Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mục lụC
Lời nói
đầu .. 4
Phần nội dung .
6
Chơng 1: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về mối liên hệ phổ
biến
.. 6
1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến . 6
2. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi phải rút ra quan điểm toàn
diện và quan điểm lịch sử cụ
thể ... 8
Chơng 2: Biện chứng giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập
kinh tế quốc
tế . 9
1. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế-xu thế, thời cơ và thách
thức
9
2. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, tạo thế cân bằng giữa lợi ích của
quốc gia dân tộc với lợi ích kinh tế toàn
cầu .. 15
3. Hội nhập kinh tế và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ là mối liên hệ
phổ biến mang tính khách quan
. 17
Chơng 3: Hội nhập kinh tế và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ở nớc ta
hiện
nay ..
17
1. Tình hình kinh tế nớc ta hiện
thấy một Việt Nam đầy tiềm năng nhng chúng ta cha biến các tiềm năng đó
thành sự thực. Nếu đem so sánh với Nhật Bản, chúng ta thấy rằng: Nhật Bản là
một nớc hầu nh không có tài nguyên thiên nhiên lại hay gặp phải thiên tai trong
khi chúng ta luôn tự hào rằng chúng ta có rừng vàng, biển bạc. Con ngời Việt
Nam cũng không hề thua kém con ngời Nhật. Chúng ta thông minh, cần cù,
chịu khó và cũng không ít nhân tài. Nhng thực tế thì sao? Nớc Nhật chỉ trong
vòng hai mơi năm, từ một nớc chịu hậu quả nặng nề nhất trong chiến tranh thế
giới II, đã vơn lên đứng thứ 2 trên thế giới về phát triển kinh tế. Còn Việt Nam
chúng ta sau hơn 10 năm đổi mới vẫn mới chỉ thu đợc một số thành tựu và cho
đến năm 2000, với GDP 400 USD/ngời, Liên Hợp Quốc vẵn xếp nớc ta là một
trong những nớc ở mức under-poverty (dới mức nghèo đói). Câu hỏi đặt ra là:
chúng ta có nhiều tiềm năng hơn hẳn Nhật Bản nhng tại sao chúng ta vẫn cha có
một nền kinh tế phát triển thần kì nh Nhật Bản? Chúng ta luôn lấy lí do rằng
chúng ta phát triển kinh tế từ một xuất phát điểm thấp nhng cũng phải thừa nhận
rằng việc phân tích, đánh giá tình hình kinh tế thế giới và khu vực của chúng ta
còn kém dẫn đến chúng ta bỏ lỡ quá nhiều cơ hội trong tầm tay.
Hiện nay, toàn cầu hoá kinh tế đang trở thành một xu thế của thời đại.
Tích cực mà toàn cầu hoá đem lại cũng nhiều mà tiêu cực thì cũng không ít. Nói
về toàn cầu hoá, có ngời cho rằng toàn cầu hoá đem lại rất nhiều lợi ích. Toàn
cầu hoá đem lại vốn, công nghệ cho các quốc gia để phát triển kinh tế trong n-
ớc, nh là một chiếc phao cho những nớc đang phát triển vịn lấy để bơi đến
4
con thuyền kì diệu của những nền kinh tế phát triển. Theo đó mà Việt Nam
cần phải chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, phải mở rộng cửa ngay để nắm lấy
cơ hội trong tầm tay này. Lại có ngời cho rằng toàn cầu hoá chỉ là công cụ của
những nớc phát triển đặc biệt là Mỹ và các nớc phơng tây, sử dụng để chèn ép
các nớc đang phát triển nhằm thu đợc những lợi nhuận kếch xù. Toàn cầu hoá là
cái phao thật đấy nhng dây phao thì có thể thành dây thòng lọng với bất
kì nền kinh tế nào. Chính bởi vậy mà Việt Nam cần phải thận trọng, dè dặt, phải
xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, không nên nôn nóng vội vàng. Vậy thực
ngoài, mang tính ngẫu nhiên. Hay nếu có những mối liên hệ vô cùng đa dạng
giữa các sự vật, hiện tợng thì không thể có sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mối
liên hệ.
CNDVBC cũng khẳng định cơ sở của mối liên hệ này chính là tính
thống nhất vật chất của thế giới. Do đó, các sự vật, hiện tợng dù có phong phú,
đa dạng đến mấy thì cũng chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy
nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Vì vậy, mà sự vật, hiện tợng trong thế
giới không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động qua
lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định. Và chúng cũng chỉ bộc
lộ đợc bản chất, tính quy luật và biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự vận
động, sự tác động qua lại lẫn nhau đó. Cũng nh chúng ta chỉ có thể đánh giá bản
6
chất của một con ngời cụ thể thông qua mối liên hệ, sự tác động của con ngời
đó với ngời khác, với xã hội, tự nhiên, thông qua hoạt động của chính ngời ấy.
Ngay cả tri thức của con ngời, cũng chỉ có giá trị khi chúng đợc vận dụng vào
hoạt động cải biến tự nhiên, cải biến xã hội và cải biến chính con ngời.
1.2. Tính chất của mối liên hệ:
Mọi mối liên hệ của các sự vật, hiện tợng đều là khách quan, vốn có
của mọi sự vật, hiện tợng. Ngay cả những vật vô chi, vô giác cũng đang hàng
ngày chịu tác động của các sự vật, hiện tợng bên ngoài nh nhiệt độ, độ ẩm, áp
suất và đôi khi là cả sự tác động của con ng ời. Con ngời-một sinh vật phát
triển cao nhất trong tự nhiên, dù muốn hay không, cũng luôn phải chịu tác động
bởi các sự vật, hiện tợng khác và ngay cả những yếu tố trong chính bản thân con
ngời. Là một bông hoa rực rỡ của tự nhiên, ngoài sự tác động của tự nhiên nh
mọi sinh vật khác, con ngời còn chịu tác động bởi vô vàn các mối quan hệ xã
hội, và chính các mối quan hệ xã hội này giúp cho con ngời hình thành nhân
cách. Vấn đề đặt ra là con ngời phải hiểu biết các mối liên hệ, vận dụng chúng
vào hoạt động của mình, giải quyết các mối quan hệ sao cho phù hợp nhằm
phục vụ nhu cầu, lợi ích của xã hội và của bản thân con ngời.
Mối liên hệ không chỉ mang tính khách quan mà còn mang tính phổ
kém thì con vật ấy cũng không thể lớn nhanh đợc. Tơng tự nh vậy, toàn cầu hóa
kinh tế đang là một xu thế trên thế giới, vừa tạo ra thời cơ, vừa tạo ra thách thức
to lớn đối với tất cả các nớc đang phát triển. Nớc ta có tranh thủ đợc thời cơ hay
không, có hạn chế đợc những mặt tiêu cự của toàn cầu hóa hay không, trớc hết
phụ thuộcvào năng lực của Đảng, của Nhà nớc và của nhân dân ta.
Song cơ thể cũng không thể sống đợc nếu thiếu môi trờng. Chúng ta
khó có thể phát triển kinh tế, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội nếu không
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, không tận dụng đợc những thành tựu KHCN
mà thế giới đã đạt đợc. Nói cách khác, mối liên hệ bên ngoài cũng rất quan
trọng, đôi khi đóng vai trò quyết định.
Sự phân chia từng cặp mối liên hệ này chỉ mang tính tơng đối, vì mỗi
loại mối liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt xích của mối liên
8
hệ phổ biến. Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hóa cho nhau
tùy theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát
triển của chính các sự vật.
2/ Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi phải rút ra đợc quan điểm
toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể:
Từ việc nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tợng,
chúng ta cần rút ra quan điểm toàn diện trong việc nhận thức, xem xét các sự
vật, hiện tợng cũng nh trong hoạt động thực tiễn.
Với t cách là một nguyên tắc phơng pháp luận trong việc nhận thức các
sự vật và hiện tợng, quan điểm toàn diện đòi hỏi: để có đợc một nhận thức đúng
về sự vật, chúng ta cần phải xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ
phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật đó và trong cả
mối liên hệ qua lại giữa các sự vật đó với các vật khác (kể cả trực tiếp và gián
tiếp).
Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện còn đòi hỏi để nhận thức đợc sự vật,
chúng ta cần xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con ngời.
ra chú ý đến nhiều mặt nhng thực lại không biết rút ra đợc mặt bản chất, mối
liên hệ căn bản, dẫn tới xem xét mối liên hệ một cách bình quân, kết hợp vô
nguyên tắc, khiến cho sự vật trở nên hỗn tạp, cuối cùng dẫn đến sự lúng túng
bất lực trớc chúng. Nguyên tắc toàn diện cũng bác bỏ thuyết ngụy biện khi quy
tất cả các mặt riêng biệt thành mặt phổ biến, dẫn đến xuyên tạc mối liên hệ toàn
diện và tính chất mềm dẻo, linh hoạt của các khái niệm, phạm trù.
Cần lu ý rằng mọi sự vật đều tồn tại trong không gian, thời gian nhất
định và mang dấu ấn của không gian, thời gian đó. Do vậy, chúng ta cần có
quan điểm lịch sử-cụ thể khi xem xét và giải quyết mọi vấn đề do thực tiễn đặt
ra. Việc quán triệt quan điểm này đòi hỏi chúng ta phải chú ý đúng mức tới
hoàn cảnh, lịch sử cụ thể đã làm phát sinh vấn đề đó, tới sự ra đời và phát triển
của nó, tới bối cảnh hiện thực-cả khách quan lẫn chủ quan. Khi xem xét một
10
quan điểm, một luận thuyết cũng phải đặt nó trong những mối quan hệ nh vậy.
Chân lý sẽ trở thành sai lầm, nếu nó bị đẩy ra ngoài giới hạn của nó.
Nh vậy, muốn đánh giá đúng tình hình, muốn nhận thức đợc bản chất
của sự vật và giải quyết tốt sự việc ta cần phải quán triệt quan điểm toàn diện.
Bên cạnh đó cũng cần phải quán triệt quan điểm lịch sử, cụ thể để có thể xác
định đợc xu hớng phát triển của sự vật, hiện tợng, hạn chế đợc những mặt tiêu
cực, phát huy đợc nhân tố tích cực của điều kiện, hoàn cảnh khách quan.
Chơng 2: Biện chứng giữa xây dựng nền kinh tế độc
lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế
1/ Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế-xu thế, thời cơ và thách thức.
1.1. Bản chất của toàn cầu hóa:
Toàn cầu hóa là một thuật ngữ xuất hiện nhiều nhất kể từ thập niên 90
của thế kỉ XX đến nay. TCH là một quá trình có tính đa diện, nó tác động đến
mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội. Có thể nói TCH đã và đang trở thành một
trong những xu thế chủ yếu của quan hệ kinh tế đơng đại.
Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về toàn cầu hóa, đã có hàng
trăm khái niệm về TCH khác nhau đợc các học giả trong và ngoài nớc đề cập
từng công ty, các viện nghiên cứu, các trờng đại học trên toàn thế giới ngời ta
đang soạn thảo các báo cáo, văn bản với một công cụ hỗ trợ giống nhau là một
máy tính cá nhân với phần mềm Microsoft Word, quản lý thống kê tài chính với
phần mềm Excel , ở bất cứ một bệnh viện nào trên toàn cầu ng ời ta cũng thấy
có các máy chụp X-quang cắt lớp, các dao phẫu thuật sử dụng tia laze, các thiết
bị nội soi , các nhà quản lý kinh tế đều đ ợc trang bị những kiến thức nh nhau
để quản lý và điều hành các công ty Có thể nói, lực l ợng sản xuất đã mang
tính xã hội hóa trên toàn thế giới.
Nguyên nhân thứ hai của TCH là phân công lao động quốc tế đã đạt
tới trình độ rất cao, không chỉ giới hạn ở chuyên môn hóa sản phẩm mà đã là
chuyên môn hóa các chi tiết sản phẩm cho mỗi quốc gia. Phơng châm kinh
12
doanh lấy thế giới làm nhà máy của mình, lấy các nớc làm phân xởng của mình,
mà qua đó phân công lao động quốc tế có thể lợi dụng đợc u thế kĩ thuật, tiền
vốn, sức lao động và thị trờng của các nớc, góp phần thúc đẩy quốc tế hóa sản
xuất phát triển lên nhanh chóng. Thí dụ, một loại xe của hãng Toyota, mặc dù
sản xuất tại Nhật Bản nhng có đến 25% linh kiện đợc sản xuất ngoài nớc.
Việc phát triển lực lợng sản xuất và phân công lao động trên phạm vi
quốc tế có sự đóng góp rất lớn của những thành tựu KHCN và sự tích tụ, tập
trung sản xuất. Cách mạng khoa học-công nghệ hiện nay, đặc biệt với các
ngành công nghệ mũi nhọn nh công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công
nghệ vật liệu mới và công nghệ tự động hóa đã và đang thúc đẩy sự phát triển v-
ợt bậc của lực lợng sản xuất. Giao thông vận tải và thông tin liên lạc cũng đang
ngày càng phát triển, góp phần không nhỏ tạo nên thị trờng thế giới mà ở đó có
sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tất yếu giữa các nền kinh tế, giữa các quốc gia
dân tộc.
Cùng với các nhân tố nêu trên, sự xuất hiện và bành trớng của các
công ty xuyên quốc gia với những lợi thế về quy mô vốn lớn, kĩ thuật hiện
đại, quản lý tiên tiến và mạng lới thị trờng rộng lớn, chi phối hầu hết các
hoạt động đầu t nớc ngoài cũng là một nhân tố làm xuất hiện và phát triển
qũy tiền tệ thế giới IMF, ngân hàng thế giới WB, liên minh Châu Âu EU, khu
vực thơng mại tự do bắc Mỹ NAFTA, liên minh các nớc Đông nam á ASEAN
Thông qua các tổ chức kinh tế, thơng mại tài chính này, qui mô lu thông vốn
quốc tế phát triển cha từng thấy, tốc độ tăng trởng mậu dịch thế giới vợt xa tốc
độ tăng trởng kinh tế; các lĩnh vực hợp tác trong kinh tế không ngừng phát triển.
Bên cạnh đó, nhờ các thể chế riêng, các tổ chức này cũng góp phần bảo vệ
quyền lợi cho các thành viên. Do đó, việc liên kết kinh tế giữa các quốc đã và
đang trở thành một xu hớng chung.
Quá trình liên kết về kinh tế hiện đại tác động đến lĩnh vực chính trị,
dẫn đến sự hình thành các tổ chức phi chính phủ mà lớn nhất là Liên Hợp
Quốc. Liên Hợp Quốc cùng với các tổ chức của nó nh: WHO (tổ chức y tế thế
giới), FAO (tổ chức lơng thực thế giới, UNESCO (tổ chức văn hóa thế giới),
UNICEF (tổ chức về vấn đề trẻ em Liên Hợp Quốc) đang có ảnh h ởng lớn đến
14