QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ DÂN TỘC VÀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở HUYỆN NAM ĐÔNG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ - Pdf 16

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
DƯƠNG THỊ BÊ
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ DÂN TỘC
VÀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở
HUYỆN NAM ĐÔNG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Huế, 05/2011
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
DƯƠNG THỊ BÊ
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ DÂN TỘC
VÀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở
HUYỆN NAM ĐÔNG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Huế, 05/2011
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ DÂN TỘC
VÀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở
HUYỆN NAM ĐÔNG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS.Lê Thị Kim Phương Dương Thị Bê
Triết K31
Huế, 05/2011
Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành Khóa luận Tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng cảm

KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề dân tộc là một nội dung có ý nghĩa chiến lược lớn của chủ
nghĩa Mác – Lênin và của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là vấn đề thực tiễn
nóng bỏng đòi hỏi giải quyết một cách đúng đắn.
Trong tình hình hiện nay nhiều cuộc xung đột dân tộc, nhiều “Điểm
nóng” về dân tộc trên thế giới đang diễn ra gay gắt, trong khi đó mối quan
hệ giữa các dân tộc anh em nước ta vẫn giữ được thế ổn định, đó là thành
công lớn trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước ta.
Tuy nhiên chúng ta cần nhận thức sâu sắc rằng các mối quan hệ dân tộc vẫn
còn tiềm ẩn những yếu tố có thể gây bất ổn đang đòi hỏi chúng ta phải tỉnh
táo, nhạy bén, giải quyết kịp thời tránh những diễn biến phức tạp.
Việc nhận thức đúng đắn quan điểm của chủ nghhĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh với việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng cộng
sản Việt Nam, đã giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc trên cả nước nói chung
và có những chính sách phù hợp đến từng địa phương trong cả nước nói
riêng.
Đối với huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế, là một huyện miền
núi có nhiều dân tộc sinh sống như: Cơ tu, Tà ôi, Pa cô, Pa hy,Vân Kiều,…
Việc thực hiện tốt chính sách dân tộc là một vấn đề bức thiết. Muốn vậy,
cần phải nắm vững những quan điểm của chủ nghhĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc sẽ giúp chúng ta có cơ sở khoa học để đánh
giá đúng việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa
Thiên Huế và đưa ra những giải pháp định hướng tốt hơn để thực hiện chính
sách dân tộc trên địa bàn huyện nhằm ổn định tình hình chính trị, phát triển
kinh tế xã hội.
Đặc biệt, Nam Đông nói riêng và cả nước nói chung đang bước vào
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì vấn đề ổn định chính trị và đoàn kết

đoạn mới” của Hoàng Tường Minh. “Chính sách Lênin nít về dân tộc
trong thực tiễn cách mạng” của Đỗ Tư. “Tư tưởng của V.I. Lênin về
quyền con người và giá trị thực tiễn ở Việt Nam” của Hoàng Mai Hương,
Nguyễn Hồng Hải.
Ngoài ra còn nhiều tài liệu, Tạp chí triết học, Tạp chí Cộng sản, Tạp
chí lí luận chính trị, và các tác phẩm của các nhà kinh điển, các nhà lãnh đạo
Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học đầu ngành, các cán bộ công tác lí luận
chính trị.
Những công trình trên có giá trị khoa học cao, nhìn một cách tổng
quát các công trình đó đã giải quyết các vấn đề liên quan đến đề tài. Những
vấn đề trên đã chỉ dẫn, gợi ý hết sức quý báu cho việc triễn khai nội dung
nghiên cứu khóa luận. Tuy nhiên cho đến nay chưa có một đề tài nào làm rõ
quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lên nin về vấn đề dân tộc và việc thực hiện
chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Trên cơ sở kế thừa những tài liệu đã có của chủ nghĩa Mác – Lên nin
về vấn đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông,
tỉnh Thừa Thiên Huế. Tác giả đã chọn đề tài này làm khóa luận tốt nghiệp
của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Mục đích:
Góp phần làm rõ quan điểm của củ nghĩa Mác - Lê nin về vấn đề dân
tộc và việc vận dụng quan điểm đó vào việc phân tích đánh giá tình hình,
thực trạng thực hiện chính sách dân tộc và đưa ra những giải pháp định
hướng cho việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa
Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ:
Trình bày hệ thống quan điểm của củ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về dân tộc. Nêu ra những chính sách dân tộc của Đảng Cộng
Sản Việt Nam trên cở sở đó chỉ ra những việc thực hiện chính sách dân tộc
ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế.Qua đó đã nêu lên một số đề xuất,

chung vẫn có thể trình bày sự hình thành đó bằng những nét phổ quát nhất.
Trước khi cộng đồng người xuất hiện, loài người đã trải qua những
hình thức cộng động người từ thấp đến cao như: Thị tộc, bộ lạc, bộ tộc. Thị
tộc và tiếp theo sau đó là bộ lạc là những hình thức cộng đồng tộc người đầu
tiên trong lịch sử, xuất hiện và tồn tại trong thời đại công xã nguyên thủy,
trong đó yếu tố huyết thống đóng vai trò chi phối. Tiếp theo là bộ tộc - hình
thức cộng dồng người xuất hiện và tồn tại trong chế độ nô lệ và phong kiến.
Ở cộng đồng bộ tộc, những nhân tố tộc người trong cộng đồng thị tộc, bộ
lạc được kế thừa và phát triển ở mức cao hơn, nhưng đã chịu sự chi phối của
nhân tố kinh tế, nhân tố giai cấp.
Trước khi bàn đến khái niệm dân tộc có rất nhiền ý kiến khác nhau.
Trong tác phẩm “Chủ nghĩa Mác về vấn đề dân tộc” thì Xtalin viết rằng:
“Dân tộc là khối người, cộng đồng người ổn định thành lập trong lịch sử,
dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và
hình thức tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hóa”.[19; 11]
Khi trình bày định nghĩa dân tộc Xtalin còn nêu hai điều kiện:
Thứ nhất, dân tộc phải là một phạm trù lịch sử của thời đại tư bản chủ
nghĩa đang lên, trước Chủ nghiã tư bản thì không thể có dân tộc.
Thứ hai, là phải có bốn yếu tố: ngôn ngữ, lãnh thổ, kinh tế, văn hóa
mới hình thành dân tộc, chỉ thiếu một trong bốn yếu tố đó thì cộng đồng
người nào đó không thể trở thành dân tộc.
Xung quanh định nghĩa này của Xtalin có nhiều ý kiến khác nhau:
Sau khi Liên bang Xô Viết bị sụp đổ hàng loạt ý kiến phủ nhận định
nghĩa của Xtalin như Kozlov viết: Trong hàng loạt thập kỉ ở Liên Xô trước
đây việc khám phá thuyết dân tộc chung quy chỉ là minh họa nghèo nàn về
bản chất cho những lập luận có tính chất chỉ thị của Xtalin người mà năm
1913 nêu ra định nghĩa về dân tộc bằng cách ghép vào đó hai dấu hiệu
katsky (tính cộng đồng ngôn ngữ và lãnh thổ) và, một dấu hiệu theo
O.Bauer (tính cộng đồng với nêt tâm lý hoạc tính cách dân tộc) đã bổ sung
thêm vào đấy tính cộng đồng nhà nước chứ không phải là cộng đồng dân

các bộ lạc biến thành những dân tộc và quốc gia.
Ở tác phẩm “Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản ” Mác - Ăngghen đã nói về
một loại dân tộc mới hình thành trong thời kỳ đại tư bản chủ nghĩa, dân tộc
tư sản: “giai cấp tư sản ngày càng xóa bỏ trình trạng phân tán về tư liệu sản
xuất, về tài sản và về dân cư. Nó tụ tập dân cư tập trung các tư liệu sản
xuất, và tích tụ tư sản vào trong tay một số ít người kết quả tất nhiên của
một số ít người, kết quả tất nhiên của những thay đổi ấy là sự tập trung về
chính trị. Những địa phương độc lập liên hệ với nhau hầu như chỉ bởi những
quan hệ liên minh và có những lợi ích, luật lệ chính phủ thuế quan khác
nhau, thì đã được tập hợp lại thành một dân tộc thống nhất”[6;82]
Nếu như Ăngghen nói về nhà nước là điều kiện tồn tại của dân tộc thì
hình thái cộng đồng người dưới chế độ chiếm hữu nô lệ là dân tộc chiếm
hữu nô lệ, dưới chế độ phong kiến là dân tộc phong kiến, khi đọc “Tuyên
ngôn của Đảng cộng sản” thì thấy rằng, Mác – Ăngghen không coi dân tộc
là phạm trù duy nhất của thời đại tư bản chủ nghĩa, của xã hội có giai cấp,
có nhà nước, các ông còn gọi các cộng đồng người chưa đạt đến hình thành
nhà nước cũng bằng dân tộc: “Nhờ cải biến mau chóng công cụ sản suất và
làm cho các phương tiện giao thông trở nên vô cùng thuận lợi giai cấp tư
sản lôi cuốn cả những dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn minh”[6; 81].
Như vậy, thuật ngữ dân tộc không chỉ để áp dụng cho dân tộc tư sản
mà còn để gọi các cộng đồng người trong xã hội có nhà nước dưới các hình
thái kinh tế xã hội khác nhau như: Chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư sản,
Cộng sản chủ nghĩa (xã hội chủ nghĩa). Nói một cách khác có dân tộc tư
sản, dân tộc tiền tư sản và dân tộc hậu tư sản.
Nên định nghĩa dân tộc của Xtalin và hai điều kiện tỏ ra không thích
hợp, còn bốn đặc trưng tuy không lỗi thời nhưng đòi hỏi phải có sự chỉnh lý.
- Đặc trưng ngôn ngữ : Đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
-Đặc trưng lãnh thổ: Lúc đầu mới hình thành dân tộc thì đây là điều
kiện bắt buộc nhưng về sau khi dân tộc bị sé lẻ, phân tán đi nhiều nơi thì
không phải là đặc trưng bắc buộc (trường hợp dân tộc Do Thái).

gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước.
- Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữ
chung của quốc gia) làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn
hoá, tình cảm.
- Có nét tâm lý riêng ( nét tâm lý dân tộc ) biểu hiện kết tinh trong đặc
thù văn hoá dân tộc gắn bó với nết văn hoá của cả cộng đồng các dân tộc
(quốc gia dân tộc).
Các đặc trưng chủ yếu trên gắn bó chặt chẽ với nhau trong một chỉnh
thể đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định.
Sự tổng hợp các đặc trưng nêu trên làm cho cộng đồng dân tộc được
đề cập ở đây về thực chất là một cộng đồng xã hội - tộc người, trong đó
những nhân tố tộc người đoàn kết, hoà quyện vào các nhân tố xã hội. Điều
đó làm cho khái niệm dân tộc khác với các khái niệm sắc tộc, chủng tộc,
thường chỉ căn cứ vào các đặc điểm tự nhiên, chẳng hạn màu da, hay cấu
tạo tự nhiên, các bộ phận trong cơ thể phân loại cộng đồng người.
Hiểu khái niệm và các đặc trưng của dân tộc như trên càng thấy rằng
khái niện dân tộc và khái niệm quốc gia gắn bó chặt chẽ với nhau. Điều
khẳng định có căn cứ ở chổ dân tộc ra đời trong những quốc gia nhất định
và thường thì những nhân tố hình thành dân tộc chín muồi không tách rời
với sự chín muồi của nhân tố hình thành quốc gia chúng bổ xung và thúc
đẩy lẫn nhau.
1.1.2 Khái niệm về chính sách dân tộc
Thuật ngữ “Chính sách dân tộc” cần được phân biệt với chính sách xã
hội, chính sách miền núi và chính sách dân vận của Đảng, để từ đó xác định
vị trí, nội dung, tổ chức bộ máy, phương hướng hoạt động thực hiện chính
sách dân tộc.
Chính sách dân tộc giải quyết mối quan hệ trong cộng đồng dân cư đa
dân tộc của một quốc gia theo quan điểm của giai cấp nắm chính quyền.
Chính sách dân tộc của Đảng công sản là môt hệ thống chủ trương và giải
pháp nhằm thực hiện quyền bình đẳng chính trị, kinh tế, văn hoá giữa các

dân tộc chú ý đến đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục tập quán,
điều kiện phát triển của mỗi dân tộc nên không hoàn toàn đồng nhhấ với
chính sách dân vận.
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân tộc
1.2.1 Quan điểm của Mác-Ăngghen về dân tộc
Khi đọc tác phẩm của Mác –Ăngghen chúng ta thấy rằng hai ông
chưa nêu lên định nghĩa về giai cấp hay dân tộc. Nhưng vấn đề về giai cấp
hay dân tộc đã được Mác-Ăngghen dành cho một vị trí quan trọng trong học
thuyết của mình.
Khi xác định khái niệm dân tộc trong tác phẩm: “Tuyên ngôn của
Đảng cộng sản’’ Mác và Ăngghen không chỉ đề cập đến vấn đề dân tộc tư
sản mà còn đề cập đến vấn đề dân tộc tiểu tư sản, thậm chí còn nói đến dân
tộc dã man nhất nghĩa là chưa đạt đến trình độ nhà nước. Quan điểm của
Mác - Ăngghen về sự hình thành dân tộc: Từ tổ chức bộ lạc lên nhà nước, từ
tính địa phương lên dân tộc một lần nữa được thể hiện trong tác phẩm ‘‘Hệ
tư tưởng Đức”. Trong tác phẩm “Biện chứng tự nhiên”, Ăngghen cũng nêu
lên quan điểm về con đường hình thành dân tộc và quốc gia, các bộ lạc biến
thành những dân tộc và quốc gia.
Đứng trên lập trường chân chính của giai cấp vô sản, Mác và
Ăngghen đã cương quyết chống lại đường lối dân tộc của giai cấp tư sản.
Đọc tác phẩm của Mác và Ăngghen chúng ta thấy rãi rác đó đây trong
các công trình nghiên cứu của hai ông có thể rút ra một số luận điểm về vấn
đề quan trọng này:
Một là: Mác và Ăngghen cương quyết chống lại ách áp bức và bóc lột
các dân tộc khác của giai cấp tư sản:
“Hãy xóa bỏ trình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này
bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ”[6;106]
Một dân tộc này mà đi bóc lột dân tộc khác thì dân tộc đó không thể
tự do.
Lịch sử Ai – xơ – len chứng minh rằng đối với một dân tộc đi nô dịch

cấp vô sản tất cả các nước hãy liên hiệp lại. Nhu cầu tất yếu là phải thiết lập
sự đoàn kết quốc tế, chủ nghĩa quốc tế vô sản là nét rất quan trọng trong thế
giới quan cộng sản chủ nghĩa. Chính vì vậy, “Tuyên ngôn của Đảng cộng
sản” nổi tiếng kết thúc bằng khẩu hiệu có sức mạnh động viên và cổ vũ lớn
lao mang tính thời đại “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”.[6;132]
1.2.2 Quan điểm của Lênin về dân tộc
Khi nghiên cứu vấn đề dân tộc và phong trào dân tộc trong điều kiện
của chủ nghĩa tư bản, V.I.Lênin đã phát hiện ra hai xu hướng khách quan :
Xu hướng thứ nhất: Ở những quốc gia khu vực chủ nghiã tư bản gồm
nhiều cộng đồng dân cư có nguồn gốc tộc người khác nhau làm ăn, sinh
sống đến một thời kỳ nào đó, sự trưởng thành của ý thứ dân tộc, sự thức tỉnh
đầy đủ về quyền sống của mình và các cộng đồng dân cư đó muốn tách khỏi
nhau để thành lập các dân tộc độc lập. Bởi vì họ hiểu rằng, chỉ trong cộng
đồng độc lập đó họ mới có quyền quyết định vận mệnh của mình mà cao
nhất là quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của
dân tộc mình. Trong thực tế, xu hướng này biểu hiện thành phong trào đấu
tranh chống áp bức dân tộc để đi tới thành lập các quốc gia độc lập dân tộc.
Xu hướng này phát huy tác động trong giai đoạn đầu của chủ nghiã tư bản
và vẫn còn tác động trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.
Xu hướng thứ hai: Các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí, các dân
tộc ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau. Chính sự phát triển của
lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ, của giao lưu kinh tế và văn
hóa trong xã hội tư bản đã làm xuất hiện nhu cầu xóa bỏ hàng rào ngăn cách
giữa các dân tộc, tạo nên mối liên hệ quốc gia và quốc tế rộng lớn giữa các
dân tộc, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau. Xu hướng này phát huy tác
động trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.
Sự thể hiện hai xu hướng khách quan trên đây trong điều kiện của chủ
nghĩa đế quốc gặp nhiều trở ngại. Nguyện vọng của các dân tộc được sống
độc lập, tự do bị chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc xóa bỏ. Chính
sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc đã biến hầu hết các dân tộc nhỏ bé

mẹ đẻ trong trường học, văn hóa, nhà hát… Mặt khác Lênin còn cho rằng
nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa sẽ đòi hỏi các dân tộc sống trong một
quốc gia phải học tiếng của dân tộc đa số.
Quyền dân tộc tự quyết : là nguyên tắc quan trọng thứ hai trong
cương lĩnh của Lênin về vấn đề dân tộc. Mọi người đều biết, đế quốc Nga
Sa Hoàng là một nhà tù lớn của rất nhiều dân tộc. Các dân tộc bị trị bị áp
bức và bị bóc lột nặng nề không được quyền quyết định vận mệnh của mình.
Trong điều kiện như vậy khẩu hiệu “Dân tộc tự quyết” có sức lôi cuốn mạnh
mẽ các dân tộc bị áp bức vào trào lưu cách mạng do giai cấp vô sản lãnh
đạo. Nội dung cơ bản của quyền dân tộc tự quyết là các dân tộc có quyền tự
quyết đối với vận mệnh của dân tộc mình mà không ai ở ngoài có quyền can
thiệp vào cộng việc nội bộ của dân tộc đó.
Khẩu hiệu về quyền dân tộc tự quyết của dân tộc là một bịên pháp
tích cực trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản cho sự gần gũi của các dân
tộc Lênin đã nhìn thấy rằng: cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ đem lại cho các
dân tộc bị áp bức và thuộc địa một sự tự do hoàn toàn tách ra, với mục đích
xích gần, tự nguyện và sự đoàn kết của các dân tộc được phát triển dễ dàng
và nhanh chóng. Nhưng quyền tự quyết hoàn toàn có nghĩa là cần thiết phải
tách khỏi nước lớn trong mọi điều kiện Lênin đã nhiều lần lên tiếng bảo vệ
sự hiểu biết đúng đắn về quyền tự quyết của các dân tộc, Lênin viết: Nói
chung, chúng ta chống việc tách nhưng chúng ta đứng bên quyền tách vì do
chủ nghĩa dân tộc phản động Nga hoặc chúng ta đòi quyền tự do tự quyết
không phải là chúng ta mơ ước phần nhỏ kinh tế hay mơ ước xây dựng nước
nhỏ bé mà ngược lại chúng ta muốn những quốc gia lớn và sự xích lại gần
của liên bang các dân tộc nhưng trên cơ sở thật sự dân chủ, thật sự quốc tế,
và trở nên vô nghĩa nếu không tự do tách ra.
Như vậy, khẩu hiệu “Các dân tộc có quyền tự quyết” không phải là để
các dân tộc tách ra, mà chính là để các dân tộc xích lại gần nhau, sức mạnh
của khẩu hiệu đó là ở chỗ, nó gạt bỏ tất cả mọi cơ sở về mưu đồ xâm lăng
của dân tộc này đối với dân tộc khác và nhằm cho sự chuẩn bị cho các dân

tộc tư sản, những cuộc xung đột dân tộc không có lối thoát. Còn giai cấp tư
sản thì không những không bảo vệ sự phát triển của dân tộc, của mọi dân
tộc, mà trái lại nó đề phòng cho quần chúng khỏi những ảo tưởng như thế.
Nó chủ trương để lưu thông tư bản chủ nghĩa được tư do đầy đủ nhất và
hoan nghênh mọi sự đồng hóa dân tộc, trừ sự đồng hóa bằng bạo lực hoặc
dựa trên sự đặc quyền”[13;169]. Lê nin còn nói:
“Giai cấp vô sản không thể tán thành bất cứ một sự thừa nhận nào đối
với chủ nghĩa dân tộc, trái lại nó tán thành bất cứ cái gì giúp vào sự xóa bỏ
mọi sự phân biệt dân tộc, vào việc phá hủy những hàng rào ngăn cách dân
tộc, tán thành bất cứ cái gì làm cho mối liên hệ các dân tộc ngày càng mật
thiết bất cứ cái gì dẫn đến sự hợp nhất giữa các dân tộc hành động khác đi
có nghĩa là đứng về phía giai cấp tiểu thị dân tộc chủ nghĩa phản động” .
[13;169]
“Những luận điểm trong cương lĩnh Mácxít về vấn đề dân tộc do
V.I.Lênin đề ra là sự kế thừa và phát triển những luận điểm của C.Mác và
Ph.Ăngghen, ngoài lĩnh vực này nó chứng tỏ tư duy lý luận sắc bén của
V.I.Lênin và nhận được sự ủng hộ rộng rãi của những người Bônsêvích
Nga” [12;77]. Đồng thời trong cương lĩnh còn là cơ sở lý luận pháp lý để
giải quyết các quan hệ dân tộc cả trong quan hệ tranh chấp, xung đột giữa
các dân tộc, nó có vai trò to lớn đặc biệt với phong trào giải phóng dân tộc
từ thế kỷ XX đến nay.
1. 3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và quan điểm chính sách
dân tộc của Đảng và nhà nước ta
1.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc
Vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh được đề cập ở đây không
phải là vấn đề dân tộc nói chung mà là vấn đề dân tộc thuộc địa. Vấn đề dân
tộc thuộc địa thực chất là để đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa
nhằm thủ tiêu sự thống trị của chủ nghĩa thực dân giành độc lập dân tộc, xóa
bỏ ách áp bức bóc lột, thực hiện quyền dân tộc tự quyết thành lập nhà nước
dân tộc độc lập.

cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh là: “Làm cho đất nước ta hoàn toàn
được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành
”[11; 161]. Để thực hiện ý tưởng đó Hồ Chí Minh đã sử dụng mọi vũ khí để
đấu tranh, người tham gia mọi lĩnh vực của đời sống, đến mọi nơi, làm mọi
việc để hoạt động cách mạng, để nghiên cứu tìm con đường giải phóng dân
tộc đúng đắn và người tố cáo tội ác của chủ nghĩa đế quốc đối với dân tộc bị
áp bức trên thế giới.
Trên con đường học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và vân dụng
sáng tạo nguyên tắc dân tộc tự quyết thiêng liêng, Nguyễn Ái Quốc đã thay
mặt cho những người Việt Nam yêu nước. Người gửi đến Hội nghị Véc-xây
bản yêu sách gồm 8 điểm đòi hỏi các quyền tự do, dân chủ cho nhân Việt
Nam. Bản yêu sách chỉ tập trung vào hai nội dung. Thứ nhất, là đòi quyền
bình đẳng về chế độ pháp lý cho người bản xứ Đông Dương, phải xóa bỏ
chế độ cai trị bằng sắc lệnh và thay thế bằng chế độ và các đạo luật. Thứ
hai, là đòi các quyền tự do tối thiểu cho nhân dân, đó là tự do ngôn luận, tự
do cư trú, tự do lập hội, tự do xuất dương, tự do học tập….đây là một hành
động dũng cảm thể hiện lòng yêu nước nồng nàn với một tình cảm sâu nặng
của Người và cũng là cuộc thử nghiệm đầu tiên khi Người bước lên vũ đài
chính trị đòi quyền tự do cho dân tộc bằng con đường nghị trường. Đồng
thời biết đưa ra những đòi hỏi trong phạm vi cải cách dân chủ là một hành
động tài trí, khôn ngoan. Tuy nhiên bản yêu sách đó không được chấp nhận,
từ đó Người rút ra bài học: Các dân tộc muốn giải phóng chỉ có thể trông
cậy vào mình, và lực lượng bản thân mình. Từ đó, Người ra sức học tập và
tiến hành tổ chức để thành lập tổ chức Đảng và xác lập mục tiêu: Phải đánh
đuổi đế quốc Pháp cùng bọn phong kiến và làm cho nước Việt Nam được
hoàn toàn độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả
dân tộc nên Hồ Chí Minh đã từng viết:
“Trên đời nghìn vạn điều cay đắng,
Không gì cay đắng bằng mất quyền tự do”[10;332].
Cũng chính vì thế mà Người luôn kêu gọi đồng bào đấu tranh giành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status