LUẬN VĂN:
Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về
kinh tế thị trường và sự vận dụng của nó
ở Việt Nam để xây dựng kinh tế thị
trường định hướng XHCN
A. Đặt vấn đề
Sau hơn 10 năm đổi mới toàn diện, Việt Nam đã vượt qua nhiều thử thách gay go. Mặc
dù có rất nhiều những khó khăn, trở ngại trong những hoàn cảnh hết sức phức tạp nhưng
Đảng và nhân dân Việt Nam không những đã đứng vững được mà còn vươn lên đạt được
những thắng lợi nổi bật trên nhiều mặt. Những thắng lợi đó đã đưa Việt Nam ra khỏi cuộc
khủng hoảng kinh tế - xã hội, cơ bản hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị các tiền đề cho phép đất
nước chuyển sang thời kỳ mới. Đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Nguyên nhân cơ bản đưa đến thắng lợi đó chính là Đảng và Nhà nước Việt Nam đã
kiên quyết chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
và định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đây chính là một bước ngoặt quan trọng thể hiện một quyết định sáng suốt của Đảng
rọi vào vấn đề cấp bách hiện nay của nước ta trong công cuộc đổi mới của nước ta đang đi
theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Chính vì vậy em quyết định chọn đề tài: “Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về kinh
tế thị trường và sự vận dụng của nó ở Việt Nam để xây dựng kinh tế thị trường định
hướng XHCN”.
B. Nội dung
I. Lý luận của chủ nghĩa mác - lênin về kinh tế thị trường.
1. Kinh tế thị trường - các giai đoạn hình thành và phát triển của nó.
a. Kinh tế thị trường:
Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ xã hội hoá cao. Nó là hình
thức, phương thức vận hành kinh tế, trong đó các quy luật của thị trường chi phối việc phân
bổ các tài nguyên; qui định: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai?
Đây là 1 kiểu tổ chức kinh tế hình thành và phát triển do những đòi hỏi khách quan của
sự phát triển lực lượng sản xuất. Nó là phương thức sinh hoạt kinh tế của sự phát triển, trong
đó quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng đều gắn với thị trường, được thực
hiện thông qua thị trường, vì vậy trong nền kinh tế thị trường các yếu tố đầu vào và đầu ra
của quá trình sản xuất, kể cả sản phẩm từ chất xám đều là đối tượng mua bán trên thị trường
nên nền kinh tế thị trường là một nền kinh tế tiền tệ hoá cao.
Kinh tế thị trường là 1 kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, vì vậy kinh tế thị trường không chỉ
là 1 công nghệ kỹ thuật mà còn là quan hệ xã hội, nó không chỉ bao hàm yếu tố lực lượng
sản xuất mà còn quan hệ sản xuất. Kinh tế thị trường gồm nhiều hình thức sở hữu mà trong
đó nó phụ thuộc vào chế độ sở hữu thống trị. Vì vậy không có kinh tế thị trường chung
chung, thuần tuý, trừu tượng tách khỏi các hình thái kinh tế xã hội, tách rời chế độ xã hội.
Trong các chế độ xã hội khác nhau, kinh tế thị trường mang tính chất xã hội khác
nhau, có những hậu quả khác nhau. Tác động tích cực và tiêu cực của kinh tế thị trường đến
đâu còn phụ thuộc vào chế độ xã hội, vai trò của Nhà nước, vào chính sách và pháp luật của
So với kinh tế tự nhiên, kinh tế hàng hoá có những ưu thế sau đây:
Một là, trong kinh tế hàng hoá do sự phát triển của phân công lao động xã hội cho nên
sản xuất được chuyên môn hoá ngày càng cao, thị trường ngày càng mở rộng. Điều đó tạo
điều kiện phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng, mỗi đơn vị sản xuất, thúc đẩy việc cải tiến công cụ lao động, nâng cao trình độ kỹ thuật, mở rộng phạm vi sản xuất; thúc đẩy sản xuất
phát triển.
Hai là, trong kinh tế hàng hoá, mục đích của sản xuất không phải là để tiêu dùng cho
chính bản thân người sản xuất mà là để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của thị trường.
Chính nhu cầu ngày càng tăng của thị trường đã làm hình thành động lực mạnh mẽ cho sự
phát triển của sản xuất hàng hoá. Người tiêu dùng được cọi là “thượng đế”, được quyền tự
do lựa chọn những hàng hoá phù hợp với nhu cầu có khả năng thanh toán và thị thiếu của
mình trên cơ sở căn cứ vào chất lượng và giá cả của hàng hoá. Nhu cầu tiêu dùng ngày càng
cao thì sản xuất phải mở rộng cả về chiều rộng và chiều sâu.
Ba là, trong kinh tế hàng hoá, cạnh tranh ngày càng gay gắt. Yêu cầu của cạnh tranh
đòi hỏi những đơn vị sản xuất hàng hoá phải thường xuyên quan tâm tới bằng năng suất lao
động, nâng cao chất lượng sản phẩm, để thu được lợi nhuận ngày càng nhiều hơn. Cạnh
tranh, chạy theo lợi nhuận siêu ngạch đã làm cho lực lượng sản xuất có những bước tiến bộ
dài.
Bốn là, trong kinh tế hàng hoá, do sản xuất xã hội ngày càng phát triển, quan hệ hàng
hoá tiền tệ ngày càng mở rộng, cho nên sản phẩm hàng hoá ngày càng phong phú và đa
dạng, giao lưu kinh tế và văn hoá giữa các vùng, các địa phương và các quốc gia ngày càng
phát triển. Đời sống vật chất, tinh thần và văn hoá của dân cư ngày càng được nâng cao.
b.1.2. Những tiền đề của quá trình chuyển từ kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hoá.
Sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hoá là quá trình kinh tế khách quan. Nó bắt
đầu khi kinh tế tự nhiên phát triển đến trình độ làm xuất hiện những tiền đề của kinh tế hàng
hoá. Trong lịch sử, những quan hệ hiện vật, tự nhiên và quan hệ hàng hoá - tiền tệ tồn tại
đan xen và mâu thuẫn với nhau. Sự xuất hiện của kinh tế hàng hoá cũng chính là sự xuất
hiện những tiền đề phủ định kinh tế tự nhiên và khẳng định kinh tế hàng hoá. Mỗi bước phát
Phân công lao động xã hội phát triển cũng dẫn tới sự ra đời của ngành thương nghiệp.
Khi thương nghiệp ra đời, quan hệ trao đổi có sắc thái mới: người sản xuất và người tiêu
dùng quan hệ với nhau qua người thứ ba là thương nhân. Việc mở rộng phạm vi xã hội hoá
sản xuất đồng thời cũng kéo theo việc chuyên môn hoá ngành nghề. Người sản xuất chuyển
sản xuất, còn lưu thông hàng hoá đã có thương nhân đảm nhận. Thông qua hoạt động mua
bán của mình, thương nhân đã thực hiện vai trò nói liền sản xuất với sản xuất và sản xuất với tiêu dùng. Qua đó khơi dậy những nhu cầu mới đối với sản xuất và hướng sản xuất phục
vụ nhu cầu của thị trường. Thương nghiệp phát triển, làm cho sản xuất và lưu thông hàng
hoá cùng với lưu thông tiền tệ được phát triển nhanh chóng. Điều này dẫn tới sự mở rộng
quan hệ trao đổi giữa các vùng, đồng thời liên kết những người sản xuất với nhau, cuốn hút
họ vào quỹ đạo của kinh tế hàng hoá.
Quan hệ trao đổi được mở rộng và phát triển đòi hỏi hệ thống giao thông vận tải cũng
phải mở rộng và phát triển. Đây là điều kiện vật chất làm tăng thêm các phương tiện trao
đổi, mở rộng thị trường. Sự phát triển và hoàn thiện của hệ thống giao thông vận tải có vai
trò thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển cao hơn. Điều này dẫn tới sự ra đời
của các hoạt động dịch vụ, chế biến, làm cho dân cư chịu sự chi phối của những quy luật
phổ biến của sản xuất và lưu thông hàng hoá.
b.2. Bước chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh tế thị trường.
b2.1. Kinh tế thị trường là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá.
Kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường chỉ khác nhau về trình độ phát triển. Kinh tế thị
trường là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá. Kinh tế hàng hoá phát triển, điều đó
có nghĩa là phạm trù hàng hoá, phạm trù tiền tệ và thị trường được phát triển và được mở
rộng. Hàng hoá không chỉ bao gồm những sản phẩm đầu ra của sản xuất mà còn bao hàm cả
các yếu tố đầu vào của sản xuất. Dung lượng thị trường và cơ cấu thị trường được mở rộng
và hoàn thiện. Mọi quan hệ kinh tế trong xã hội đều được tiền tệ hoá. Khi đó người ta gọi
kinh tế hàng hoá là kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá cũng đã trải qua 3
giai đoạn phát triển.
làm nảy sinh hàng hoá lao động và thị trường sức lao động.
Sự xuất hiện hàng hoá sức lao động dẫn tới sự hình thành kinh tế thị trường là vì:
- Kinh tế thị trường là nền kinh tế phát triển. Nó có năng suất lao động cao. Ngoài
những sản phẩm cần thiết còn có những sản phẩm thặng dư. Chính sự xuất hiện của hàng
hoá sức lao động đã phản ánh điều đó. Hàng hoá sức lao động là hàng hoá đặc biệt. Tính
chất đặc biệt của nó được thể hiện tập trung ở thuộc tính giá trị sử dụng của nó. - Giá trị sử
dụng của hàng hoá sức lao động. Sở dĩ như vậy là vì: do kỹ thuật sản xuất phát triển cho nên
năng suất lao động của người công nhân đã cao, ngày lao động của người công nhân được chia thành hai phần, phần thời gian lao động cần thiết và phần thời gian lao động thặng dư.
Chỉ đến một giới hạn nhất định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất - khi kỹ thuật sản
xuất phát triển, năng suất lao động xã hội được nâng cao thì sức lao động của người ta mới
có thể trở thành đối tượng của quan hệ mua bán. Sự xuất hiện hàng hoá - sức lao động phản
ánh giai đoạn sản xuất đã phát triển trong đó năng suất lao động đã cao.
- Nhờ có sự xuất hiện của hàng hoá lao động và thị trường sức lao động mà tiền không
chỉ đơn thuần là phương tiện lưu thông mà còn trở thành phương tiện làm tăng giá trị, nâng
cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
- Với sự xuất hiện của hàng hoá sức lao động dẫn tới sự hình thành thị trường các yếu
tố sản xuất một cách hoàn chỉnh. Kinh tế thị trường ra đời.
Hai là, phải tích luỹ được một số tiền nhất định và số tiền đó phải trở thành vốn để tiến
hành sản xuất kinh doanh nhằm mục đích có lợi nhuận. Lý luận kinh tế của trường phái
trọng thương đã phản ánh rõ điều kiện tiền đề này.
Ba là, kinh tế thị trường là kinh tế tiền tệ, cho nên vai trò của tiền tệ vô cùng quan
trọng. Để hình thành được nền kinh tế thị trường cần phải có hệ thống tài chính, tín dụng,
ngân hàng tương đối phát triển. Không thể có được kinh tế thị trường nếu như hệ thống tài
chính, ngân hàng còn quá yếu ớt, hệ thống quan hệ tín dụng còn quá giản đơn không đáp
ứng được nhu cầu về vốn cho sản xuất và kinh doanh.
Bốn là, sự hình thành nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có một hệ thống kết cấu hạ
tầng tương đối phát triển, trên cơ sở đó mới bảo đảm cho lưu thông hàng hoá và lưu thông
kiện khách quan của việc tồn tại nền kinh tế hàng hoá. Đồng thời cũng là biểu hiện và là yêu
cầu nội tại của kinh tế hàng hoá. Kinh tế hàng hoá không bao dung hành vi bao cấp. Nó đối
lập với bao cấp và đồng nghĩa với tự chủ, năng động.
Hai là, trên thị trường hàng hoá rất phong phú. Người ta tự do mua, bán hàng hoá.
Trong đó người mua chọn người bán. Người bán tìm người mua. Họ gặp nhau ở giá cả thị
trường. Đặc trưng này phản ánh tính ưu việt hơn hẳn của kinh tế thị trường so với kinh tế tự
nhiên.
Sự đa dạng phong phú về số lượng và chủng loại những hàng hoá trên thị trường, một
mặt phản ánh trình độ cao của năng suất lao động xã hội, mặt khác cũng nói lên mức độ phát
triển của quan hệ trao đổi, trình độ của phân công lao động xã hội và sự phát triển của thị trường. Những ưu thế trên của kinh tế thị trường phản ánh trình độ phát triển của khoa học kỹ
thuật và công nghệ, tựu chung phản ánh trình độ cao của lực lượng sản xuất xã hội. Vì vậy,
nói đến kinh tế thị trường là nói đến một nền kinh tế phát triển cao.
Ba là, giá cả được hình thành ngay trên thị trường. Giá cả thị trường vừa là sự biểu
hiện bằng tiền của giá trị thị trường, vừa chịu sự tác động của quan hệ cạnh tranh và quan hệ
cung cầu hàng hoá và dịch vụ. Trên cơ sở giá trị thị trường, giá cả là kết quả của sự thương
lượng và thoả thuận giữa người mua và người bán. Đặc trưng này phản ánh yêu cầu của quy
luật lưu thông hàng hoá. Trong quá trình trao đổi mua bán hàng hoá, người bán luôn luôn
muốn bán với giá cao, người mua lại luôn muốn mua với giá thấp. Đối với người bán, giá cả
phải đáp ứng nhu cầu bù đắp được chi phí và co doanh lợi. Chi phí sản xuất là giới hạn
dưới, là phần cứng của giá cả, còn doanh lợi càng nhiều càng tốt. Đối với người mua, giá cả
phải phù hợp lợi ích giới hạn của họ. Giá cả thị trường dung hoà được cả lợi ích của người
mua lẫn lợi ích của người bán. Tất nhiên, trong cuộc “giằng co” giữa người mua và người
bán để hình thành giá cả thị trường, lợi thế sẽ nghiêng về phía người bán, nếu như cung ít,
cầu nhiều và ngược lại, lợi thế sẽ nghiêng về phía người mua nếu như cung nhiều, cầu ít.
Bốn là: cạnh tranh là tất yếu của kinh tế thị trường. Nó tồn tại trên cơ sở những đơn vị
sản xuất hàng hoá độc lập và khác nhau về lợi ích kinh tế. Theo yêu cầu của quy luật giá trị,
tất cả các đơn vị sản xuất hàng hoá đều phải sản xuất và kinh doanh trên cơ sở hao phí lao
hiện là quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi lẫn nhau giữa các giá trị sử dụng khác nhau. Hai
hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi được với nhau theo một tỷ lệ nhất
định, vì chúng đều là sản phẩm của lao động, có cùng cơ sở là sự hao phí sức lao động của
con người. Lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá là giá trị
của hàng hoá.
Như vậy, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện
của giá trị.
Giá trị của hàng hoá là biểu hiện mối quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất
hàng hoá và nó là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá.
Lượng giá trị của hàng hoá được xác định như thế nào? Nếu giá trị của hàng hoá là
lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá, thì lượng giá trị của
hàng hoá là số lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất ra hàng hoá (bao gồm thời gian lao động sống và thời gian lao động vật hoá - thể hiện ở tư liệu sản xuất), nó được đo bằng đơn
vị đo của thời gian như giờ, ngày, tuần, quý, tháng,
Trong điều kiện sản xuất tư nhân thì mỗi người sản xuất có hao phí lao động cá biệt sẽ
tạo thành giá trị cá biệt của hàng hoá. Nhưng trên thị trường không thể dựa vào giá trị cá
biệt của hàng hoá để trao đổi, mà phải dựa vào giá trị xã hội của hàng hoá.
Giá trị xã hội của hàng hoá được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản
xuất ra hàng hoá quyết định. Đó là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá trong điều
kiện sản xuất trung bình của xã hội: kỹ thuật trung bình, cường độ lao động hao phí trung
bình; kỹ năng, kỹ sảo trung bình, thông thường, thời gian lao động xã hội cần thiết gắn sát
với thời gian lao động cá biệt của người sản xuất hàng hoá nào đó mà có khả năng cung ứng
được đa số loại hàng hoá trên thị trường.
Có những yếu tố nào ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hoá? Thời gian hao phí lao
động xã hội cần thiết của 1 hàng hoá không phải là 1 đại lượng cố định mà nó thay đổi, vì nó
phụ thuộc vào 2 yếu tố là: năng suất lao động và cường độ lao động.
Năng suất lao động: là hiệu quả có ích của lao động sản xuất vật chất của con người,
nó được đo bằng số lượng sản phẩm làm ra trong 1 đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian
động giản đơn trung bình của xã hội.
a.1.3. Tính 2 mặt của lao động sản xuất hàng hoá.
Hàng hoá có 2 thuộc tính trên bởi vì lao động sản xuất hàng hoá có tính chất 2 mặt là
lao động cụ thể và lao động trừu tượng.
Lao động cụ thể: là lao động sản xuất vật chất của con người, nó được tồn tại dưới
hình thức nghề nghiệp chuyên môn nhất định, lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của vật
phẩm, các lao động cụ thể khác nhau về chất, mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng,
phương pháp riêng, đối tượng và kết quả riêng.
Lao động cụ thể là 1 phạm trù vĩnh viễn, nó gắn liền với lao động sản xuất vật chất của
con người.
Lao động trừu tượng: là lao động hao phí của người sản xuất hàng hoá nói chung về
sức thần kinh, cơ bắp, thể lực và trí lực, nếu như gạt bỏ tính muôn màu muôn vẻ của các hình thức cụ thể của lao động. Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hoá nên nó là 1
phạm trù lịch sử.
Tuy nhiên, cần chú ý là không phải có 2 thứ lao động kết tinh trong hàng hoá mà chỉ là
lao động của người sản xuất hàng hoá có tính 2 mặt mà thôi.
Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn thì tính 2 mặt của lao động sản xuất hàng hoá là
sự biểu hiện của mâu thuẫn lao động tư nhân và lao động xã hội của những người sản xuất
hàng hoá. Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá giản đơn.
a.2. Tiền tệ.
a.2.1. Nguồn gốc và bản chất của tiền tệ.
Giá trị của hàng hoá rất trừu tượng, nó chỉ được bộc lộ qua giá trị trao đổi, giá trị của
hàng hoá được biểu hiện bằng tiền thì được gọi là giá cả của nó. Tiền tệ xuất hiện là kết quả
của quá trình lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hoá, của các hình thức giá trị hàng hoá.
Hình thái đầu tiên của giá trị là hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên, khi số hàng hoá trao
đổi còn rất ít và diễn ra hoàn toàn ngẫu nhiên. ở hình thái này, hàng hoá thứ nhất biểu hiện giá
trị của nó ở hàng hoá thứ 2, còn hàng hoá thứ 2 đóng vai trò là vật ngang giá.
Khi mà số lượng hàng hoá trao đổi trên thị trường có nhiều hơn thì một hàng hoá có
- Chức năng phương tiện thanh toán: sản xuất hàng hoá và lưu thông hàng hoá phát
triển làm xuất hiện hiện tượng mua bán chịu do đó tiền còn làm chức năng thanh toán. Với
chức năng này phát triển sẽ làm tăng thêm sự phụ thuộc giữa những người sản xuất hàng
hoá.
- Chức năng tiền tệ thế giới: việc buôn bán giữa các nước xuất hiện thì tiền tệ còn làm
chức năng thanh toán quốc tế. Làm chức năng này phải là tiền thật, tức là vàng.
Các chức năng trên của tiền tệ biểu hiện rõ nét bản chất của nó, chúng có quan hệ mật
thiết với nhau và ra đời theo trình độ phát triển của kinh tế hàng hoá.
* Quy luật lưu thông tiền tệ. Để thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, ở mỗi thời kỳ cần có một số tiền nhất
định, số lượng tiền này được xác định bằng quy luật lưu thông tiền tệ. Quy luật này được
xác định như sau:
Số lượng;tiền cần;thiết trong;lưu thông
=
Error!
Đây là quy luật lưu thông của tiền vàng.
* Lạm phát:
Quy luật lưu thông tiền tệ nói trên là quy luật của tiền vàng. Trong điều kiện lưu thông
tiền giấy lại khác. Vì tiền giấy không làm chức năng phương tiện cất giữ được, nên khi số
lượng tiền giấy đưa vào lưu thông quá mức cần thiết sẽ dẫn đến lạm phát.
Lạm phát là 1 hiện tượng chung của nền kinh tế hàng hoá.
Lạm phát biểu hiện rõ rệt ở sự tăng lên của giá cả hàng hoá và dịch vụ. Lạm phát dẫn
đến phân phối lại các nguồn thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và giảm tiền lương thực tế
của những người sống bằng lương và hưởng trợ cấp xã hội bằng tiền.
Căn cứ tốc độ tăng của giá cả mà người ta chia lạm phát thành 3 loại:
Tăng dưới 10% gọi là lạm phát vừa phải.
Tăng dưới 100% gọi là lạm phát phi mã.
Tăng từ 100% trở lên được gọi là siêu lạm phát.
- Chức năng cung cấp thông tin: thị trường nó cung cấp thông tin cho người sản xuất
và người tiêu dùng. Thị trường chỉ rõ những biến động về nhu cầu xã hội, số lượng, giá cả,
cơ cấu và xu hướng thay đổi của nhu cầu các loại hàng hoá và dịch vụ. Đó là những thông
tin cực kỳ quan trọng đối với những người sản xuất hàng hoá, giúp họ điều chỉnh sản xuất
cho phù hợp với quan hệ cung - cầu, thay đổi quy cách, mẫu mã cho phù hợp nhu cầu, thị
hiếu người tiêu dùng.
- Là đòn bẩy kích thích và hạn chế sản xuất và tiêu dùng trên thị trường, mọi hàng hoá
đều bán và mua theo giá cả thị trường. Cạnh tranh và cung - cầu làm cho giá cả thị trường biến đổi. Thông qua sự biến đổi đó,
thị trường có tác dụng kích thích và hạn chế sản xuất đối với người sản xuất, kích thích và
hạn chế tiêu dùng đối với người tiêu dùng.
b.1.3. Phân loại thị trường:
Sự hình thành, phát triển của thị trường gắn liền với sự hình thành, phát triển của sản
xuất, lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ. Thị trường có vai trò to lớn thúc đẩy sự phát
triển, mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hoá. Trong lịch sử đã xuất hiện nhiều cách phân
loại thị trường khác nhau. Chẳng hạn, dựa vào các hình thức lưu thông hàng hoá, người ta
phân loại thị trường: thị trường cung ứng vật tư kỹ thuật, thị trường hàng tiêu dùng. Dựa vào
quan hệ sở hữu, người ta chia thị trường thành thị trường có tổ chức và thị trường tự do.
Sự phân chia thị trường như trên đã tồn tại thời gian khá dài ở nước ta. Nó có nhiều
nhược điểm và hạn chế. Một mặt nó phản ánh nhận thức không đúng về nền kinh tế XHCN,
mặt khác nó cũng phản ánh trình độ phát triển thấp của nền kinh tế hàng hoá và trạng thái
bao cấp trong nền kinh tế. Hiện nay nước ta đang phát triển nền kinh tế hàng hoá nên việc
nghiên cứu thị trường và phân loại thị trường có ý nghĩa quan trọng.
Có thể phân loại thị trường như sau:
Một là, thị trường hàng tiêu dùng và dịch vụ. ở thị trường này người ta múa bán những
tư liệu sinh hoạt như lương thực, thực phẩm, vải vóc, quần áo và các phương tiện sinh hoạt
gia đình, Ngoài những hàng hoá hữu hình, còn có những hàng hoá hữu hình được coi là
dịch vụ như: sửa chữa, may vá, cắt tóc, Hoạt động dịch vụ ngày càng phát triển và nó đem
động, giảm chi phí sản xuất mà còn cải tiến chất lượng, hình thức hàng hoá, làm cho sản
xuất gắn liền với tiêu dùng, phục vụ cho nhu cầu của xã hội tốt hơn.
Tóm lại, quy luật cạnh tranh có tác dụng bình tuyển tự nhiên những cái tiến bộ và đào
thải cái lạc hậu để thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển.
Bên cạnh những mặt tích cực thì cạnh tranh cũng đồng thời để lại những hiệu quả tiêu
cực. Đó là phân hoá những người sản xuất hàng hoá, làm phá sản những người sản xuất gặp
khó khăn do trình độ công nghệ thấp, ít vốn, gặp rủi ro, vào những hoàn cảnh, điều kiện
không thuận lợi. Mặt khác, trong cạnh tranh người ta dùng rất nhiều thủ đoạn, có những thủ
đoạn kinh tế nhưng cũng có những thủ đoạn bằng bạo lực, b.2.3. Các hình thức cạnh tranh:
C.Mác đã nghiên cứu chủ nghĩa tư bản ở trong giai đoạn tự do cạnh tranh, ông đã nêu
ra 2 loại cạnh tranh là: cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành với
nhau. Còn các nhà kinh tế học tư sản thì lại phân cạnh tranh thành: cạnh tranh hoàn hảo và
cạnh tranh không hoàn hảo.
c. Cơ chế thị trường.
c.1. Khái niệm:
Nói tới cơ chế thị trường là nói tới bộ máy tự điều tiết quá trình sản xuất và lưu thông
hàng hoá, điều tiết sự vận động của nền kinh tế thị trường.
Hiện nay đã có nhiều định nghĩa về cơ chế thị trường, nói chung thì cơ chế thị trường
là những nhân tố, những quan hệ, những công cụ, mà Nhà nước sử dụng để tác động đến
nền kinh tế hàng hoá, làm cho nó vận động theo những quy luật vốn có của nó để đạt được
những mục tiêu xác định.
Nói đến cơ chế thị trường là trước hết phải nói đến thị trường. Đó là lĩnh vực mà người
mua và người bán tác động lẫn nhau để xác định giá cả và sản lượng của hàng hoá và dịch
vụ nhằm giải quyết 3 vấn đề là: cái gì? bằng cách nào? cho ai? ở trên thị trường.
Nói đến cơ chế thị trường là phải nói tới 2 mặt cơ bản của nó là: cung - cầu và giá cả
của hàng hoá.
Nói đến cơ chế thị trường là phải nói tới lợi nhuận. Vì nó là động lực thúc đẩy các chủ
- Sức cung: là đại biểu cho người sản xuất. Tức là số lượng hàng hoá đã, đang và sẽ
được cung cấp cho thị trường với 1 giá cả nhất định.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sức cung như: quy mô sản xuất, chi phí sản xuất, giá
cả, Trong đó giá cả là quan trọng nhất, bởi vì với 1 lượng hàng hoá cung cấp nhất định,
nếu giá cả tăng lên so với trước thì sẽ làm cho sức cung tăng lên và ngược lại. Tuy nhiên
điều này còn phụ thuộc vào điều kiện sản xuất của từng mặt hàng.
P
O Q
D
Hình 1: Đường
c
ầu
P
O Q
S
Hình 1: Đường
cung
Quan hệ giữa sức cung và giá cả được biểu hiện bằng đồ thị ở Hình 2.
- Cung-cầu và giá cả thị trường:
Giữa cung - cầu và giá cả thị trường có mối quan hệ với nhau. Giá cả thị trường là giá
bán hàng hoá ở trên thị trường. Người bán muốn bán với giá cao, người mua thì trả giá thấp.
M P
0
Q
0
nhuận siêu ngạch làm động lực hoạt động. Động lực này đòi hỏi các doanh nghiệp phải
thường xuyên hạ thấp chi phí lao động cá biệt xuống thấp hơn chi phí lao động xã hội cần
thiết. Điều này đòi hỏi phải nâng cao năng suất lao động trên cơ sở áp dụng những thành tựu
mới của khoa học kỹ thuật công nghệ.
Hai là, cơ chế thị trường có tính năng động và khả năng thích nghi nhanh chóng với
những điều kiện về kinh tế - xã hội, với cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay, với
xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá, Sở dĩ như vậy là vì: trong kinh tế thị trường tồn tại
1 nguyên tắc ai đưa ra thị trường 1 loại hàng hoá mới và đưa ra sớm nhất sẽ thu được lợi
nhuận nhiều nhất. Điều đó tất yếu đòi hỏi phải năng động thường xuyên và đổi mới thường
xuyên.
Ba là, trong nền kinh tế thị trường hàng hoá rất phong phú đa dạng. Do vậy, nó tạo
điều kiện thuận lợi cho việc thoả mãn ngày càng tốt hơn những nhu cầu vật chất, văn hoá và
sự phát triển toàn diện của mọi thành viên trong xã hội.
c.3.2. Cơ chế thị trường cũng có những nhược điểm mà bản thân nó tự giải quyết
được.
Trước hết phải nói tới những căn bệnh gắn liền với sự hoạt động của cơ chế thị trường
đó là: khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, lạm phát, Do kinh tế thị trường hoạt động theo
chu kỳ.
Khủng hoảng sản xuất “thừa” là căn bệnh cố hữu của nền kinh tế thị trường phát triển.
ở đây, do mức cung hàng hoá vượt quá mức cầu có khả năng thanh toán, cho nên dẫn đến
tình trạng “dư thừa hàng hoá” nguyên nhân của tình trạng này là do mâu thuẫn của phương
thức sản xuất TBCN. Mâu thuẫn này thể hiện ở tính kế hoạch cao độ trong từng doanh