đề tài '''' quan điểm của chủ nghĩa mác - lênin về vấn đề mâu thuẫn và sự vận dụng quan điểm này trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay '''' - Pdf 15



Đề tài " Quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lênin về vấn đề mâu thuẫn và sự vận
dụng quan điểm này trong sự nghiệp
đổi mới đất nước hiện nay "
1
MỤC LỤC
TRANG
MỤC LỤC 2
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………….………… 40 10
LỜI NÓI ĐẦU 11
CHƯƠNG I 13
2
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ-NIN VỀ VẤN ĐỀ MÂU
THUẪN 13
I.Vị trí của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (Quy luật mâu thuẫn)
13
II.Nội dung quy luật 13
1.Một số khái niệm 14
2.Tính chất chung của mâu thuẫn 15
3.Quá trình vận động của mâu thuẫn 20
III.Ý nghĩa phương pháp luận 24
CHƯƠNGII 25
SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI
ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY 25
I.Vận dụng quy luật mâu thuẫn trong xây dựng và phát triển kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa 25
1.Kinh tế thị trường và những đặc điểm 25
2.Chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu sang nền kinh tế thị
trường là một một tất yếu khách quan ở nước ta 26

chủ nghĩa. Trong nền kinh tế nhiều thành phần này, mỗi thành phần
kinh tế có một vị trí trong nền kinh tế thống nhất và có một vai trò
nhất định trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước, thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển. Bởi vì thông qua các thành phần kinh tế
khác nhau, chúng ta sẽ khai thác được tiềm năng to lớn của chúng
(trái ngược hẳn với nền kinh tế thuần nhất về mặt sở hữu trước đây)!
29
Tuy nhiên, khi khẳng định tầm quan trọng của một nền kinh tế đa
thành phần ở nước ta, điều đó không hoàn toàn có nghĩa là chúng ta
coi mọi thành phần kinh tế đều có vai trò như nhau. Bởi vì, mặc dù
coi mỗi thành phần kinh tế trong nền kinh tế đa thành phần ở nước ta
đầu có một vị trí, vai trò nhất định trong nền kinh tế quốc dân, Đảng
ta vẫn khẳng định kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, và kinh
tế nhà nước kết hợp với kinh tế tập thể phải trở thành nền tảng của
kinh tế đất nước. Đây là nhân tố thể hiện tính định hướng xã hội chủ
nghĩa trong nền kinh tế thời kì quá độ ở nước ta. Rõ ràng bên cạnh
việc phát triển kinh tế nhiều thành phần, ta không được phép coi nhẹ
vai trò của kinh tế nhà nước. Bởi vì, nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã
hội chính là kinh tế nhà nước kết hợp với kinh tế tập thể. Duy trì vai
trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần
không chỉ là một hướng đi đúng đắn, giúp củng cố sức mạnh nền kinh
tế của chế độ xã hội chủ nghĩa; mà còn giúp phân biệt giữa nền kinh
tế xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa: một bên là do
nhà nước điều tiết quản lí, một bên là sở hữu tư nhân tư bản chiếm vị
trí chủ đạo 29
Một điểm cần lưu ý đó là, khi chúng ta kết hợp các nền kinh tế nhiều
thành phần, kết hợp giữa công hữu và tư hữu, giữa kinh tế nhà nước
và kinh tế tư nhân trong một nền kinh tế đa thành phần, điều đó
không thể quan niệm giản đơn rằng đã là nền kinh tế đa thành phần
thì các thành phần kinh tế đều có vai trò, vị trí và được đối xử như

Trong đổi mới kinh tế, gắn liền với việc xây dựng một nền kinh tế đa
dạng hóa về sở hữu, đa thành phần kinh tế là vấn đề xây dựng cơ chế
thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là hai mặt của nền
kinh tế thị trường: việc tồn tại một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần tất yếu làm nảy sinh yêu cầu về sự điều tiết của cơ chế thị
trường. Đồng thời cơ chế thị trường ra đời sẽ phát huy tác dụng của
nó tới hoạt động của các thành phần kinh tế. 31
Như vậy, để thực hiện tốt nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần thì
lại đòi hỏi phải có một cơ chế kinh tế thích hợp và được biểu hiện
bằng một cơ chế quản lí cụ thể. Cơ chế kinh tế phù hợp với một nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần tất yếu phải là cơ chế thị trường.
5
Bởi lẽ chỉ có cơ chế thị trường mới đảm bảo cho nền kinh tế vận động
trong quỹ đạo của sự tuân thủ quy luật giá trị, quy luật cung - cầu.
Nhờ cơ chế thị trường, với sự tác động của quy luật cung – cầu, quy
luật giá trị, các sản phẩm hàng hóa luôn được lưu thông từ nơi sản
xuất thông qua thị trường tới người tiêu dùng. Qua thị trường, sản
xuất có điều kiện phát triển. Người sản xuất sẽ sản xuất ra nhiều mặt
hàng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, còn người tiêu dùng sẽ có
nhiều sự lựa chọn cho mình hơn: từ đó, nề kinh tế trở nên năng động
hơn. Ngược lại, nếu không có thị trường, không tuân theo cơ chế thị
trường thì nền kinh tế hàng hóa sẽ không thể phát triển được, quan hệ
giữa các thành phần kinh tế trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần sẽ không thể tránh khỏi bị bóp méo, mất đi tính khách quan của
nó. Có thể khẳng định cơ chế thị trường là cơ chế kinh tế khách quan
của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, của nền sản xuất và trao
đổi hàng hóa 32
Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, bản thân cơ chế thị trường cũng có cả
mặt tiêu cực. Có những lúc, những nơi, kinh tế thị trường không
những không làm cho người ta năng động hơn, tốt đẹp hơn mà ngược

trường và kế hoạch trên cơ sở đảm bảo vai trò chủ đạo của thành phần
kinh tế nhà nước, đảm bảo tính kế hoạch ở tầm chiến lược ở tầm
chiến lược, vĩ mô là một giải pháp đúng đắn, nó đã đáp ứng được đòi
hỏi to lớn của sự phát triển nền kinh tế hiện đại 34
II.Vận dụngquy luật mâu thuẫn trong hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực 34
Trên thực tế, công cuộc đổi mới của nước ta cũng chịu sự tác động, chi phối đáng kể của
những biến đổi quốc tế và xu hướng khách quan đó. Vì thế, vấn đề hội nhập quốc tế và
khu vực trong công cuộc đổi mới của nước ta trở nên tất yếu. Trong điều kiện quốc tế
hóa nền kinh tế thế giới, có cả sự hợp tác và cạnh tranh, cả sự phụ thuộc, nương tựa và
sự đối lập, đấu tranh lẫn nhau; trong điều kiện vai trò của trí tuệ, của tri thức khoa học
ngày càng cao đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, đòi hởi mỗi quốc gia, mỗi dân tộc
muốn phát triển cần phải điều chỉnh chiến lược phát triển sao cho phù hợp, đúng đắn.
Yêu cầu cấp thiết đặt ra cho mỗi quốc gia là phải đổi mới. Nhưng sự đổi mới phải phù
hợp với điều kiện, hoàn cảnh của dân tộc và thời đại. Và chỉ có đổi mới đúng đắn, thực
hiện quá trình hội nhập quốc tế theo tinh thần kết hợp biện chứng mới đưa đất nước
tiến kịp các nước tiên tiến, đi tới thịnh vượng, văn minh 35
Bởi vì, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã cho thấy việc
xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội theo kiểu đối lập hoàn toàn với chủ nghĩa tư bản đã
trở nên lỗi thời. Chính sự sụp đổ đó đã buộc các Đảng cộng sản cầm quyền phải nhìn
nhận lại về chính chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản hiện đại. Đối với chủ nghĩa tư
bản, sự điều chỉnh về các vấn đề xã hội cũng như những sức mạnh vốn có của nó về mặt
khoa học và công nghệ, về kinh nghiệm tổ chức quản lí lẫn xã hội, là những thực tế
không thể bác bỏ. Vì thế, giờ đây, thay vì có những tư duy theo kiểu siêu hình, tuyệt đối
hóa giữa hai mặt đối lập là tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, thì cần phải có cái
nhìn biện chứng hơn, mềm dẻo hơn về chủ nghĩa tư bản. Phải có thái độ khách quan,
chấp nhận thực tế về những giá trị tích cực của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Để từ đó có
khả năng, trong những trường hợp cụ thể, biết hợp tác với chủ nghĩa tư bản nhằm khai
tác tốt mặt tích cực của nó, làm lợi cho chủ nghĩa xã hội 35
Với những giá trị tích cực của mình, toàn cầu hóa cho phép chúng ta có thể khai thác
trong quá trình hội nhập để thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Song toàn cầu hóa

tế của nước ta chính là tạo thêm nguồn lực từ bên ngoài, kết hợp với nội lực trong nước
để tạo thành sức mạnh tổng hợp đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, đứng trước nguy cơ nảy sinh từ mặt
trái của toàn cầu hóa, Đảng ta khẳng định phải xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Bởi
vì, độc lập tự chủ về kinh tế chính là nền tảng cho sự độc lập tự chủ về mọi mặt, đặc biệt
là về chính trị 37
Nhằm xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong
quá trình thực hiện hội nhập quốc tế, hợp tác với các nước trên thế giới, trong đó có các
nước tư bản chủ nghĩa, phải luôn giữ vững nguyên tắc: hợp tác, hội nhập phải bảo đảm
lợi ích dân tộc chân chính, lợi ích của chủ nghĩa xã hội. Vì thế, trong quá trình hội nhập,
chúng ta vừa chủ động hợp tác với các nước trên thế giới, vừa đề cao cảnh giác đối với
những thế lực thù địch bên ngoài, những kẻ có âm mưu phá hoại chế độ chủ nghĩa xã
hội, chống phá nhà nước Việt Nam, 38
Bên cạnh đó, khi kết hợp nguồn nội lực và ngoại lực, giữa trong nước và quốc tế, Đảng
ta còn khẳng định phải phát huy cao độ nguồn nội lực, trong nước. Nguồn nội lực phải
được xem là yếu tố quyết định, là cơ sở để khai thác có hiệu quả nguồn lực bên ngoài.
(Ví dụ điển hình là cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”)
Muốn thế, phải xây dựng được một nền kinh tế tự chủ, vững mạnh, có sức cạnh tranh
cao trên thế giới; cùng với đó là phải có một nền khoa học, công nghệ tiên tiến để có
thể có sự bình đẳng trong quá trình hợp tác, trao đổi về kinh tế cũng như công nghệ với
bên ngoài. Điều đó càng chứng tỏ sự cần thiết phải xây dựng cho được nền kinh tế độc
lập tự chủ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 38
8
Như vậy, có thể thấy, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nhằm đáp ứng đòi hỏi
khách quan của toàn cầu hóa, Đảng ta đã vận dụng linh hoạt, có nguyên tắc tư tưởng
biện chứng về kết hợp giữa hai mặt đối lập. Từ đó, quá trình đổi mới của nước ta, cụ thể
hơn là công cuộc hội nhập quốc tế, hội nhập khu vực đã đạt được những thành công
quan trọng, góp phần thúc đẩy kinh tế đất nước ngày một phát triển mà vẫn định
hướng xã hội chủ nghĩa 39
III.Những vấn đề đặt ra khi vận dụng tư tưởng biện chứng về mâu thuẫn trong quá

không phải thủ tiêu cuộc đấu tranh của chúng mà là tạo điều kiện cho
chúng đấu tranh trong một hình thức cụ thể. Bởi vì, theo Lê-nin: sự
phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập 40
Vận dụng vào thực tiễn, khi kết hợp các mặt đối lập trong đổi mới đất
nước, phải kết hợp có nguyên tắc giữa chúng. Ví dụ: khi kết hợp giữa
9
chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội để phát triển đất nước, cần phải
luôn nhớ rằng, dù là thống nhất và bổ sung cho nhau, nhưng bản chất
giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội vẫn là trái ngược nhau. Do
đó, phải luôn thận trọng: lợi dụng những mặt tích cực của chủ nghĩa
tư bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội, hợp tác với tư bản trong giới
hạn, khuôn khổ của chủ nghĩa xã hội. Cần phải thực hiện tốt công tác
kiểm kê, kiểm soát mọi hoạt động kinh tế của các nhà tư bản; cần phải
có giải pháp đưa ra đối với tình trạng trốn thuế, làm hàng giả, cạnh
tranh không lành mạnh, cũng như cả việc đối xử thô bạo của tư bản
nước ngoài đối với lao động Việt Nam,… Đặc biệt, khi Việt Nam đã
gia nhập WTO, bên cạnh những thay đổi chúng ta cần phải có để đáp
ứng cho yêu cầu hội nhập, ta còn cần phải chú ý để có những giải
pháp đúng đắn trước những vấn đề mới trong việc bảo vệ môi trường,
bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền 41
Đặc biệt, chúng ta phải có bộ luật hoàn thiện, phù hợp với thông lệ
quốc tế, nhưng đồng thời vẫn phải duy trì cho phù hợp với đặc thù
nước ta, có thể đảm bảo được định hướng xã hội chủ nghĩa 41
3.Vấn đề thực hiện công bằng xã hội trong quá trình xây dựng kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 41
4.Vấn đề chống “diễn biến hòa bình” trong quá trình hội nhập quốc tế
43
5.Vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế 43
IV.Những định hướng cơ bản của Việt Nam trong quá trình đổi mới 44

cần phải loại trừ; hoặc có những sai lầm cực đoan, không chú trọng tới
11
bản chất trái ngược của các mặt đối lập và kết hợp không có nguyên tắc
giữa chúng, dẫn tới nguy cơ chệch hướng, như nguy cơ “diễn biến hòa
bình”, Vì thế, việc giải quyết mâu thuẫn trở nên khó khăn, làm ảnh
hưởng tới việc kết hợp các mặt đối lập một cách đúng đắn nhằm đem lại
những lợi ích thiết thực trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay.
Từ thực tế đó, đòi hỏi chúng ta phải biết vận dụng một cách sáng
tạo, linh hoạt quan niệm biện chứng về mâu thuẫn, biết kết hợp các mặt
đối lập đúng đắn trong công cuộc đổi mới đất nước, nhằm thúc đẩy nền
kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trước yêu cầu thực tế đó, nên em chọn đề tài: Quan điểm của chủ
nghĩa Mác – Lê-nin về vấn đề mâu thuẫn và sự vận dụng quan điểm
này trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay làm đề tài tiểu luận.
Mặc dù có nhiều cố gắng, song do trình độ nhận thức còn hạn chế,
nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì thế em rất mong
nhận được ý kiến đóng góp từ thầy và các bạn để bài viết được hoàn
thiện hơn.
Qua bài viết, em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới TS
Trần Nguyên Ký – người đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành bài tiểu
luận này!
Xin chân thành cảm ơn!
TP. Hồ Chí Minh ngày 06/11/2010
12
Chương I
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ-NIN
VỀ VẤN ĐỀ MÂU THUẪN
I. Vị trí của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lập (Quy luật mâu thuẫn)
Bàn về quy luật này, V.I.Lê-nin khẳng định: “Có thể định nghĩa vắn

các mặt đối lập. Nói chung, các quan niệm trên đều đã mô tả mâu thuẫn
khách quan nhưng khái niệm mâu thuẫn còn nặng về hình thức mà chưa
đi sâu vào nội dung biện chứng của các mặt đối lập.
Đến quan niệm biện chứng về mâu thuẫn, ta đã có một khái niệm
tổng quát và chính xác nhất: mâu thuẫn là mối liên hệ thống nhất, đấu
tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng
hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
• Các mặt đối lập
Mặt đối lập chính là nhân tố tạo thành mâu thuẫn. Đây là một phạm
trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những đặc điểm
có khuynh hướng vận động trái ngược nhau nhưng đồng thời lại là điều
kiện, tiền đề tồn tại của nhau, chúng tồn tại khách quan trong tự nhiên,
xã hội và tư duy.
14
Thí dụ: điện tích âm và điện tích dương trong một nguyên tử. Ở
đây, ta có thể nhận ra, “điện tích âm” và “điện tích dương” là hai mặt
đối lập, bởi hai thuộc tính “âm” và “dương” trái ngược nhau. Nhưng
chúng lại không thể tách rời nhau. Nếu mất một trong hai thuộc tính
trên, thuộc tính còn lại vô nghĩa, khi đó nguyên tử không thể tồn tại.
Một thí dụ khác về các mặt đối lập, đó là sản xuất và tiêu dùng
trong hoạt động kinh tế của xã hội. Sự trái ngược nhau của hai mặt đối
lập này thể hiện trong đặc điểm của chúng. Sản xuất là hoạt động nhằm
tạo ra hàng hóa; tiêu dùng thì ngược lại: tiêu thụ và sử dụng hàng hóa.
Tuy đối lập, nhưng chúng lại không thể tồn tại nếu thiếu nhau. Nếu
hàng hóa được sản xuất ra mà không có người tiêu thụ, thì những người
sản xuất sẽ bị thua lỗ, hoạt động sản xuất bị trì trệ, từ đó có thể dẫn tới
sự phá sản. Ngược lại, nếu như chỉ có tiêu thụ mà không có sản xuất,
người tiêu dùng không tìm được mặt hàng cần thiết, khi đó nhu cầu về
vật chất, tinh thần của họ không được đáp ứng đầy đủ, có thể làm nảy
sinh nhiều kết quả, tác động tới nhiều đối tượng. Ví dụ, những người bị

hạn như cung và cầu, sản xuất và tiêu dùng, tính kế hoạch hóa của từng
xí nghiệp, công ty với tính vô chính phủ của nền kinh tế hàng hóa…
Trong tư duy của con người cũng có những mâu thuẫn như chân lí và
sai lầm, hay như Ăng-ghen: “trong lĩnh vực tư duy, chúng ta không thể
thoát khỏi những mâu thuẫn; chẳng hạn như giữa năng lực nhận thức vô
tận ở bên trong của con người với sự tồn tại thực tế của năng lực ấy
trong những con người bị hạn chế bởi hoàn cảnh bên ngoài, và bị hạn
16
chế, trong những năng lực nhận thức – mâu thuẫn này được giải quyết
trong sự nối tiếp của các thế hệ, sự nối tiếp đó ít ra đối với chúng ta trên
thực tiễn cũng là vô tận – và được giải quyết trong sự đi lên vô tận.”
1
Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật mới xuất hiện cho tới khi sự vật kết
thúc. Trong mỗi sự vật, mâu thuẫn hình thành không phải chỉ có một mà
có thể có nhiều mâu thuẫn, vì sự vật trong cùng một lúc có rất nhiều mặt
đối lập. Mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác hình thành. Theo
Ăng-ghen, sự vận động đơn giản nhất của vật chất cũng là một mâu
thuẫn. Vật chất tồn tại ở hình thức vận động cao hơn, mâu thuẫn càng rõ
nét hơn. Nó gắn liền với sự vật, xuyên suốt quá trình phát sinh, phát
triển và diệt vong của sự vật. Đó chính là những thuộc tính quy định
tính khách quan và phổ biến của mâu thuẫn.
b) Mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú
Mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều có thể bao hàm nhiều loại
mâu thuẫn khác nhau, biểu hiện khác nhau trong những điều kiện lịch
sử, cụ thể khác nhau; chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn
tại, vận động và phát triển của sự vật. Có nhiều loại mâu thuẫn:
• Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài
Mâu thuẫn bên trong là mâu thuẫn giữa các yếu tố cấu thành một sự
vật nhất định. Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa mặt đối lập của
sự vật này với mặt đối lập của sự vật khác. Việc phân chia mâu thuẫn

Dựa vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của
sự vật trong một giai đoạn nhất định, các mâu thuẫn được chia thành
mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu.
18
Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở mỗi giai đoạn
phát triển của mọi sự vật. Nó có tác dụng quyết định đến các mâu thuẫn
khác tồn tại trong cùng sự vật ở giai đoạn đó.
Mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn không đóng vai trò quyết định đối
với quá trình phát triển của sự vật.
Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu có quan hệ chặt chẽ với
nhau. Trong đó, mâu thuẫn chủ yếu là biểu hiện cụ thể của mâu thuẫn
cơ bản ở một giai đoạn nhất định. Do đó, việc giải quyết mâu thuẫn chủ
yếu chính là từng bước giải quyết mâu thuẫn cơ bản.
Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu cũng có thể chuyển hoá
cho nhau trong quá trình phát triển của sự vật.
• Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng
Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa các giai cấp, những tập
đoàn người, những xu hướng xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau.
Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng,
khuynh hướng xã hội mà lợi ích về cơ bản là nhất trí với nhau.
Phân biệt mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng có ý
nghĩa rất quan trọng trong việc xác định phương pháp giải quyết mâu
thuẫn. Mâu thuẫn đối kháng theo nguyên tắc chung chỉ được giải quyết
thông qua các cuộc cách mạng xã hội. Còn mâu thuẫn không đối kháng,
xu hướng phát triển đặc thù của nó ngày càng dịu đi. Mâu thuẫn này
được giải quyết vẫn phải tuân thủ nguyên tắc là thông qua đấu tranh
nhưng bằng phương pháp hoà bình.
Bên cạnh đó, trong các lĩnh vực khác nhau cũng tồn tại những mâu
thuẫn với những tính chất khác nhau tạo nên tính phong phú trong sự
19

tác động qua lại, bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập. Hình thức
đấu tranh của các mặt đối lập rất phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào tính
chất, mối quan hệ và điều kiện cụ thể của sự vật, hiện tượng.
Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong giai cấp có đối
kháng mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuất
lạc hậu kìm hãm nó diễn ra quyết liệt và gay gắt. Chỉ thông qua các
cuộc cách mạng xã hội bằng rất nhiều hình thức, kể cả bạo lực mới giải
quyết nó một cách căn bản.
b) Mối quan hệ giữa sự thống nhất và sự đấu tranh của các mặt
đối lập trong mâu thuẫn
Nói tới đấu tranh, tức là đấu tranh của hai mặt đối lập trong thể
thống nhất. Thống nhất là sự thống nhất của hai mặt đối lập đang không
ngừng bài trừ nhau, đấu tranh với nhau. Ở đây, có một sự gắn bó chặt
chẽ giữa mặt thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Thống nhất là
điều kiện đấu tranh, muốn đấu tranh thì phải thống nhất, đồng thời
thống nhất là để dẫn tới đấu tranh. Đấu tranh là nội dung bên trong của
thống nhất, còn thống nhất là hình thức chuyển tải đấu tranh. Như vậy,
trong mỗi sự vật, sự thống nhất và sự đấu tranh của hai mặt đối lập
chính là điều kiện để nó tồn tại và phát triển. Nếu như chỉ có đấu tranh
thì sự vật sẽ không có lí do để tồn tại với tư cách là sự vật. Còn nếu chỉ
có sự thống nhất thì sự vật không thể phát triển được. Nói cách khác,
chính mâu thuẫn khách quan là nguồn gốc của sự phát triển.
1
V.I.Lê-nin: Toàn tập, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 1981. t.29, tr.379.
21
Tuy nhiên, trong mối quan hệ giữa sự thống nhất và đấu tranh của
các mặt đối lập, dù thống nhất là điều kiện để sự vật tồn tại với ý nghĩa
là chính nó - nhờ có sự thống nhất của các mặt đối lập mà chúng ta nhận
biết được sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan - song bản
thân của sự thống nhất chỉ là tương đối và tạm thời. Tính tương đối ở

đối lập chỉ là sự hoán đổi vị trí một cách đơn giản máy móc. Bởi thông
thường thì mâu thuẫn chuyển hoá theo hai phương thức:
 Phương thức thứ nhất: Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối
lập kia nhưng ở trình độ cao hơn xét về phương diện chất của sự vật.
Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội phong
kiến đấu tranh chuyển hoá lẫn nhau để hình thành quan hệ sản xuất mới
là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và lực lượng sản xuất mới ở trình
độ cao hơn.
 Phương thức thứ hai: Cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để
thành hai mặt đối lập mới hoàn toàn.
Ví dụ: Nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của
nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, trong thế giới hiện thực, bất kỳ sự vật hiện tượng nào
cũng chứa đựng trong bản thân nó những mặt, những thuộc tính có
khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau. Sự đấu tranh chuyển hoá
của các mặt đối lập trong điều kiện cụ thể tạo thành mâu thuẫn. Sự liên
hệ, tác động và chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mâu thuẫn là nguồn
gốc, động lực của sự vận động và phát triển trong thế giới Chính vì
23
vậy, Lê-nin khẳng định: “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các
mặt đối lập.”
1
III. Ý nghĩa phương pháp luận
Trước hết, vì mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và là
nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển, do vậy, trong nhận
thức và thực tiễn cần phải tôn trọng mâu thuẫn, không né tránh mâu
thuẫn, tích cực tìm tòi, phát hiện mâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt
đối lập, nắm được bản chất, nguồn gốc, khuynh hướng của sự vận động
và phát triển. V.I.Lê-nin cho rằng: “Sự phân đôi của cái thống nhất và

phương tiện, công cụ vận hành nền kinh tế có hiệu quả, tự nó không
mang tính giai cấp – xã hội, không tốt mà cũng không xấu. Tốt hay xấu
là do người sử dụng nó. Theo quan niệm này thì kinh tế thị trường là vật
“trung tính”, là công nghệ sản xuất ai sử dụng cũng được.
Hai là xem kinh tế thị trường là một quan hệ kinh tế - xã hội - chính
trị, nó in đậm dấu ấn của lực lượng xã hội làm chủ thị trường. Kinh tế
thị trường là một phạm trù kinh tế hoạt động, có chủ thể của quá trình
hoạt động đó, có sự tác động lẫn nhau của các chủ thể hoạt động. Trong
xã hội có giai cấp, chủ thể hoạt động trong kinh tế thị trường không phải
là cái nhân riêng lẻ, mà còn là những tập đoàn, những giai cấp xã hội.
Sự tác động qua lại của các chủ thể hoạt động đó có thể có lợi cho người
này, tầng lớp hay giai cấp này; có hại cho tầng lớp hay giai cấp khác.
25

Trích đoạn triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thị trường năng động, tự chủ năng động hơn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status