam điều mà hàng thế
kỷ bao nhiêu học thuyết khác không làm đợc. Trở thành hệ t tởng chính thống
động và phát triển, trong tính hiện thực và tiềm ẩn những khả năng, nó thấy
tồn tại khách quan là điều kiận cho sự sống và sự phát triển của con ngời. Thế
giới quan đó hàm chứa nhân sinh quan tiến bộ, khắc phục dần những quan
niệm sai lầm, phiến diện về con ngời của các hệ t tởng khác, mẫu ngời quân tử
trong xã hội phong kiến, ngời điểu kỷ trong xãa hội nông nghiệp, ngời bạo lực
thực dụng của xã hội T bản,
Sự chuyển đổi hệ t tởng dẫn đến chuyển đổi hệ giá trị xã hội và giá trị
con ngời. Con ngời từ phục tùng chuyển sang tự chủ, sáng tạo, từ dựa trên tình
nghĩa chuyển sang dựa trên lý trí và dân chủ, từ chỉ tìm cách hoà đồng chuyển
sang tôn trọng cả cá tính và bản lĩnh riêng Các chuẩn mực con ngời mới đòi
hỏi không chỉ phát triển từng mặt riêng lẻ mà phải là cá nhân phát triển hài hoà
thể chất, tinh thần, trí tuệ, thẩm mỹ, Tính khoa học, tính cách mạng cuả học
thuyết Mácxít khắc phục dần lối sống thụ động, hẹp hòi, làm cơ sở hình thành
lối sống tích cực, phát triển ý thức luôn vơn lên làm chủ và xây dựng cuộc sống
mới, xuất hiện ngững nhân cách mới.
Tất nhiên con ngời phát triển ngày nay không chỉ là sản phẩm cảu hệ t
tởng Mácxít, vì ngay khi chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành hệ t tởng chính thống
ở Việt Nam thì các tôn giáo, các hệ t tởng và văn hoá bản địa đã có sức sống
riêng của nó. Chủ nghĩa Mác-Lênin thâm nhập nó nh một hệ t tởng khoa học
vợt hẳn lên trên cái nền bản địa nhng nó cũng chịu sự chi phối, tác độngu, đan
xen của các yếu tố sai-đúng, yếu-mạnh, cũ-mới. Các yếu tố tích cực đã thúc
đẩy còn các yếu tố tiêu cực thì kìm hãm sự phát triển con ngời.
Sự văn minh hoá, phát triển hoá con ngời Việt Nam của chủ nghĩa Mác-
Lênin vừa có lợi thế song cũng có những bất lợi. Bất lợi là ặ chống trả cảu t t-
ởng, văn háo bản địa đã thành truyền thống. Lợi thế là văn hoá bản địa cha có
một hệ t tởng khoa học định hình chính xác, nó đang cần một lý thuyết khoa
học. Nhiều ngời cho rằng giá nh không có chủ nghĩa Mác-Lênin, xã hội Việt
Nam đợc phát triển hơn, văn hoá t tởng Việt Nam sẽ phong phú hơn, đặc sắc
hơn. Thực tế, từ khi có chủ nghĩa Mác-Lênin, xã họi Việt Nam đợc phát triển
có tính quy luật hơn, con ngời Việt nam đợc phát triển khoa học hơn. ở một
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc
2.1. Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hoá- hiện đại hoá
Nền kinh tế nớc ta hiện nay còn mang tính chất nông nghiệp lạc hậu,
công nghiệp còn chiếm tỉ trọng nhỏ, tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu
ngời thua quá xa nhiều nớc trong khu vực. Vì vậy, muốn không bị tụt hậu xã
hơn nữa, muốn ổn định mọi mặt để di lên và phát triển thì tất yếu phải thực
hiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc. Cái tất yếu âý mọi ngời dễ dàng
nhận biết song dựa vào đâu để đảm bảo thực hiện nó cho thật hiêụ quả mà
không phải trả gia quá đắt thì lại là một điều không dễ dàng, bởi vì từ chỗ thấy
đợc tính tất yếu nếu không cẩn thận lại dễ xa vào duy ý chí nh đã từng xảy ra
trớc đây, hoặc trái lại nếu chỉ thấy khó khăn bất lợi, thiếu điều kiện rồi cam
chịu tụt hậu thì lại là một tai hoạ. Cũng rất có thể nếu chỉ nhìn thấy những khó
khăn thiếu thốn rồi bằng mọi cách, mọi giá, bất kể lợi hay hại để chấp nhận
mọi sự đầu t nớc ngoài hay vay nợ tràn lan thì cũng sẽ là sai lầm lớn. Chính vì
vậy, cần nắm vững các quan điểm cơ bản về công nghiệp hoá- hiện đại hoá mà
hội nghị TW lần thứ VII Ban chấp hành TW Đảng Cộng Sản Việt Nam khoá VII
đã nêu ra.
Công nghiệp hoá là quá trình trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại
cho tất cả các nghành của nền kinh tế quốc dân và cùng với quá trình đó hình
thành cơ cấu kinh tế mới cho phép khai thác tốt nhất các nguồn lực của đất n-
ớc, nhờ đó tạo nền tảng cho sự tăng trởng kinh tế cao, lâu bền cho toàn bộ nền
kinh tế và đảm bảo tiến bộ xã hội. Phạm trù Hiện đại hoá xét theo nghĩa
từ có nghĩa là một cái gì đó mang tính chất của thời đại ngày nay. Vậy hiện
đại hoá là làm cho kỹ thuật và công nghệ sản xuất đạt đến trình đọ tiên tiến
của thời đại.
Đối với nớc ta đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, việc xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất lớn, hiện đại là một nhiệm vụ to lớn và
một yêu cầu khách quan bởi vì cơ sở vật chất kỹ thuật của một nền ssản xuất
lớn, hiện đại đòi hỏi phải dựa trên trình độ kỹ thuật công nghệ ngày càng cao
hơn, hiện đại hơn. Điều đó không chỉ dừng lại ở chỗ những yếu tố của cơ sở
2.2. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và yêu cầu của nó đối với việc xây
dựng con ngời Việt Nam hiện nay.
2.2.1. Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng con ngời Việt Nam
trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, lịch sử nhân loại xét đến mục
tiêu cuối cùng là phát triển toàn diện cá nhân trong một xã hội văn minh.
Không một dân tộc nào tồn tại và phát triển lại ko chú ý tới vấn đề con ngời.
Ngày nay, ở nớc ta cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nớc và bớc vào
giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc xây dựng con ngời
Việt Nam hiện đại là đòi hỏi cấp bách.
2.2.2. Con ngời vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nớc ta đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản
Việt Nam đã chỉ rõ những đặc trng cơ bản của Xã hội xã hội chủ nghĩa mà
nhân dân ta đang xây dựng là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ trong
đó con ngời đợc giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực,
hởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện để
phát triển toàn diện cá nhân. Những đặc trng trên đã chỉ rõ sự nghiệp đổi mới,
phát triển kinh tế xã hội hớng tới đối tợng chính là con ngời. Công nghiệp hóa,
hiện đại hóa chính là để tạo môi trờng thuận lợi cho sự phát triển của con ngời
hay nói cách khác: con ngời vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nói con ngời là động lực ở đây có thể hiểu là quá trình hình thành con
ngời Việt Nam mới cũng chính là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
quá trình xây dựng xã hội mới. Quá trình xây dựng con ngời Việt Nam hiện
đại cũng là quá trình tạo ra động lực cho xã hội phát triển. Chính việc đẩy
mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhằm xây dựng con ngời
mới, con ngời Việt Nam hiện đại, lấy con ngời làm mục đích của mình. Điều
đó đợc khẳng định dựa trên những căn cứ sau:
- Chủ động tích cực xây dựng con ngời Việt Nam hiện đại từ con ngời cũ
tối đa quần chúng tham gia vào hoạt động cách mạng, đấu tranh cải tạo xã
hội, xây dựng xã hội mới. Cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để mỗi cá nhân mỗi
thành viên phát triển tài năng sáng tạo, phục vụ lợi ích của xã hội, của bản
thân mình. Thông qua đó, những lớp ngời mới, hiện đại, với những phẩm chất
mới đợc hình thành và phát triển. Vì thế, việc xây dựng con ngời Việt Nam
hiện đại có phẩm chất năng lực nhất thiết phải đợc coi là yêu cầu cấp bách
trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2.3. Phát huy nguồn lực con ngời vấn đề chiến lợc trong quá trình đẩy
mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đờng duy nhất để phát triển nền
kinh tế-xã hội đối với bất cứ quốc gia nào, nhất là các nớc chậm và đang phát
triển. Chỉ có công nghiệp hóa hiện đại hóa mới có thể rút ngắn đợc thời gian
phát triển kinh tế xã hội so với các nớc đi trớc. Trong công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, con ngời-nguồn nhân lực, với t cách là lực lợng sản xuất
hàng đầu của xã hội, chính là yếu tố quyết định quan trọng nhất, là động lực
cơ bản nhất. Thực tế đã chứng minh, nguyên nhân dẫn đến sự thành công của
các quốc gia và vùng lãnh thổ có nền công nghiệp phát triển ở Châu á nh Nhật
Bản, Hàn Quốc, Xin-Ga-Po, Hồng Kông, Đài Loan không chỉ bắt nguồn từ
khoa học công nghệ mà chủ yếu dựa vào nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn
nhân lực có hàm lợng chất xám cao. Vì thế có thể khẳng định, nguồn nhân lực
đã trở thành yếu tố quan trọng nhất, có ảnh hởng mang tính quyết định đối với
sự phồn thịnh của quốc gia, dân tộc.
Đảng ta đã xác định, nhân tố con ngời chính xác hơn là vốn con ngời,
vốn nhân lực, bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền
thống của dân tộc là vốn quý nhất, quyết định sự phát triển của đất nớc
trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa. Nhân tố này,
nếu đợc giải phóng sẽ trở thành nguồn lực vô tận để phát triển đất nớc. Vì thế
giải phóng tiềm năng con ngời để phát huy tối đa nguồn nhân lực trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một trong những quan điểm đổi mới
có tính đột phá trong đờng lối phát triển kinh tế-xã hội của Đảng ta trong thời
càng trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp, chúng ta ngày càng nhận rõ hơn trí
tuệ con ngời là nguồn tài nguyên quý giá của quốc gia. Vì vậy, nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dỡng và trọng dụng nhân tài là vấn đề có tầm chiến l-
ợc, là yếu tố quyết định tơng lai của đất nớc. Nhân tố then chốt của sự phát
triển tri thức là trình độ cao của trí tuệ con ngời. Có thể nói, phát triển giáo
dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là điều kiện để phát huy nguồn lực con
ngời - động lực của sự phát triển. Do đó, phát huy nguồn lực con ngời vừa là
yêu cầu cấp bách, vừa là vấn đề chiến lợc của công cuộc đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, từng bớc phát triển kinh tế tri thức.
2.3.1.Những yêu cầu của việc xây dựng con ngời Việt Nam đáp ứng sự
nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Thực tế đã chứng tỏ một điều rằng trong công cuộc công nghiệp hóa hiện
đại hóa, dù có đợc các nguồn lực tự nhiên, dù có cơ sở vật chất kỹ thuật đợc
tạo ra từ các giai đoạn trớc đó hay các nguồn lực từ bên ngoài dới dạng vốn,
kinh nghiêm quản lý, công nghệ hoặc thị trờng thì nguồn lực lâu bền nhất
và quan trọng nhất đối với mọi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng chỉ
có thể là nguồn lực con ngời. Tuy nhiên, con ngời mà chúng ta cần đến để đáp
ứng các đòi hỏi của sự nghiệp này có những điểm khác biệt với các đòi hỏi
của giai đoạn trớc. Trong thời đại hiện nay, khi nền kinh tế thế giới đang từng
bớc chuyển sang kinh tế dựa trên cơ sở tri thức thì vai trò và tầm quan trọng
của trí tuệ con ngời tăng lên gấp bội.
Lịch sử nhân loại hiện đại đang chứng minh thêm một lần nữa rằng, sự
giàu có và sức mạnh của một đất nớc, một quốc gia không chỉ thể hiện ở sự
giàu có và sức mạnh về mặt vật chất, mà chính là thể hiện ở sự giàu có và sức
mạnh về mặt trí tuệ. Ngay cả các loại sức mạnh nh sức mạnh về quyền uy, sức
mạnh của bạo lực và sức mạnh của tiền bạc đã từng thống trị trong những giai
đoạn nhất định của lịch sử loài ngời thì bao giờ đằng sau chúng cũng vẫn có
bóng dáng của sức mạnh trí tuệ.
Trong thời đại chúng ta, cuộc cạnh tranh khốc liệt đang diễn ra giữa các
cờng quốc và giữa các quốc gia trong cộng đồng thế giới về thực chất cũng là
ngời Việt Nam hiện nay.
2.4. Thực trạng xây dựng con ngời Việt Nam thời gian qua và những vấn đề
đặt ra
2.4.1. Xây dựng con ngời Việt Nam trớc và sau đổi mới:
Trong quá trình lịch sử chống giặc ngoại xâm và những năm đầu xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc ta, chúng ta đã từng bớc tạo lập, xây dựng con
ngời có lý tởng cách mạng vững vàng, ý thức rõ về độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội. Nhng có thể nói, thời kỳ trớc đổi mới, bên cạnh những thành tựu
đã đạt đợc, chúng ta đã phạm phải những sai lầm trong một số chủ trơng chính
sách lớn. Khuynh hớng t tởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những
sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ giản
đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan.
Kể từ sau đổi mới, Đảng và nhà nớc ta đã có những đờng lối, chủ trơng
đúng đắn để khắc phục những sai lầm thiếu sót đó và đã đạt đợc một số thành
tựu cơ bản trong công cuộc xây dựng con ngời xã hội chủ nghĩa.
-Đại bộ phận nhân dân có đời sống vật chất và tinh thần đợc cải thiện,
trình độ trí và mức hởng thụ văn hóa khá hơn trớc. Phát huy đợc trí tuệ tập thể,
sức mạnh đoàn kết của nhân dân. Đảng, nhà nớc đã có những chính sách hớng
vào con ngời, tạo lòng tin cho nhân dân đối với chế độ, tạo động lực phát triển
kinh tế đất nớc.
-Trí tuệ con ngời Việt Nam ngày càng phát triển biểu hiện qua nhiều chỉ
số nh: trình độ học vấn, kiến thức văn hóa, trình độ tiếp cận khoa học kỹ thuật,
kỹ năng tay nghề Sau những năm đổi mới, sự đầu t của nhà nớc vào giáo dục
đào tạo, vào chính sách xã hội ngày càng nhiều. Sự cạnh tranh về việc làm
trong nền kinh tế thị trờng ngày càng căng thẳng, xã hội ngày càng đánh giá
cao giá trị của lao động trí tuệ cũng nh sự vơn lên của các cá nhân để chiếm
lĩnh tri thức tiên tiến. Tất cả những cái đó đã là những yếu tố tạo nên trí lực
của con ngời Việt Nam, làm cho trí lực ấy đợc phát triển ở mức độ nhất định.
Đó là con ngời ngày càng năng động, nhạy bén, nắm bắt những cái mới, có
nhiều cách làm sáng tạo để giải quyết những vấn đề đặt ra, dám nghĩ, dám
Mức chênh lệch này có xu hớng ngày càng tăng.
- Chính sách xã hội ở nớc ta còn bộc lộ nhiều bất cập, cha hợp lý:
Những chính sách xã hội trong thời kỳ chiến tranh, thời kỳ kế hoạch hóa
tập trung quan liêu, bao cấp vẫn còn đợc sử dụng trong thời kỳ đổi mới, có
mặt còn kéo dài, gây trở ngại nhiều đến nền kinh tế, nhiều khi triệt tiêu mất
những động lực lợi ích của ngời lao động.
Khi đất nớc chyển sang nền kinh tế thị trờng với nhiều thành phần kinh
tế thì chính sách xã hội không thay đổi kịp với sự phát triển của đất nớc. Nhu
cầu, lợi ích của các tầng lớp nhân dân, sự quản lý của nhà nớc, sự thay đổi cơ
cấu xã hội làm cho chính sách xã hội bị động, lúng túng.
- Do có lúc tuyệt đối hóa tính xã hội của con ngời nên dẫn tới việc coi
nhẹ mặt tự nhiên, không quan tâm đúng mức tới nhu cầu vật chất, cha thực sự
chú ý tới lợi ích cá nhân của ngời lao động, có lúc, có nơi đã đồng nhất lợi ích
cá nhân với chủ nghĩa cá nhân, nên không phát huy mạnh mẽ đợc tính tích cực
xã hội của ngời lao động, vai trò của cá nhân bị lu mờ, tài năng cá nhân không
đợc khuyến khích.
-Có những thời kỳ chúng ta hiểu cha thực sự đúng đắn chủ nghĩa Mác-
Lênin, đi đến đề cao tính giai cấp, coi nhẹ tính nhân loại, không chú ý kế thừa
những giá trị truyền thống của dân tộc. Đó là nguyên nhân tạo ra những khiếm
khuyết về nhân cách cảu một bộ phận thanh niên hiện nay (không chịu học
tập, rèn luyện, thiếu quyết tâm phấn đấu vơn lên lập thân, lập nghiệp. Không ít
thanh niên đi vào con đờng nghiện hút, cờ bạc, tệ nạn xã hội)
-Tình trạng quan liêu trong bộ máy nhà nớc, một bộ phận cán bộ tham
nhũng, cửa quyền, vi phạm quyền tự do dân chủ của công dân; làm biến dạng
nhân cách con ngời, làm cho con ngời bị phân thân; không ít kẻ cơ hội, hữu
khuynh chui vào tổ chức Đảng, cơ quan nhà nớc gây ra những tác động xấu
đang là xói mòn lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng và nhà nớc
ta. Tình trạng tham nhũng, suy thoái về t tởng chính trị, đạo đức, lối sống ở
một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng đang tác động
không nhỏ tới niềm tin và sự tu dỡng rèn luyện, phấn đấu đạo đức của các thế
cho chúng ta, cũng không thể tự nhiên mà có. Đó phải là kết quả của những nỗ
lực vợt bậc và bền bỉ của toàn dân ta, với những con ngời phát triển cả về trí