LUẬN VĂN: Lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về kinh tế thị trường và sự vận dụng nó ở nước ta từ khi đổi mới tới nay - Pdf 12


LUẬN VĂN:

Lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về
kinh tế thị trường và sự vận dụng nó ở
nước ta từ khi đổi mới tới nay I/ lời mở đầu

Trong quá trình đổi mới nền kinh tế nước ta, vấn đề giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa được đặt ra như một nguyên tắc, một vấn đề chiến lược. Bởi vì có quá độ lên chủ
nghĩa xã hội được hay không, điều đó trước hết phụ thuộc vào công cuộc xây dựng nền

-sự phát triển của Lênin:kinh tế thị trường trong chủ nghĩa xã h
- sự vận dụng vào nước ta từ 1986 tới nay

Ii/ nội dung
A/CƠ sở lý luận của vấn đề
1/Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường
a/Kinh tế thị trừơng là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá
Từ nền kinh tế tự nhiên chuyển sang nền kinh tế hàng hoá giản đơn
Mặc dù có những đặc điểm riêng,nhưng tât cả những phương thức sản xuất tiền tư bản
chủ nghĩa đều có nét chung là nền kinh tế tự nhiên. trong nền kinh tế tự nhiên sản xuất
nhỏ chiếm ưu thế. Nền kinh tế tự nhiên do nhiều đơn vị kinh tế thuần nhất hợp thành (
các gia đình nông dân gia trưởng,các công xã nông thôn,các lãnh địa phong kiến) và
mỗi đơn vị kinh tế ấy làm chủ mọi công việc để tạo ra những sản phẩm cuối cùng.
Trong nền kinh tế tự nhiên, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu; nông nghiệp là nghành
sản xuất cơ bản; công cụ và kỹ thuật canh tác lạc hậu: dựa vào lao động chân tay là chủ
yếu, chỉ có một số trang trạI của địa chủ hoặc phường hội mới có hiệp tác lao động giản
đơn. trong nền kinh tế dưới chế độ phong kiến, phân công lao đông kém phát triển, cơ
cấu nghành đơn điệu, mới chỉ có một số nghề thủ công tách khỏi nông nghiệp, sản xuất
chủ yếu hướng vào giá trị sử dụng, có tính chất tự cung tự cấp. Trong chế độ phong
kiến, bên cạnh sở hữu phong kiến còn có sở hữu cá thể nhỏ của nông dân và thợ thủ
công về công cụ lao đông, nhà cửa , giống và những tàI sản phụ khác. những hình thức
sở hữu đó là hinh thức tồn tạI của những tiểu nông và thợ thủ công độc lập. Sản xuất
nhỏ gồm hai dạng: sản xuất nhỏ mang tính tự cung, tự cấp và sản xuất nhỏ dưới hình
tháI sản xuất hàng hoá giản đơn. hai hình tháI đó có thể hiện hai trình độ phát triển khác
nhau của trình độ sản xuất xã hội. Sản xuất nhỏ chỉ đạt tới hình tháI điển hình khi
người lao động là người chủ tự do của những tư liệu sản xuất do chính họ sử dụng.
Những đặc điểm chủ yếu của sản suất nhỏ là:

phận ngày càng đông trong dân cư tách khỏi nông nghiệp để làm công nghiệp, làm cho
nhân khẩu nông nghiệp giảm xuống. Sự phát triển công nghiệp và nông nghiệp, sự hình
thành những trung tâm công nghiệp ,sức hút của chúng với dân cư ảnh hưởng sâu sắc
tới đời sống nông thôn, thúc đẩy nông nghiệp hàng hoá phát triển. Những người sản
xuất ở những vùng khác nhau có những điều kiện tự nhiên khác nhau, có khả năng và
ưu thế trong sản xuất những sản phẩm khác nhau có hiệu quả hơn. ngay trong một vùng
một địa phương, những người sản xuất cũng có những khả năng , điều kiện kinh nghiệm
sản xuất khác nhau. Mỗi người sản xuất chỉ tập trung sản xuất sản phẩm nào mà mình
có ưu thế, đem sản phẩm của mình ra trao đổi lấy những sản phẩm cần thiết cho sản
xuất và đời sống của mình. Họ trở thành những người sản xuất hàng hoá. Trao đổi mua bán, thị trường tiền tệ ra đời và phát triển. Sản xuất hàng hoá ra đời, lúc đầu dưới hình
hình thức sản xuất hàng hoá nhỏ giản đơn nhưng là một bước tiến lớn trong lịch sử nhân
loại.
Từ kinh tế hàng hoá giản đơn lên nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời từ nền kinh tế hàng hoá giản đơn, nhưng có đặc
điểm cơ bản khác với nền kinh tế hàng hoá giản đơn. ở đây người sản xuất trực tiếp là
những người công nhân làm thuê, không phải là những người sở hữu tư liệu sản xuất,
còn tư liệu sản xuất thụôc nhà tư bản, sản phẩm lao động do những người công nhân
làm ra thuôc về chủ sở hữu tư liệu sản xuất. Sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời khi có
haiđiều kiện sau đây: phải có sư tập trung một số tiền lớn vào trong tay một số ít người
đủ để lập ra các xí nghiệp. Và các ông chủ xí nghiệp phải tìm được người lao động làm
thuê. đó là những người tự do sở hữu năng lực lao động của mình, có thể bán sức lao
động cho người cần mua trong quan hệ bình đẳng với nhau về mặt pháp lý. Khi bán sức
lao động vẫn sở hữu sức lao động của mình. đó là điều khác nhau với người nô lệ trước
đây. hơn nữa họ buộc phải bán sức lao động để kiếm sống, vì không còn tư liệu sản xuất
để trực tiếp kết hợp với sức lao động của mình. “tư bản chỉ phát sinh ở nơi nào mà
người chủ những tư liêu sản xuất và tư liêu sinh hoạt tìm thấy người lao động tự do vơí
tư cách là người bán sức lao động của mình ở trên thị trường và chỉ điều kiện lịch sử ấy

dùng bạo lực đuổi nông dân ra khỏi những vùng đất đai mà họ vẫn canh tác để biến
đồng ruộng thành bãI chăn cừu; đồng thời ban hành những đạo luật máu để chống lạI
những người nông đã bị mất ruộng đất, như cấm họ đI lang thang hoặc ra nước ngoài,
nhằm buộc họ làm thuê. Lượng cầu về lao động tăng lên nhanh cùng với tích luỹ tư bản,
trong khi lượng cung về lao động làm thuê chỉ theo sau một cách chậm chạp. bởi vậy
nhà nước đã rá pháp chế về lao động làm thuê để tạo điều kiện thuận lợi cho giai cấp tư
sản bóc lột công nhân. Chính việc biến những người tiểu nông thành công nhân làm
thuê và biến những tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt của họ thành những yếu tố tư
bản cũng đồng thời tạo ra thị trường trong nước cho tư bản. Nếu trước kia gia đình nông
dân tự mình sản xuất và chế biến tư liệu sản xuất và nguyên liệu để rồi tự mình tiêu
dùng một phần lớn, thì giờ đây những nguyên liệu và tư liệu sinh hoạt đó trở thành hàng
hoá. Vậy là đi đôi với việc tước đoạt những người nông dân độc lập trứơc đây và viêc
tách họ ra khỏi tư liệu sản xuất cũng diễn ra thủ tiêu nghề phụ gia đình ở nông thôn và
sự tách rời công trường thủ công với nghề nông. Và chỉ có sự thủ tiêu nghề phụ gia đình
ở nông thôn mới làm cho thị trường bên trong của một nước có được qui mô và sự ổn
định cần thiết cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Tích luỹ ban đầu còn được khai thác bằng những mỏ vàng, bạc mới được phát hiện ở châu mỹ,dựa vào việc sử
dụng nô lệ bản xứ; bằng việc buôn bán nô lệ ở châu phi; bằng việc trinh phục và cướp
bóc thuộc địa bằng thực hiện chính sách thực dân thực hiện thương mại bất bình đẳng,
mua rẻ bán đắt; bằng phát hành công tráI, v v nhận xét về tích luỹ ban đầu C.Mác
viết:”việc tìm thấy các mỏ vàng,bạc ở châu mỹ, việc tuyệt diệt người bản xứ, bắt họ làm
nô lệ và chôn vùi họ trong các hầm mỏ, việc bắt đầu đi chinh phục và cướp bóc miền
đông ấn, việc biến châu phi thành khu cấm để săn bắt buôn bán người da đen- đó là bình
minh của thời đại sản xuất tư bản chủ nghĩa. Những quá trình thơ mộng ấy là những yếu
tố chủ yếu tích luỹ ban đầu” tất cả các phương pháp đó đều lợi dụng quyền lực nhà
nước, tức là quyền lực xã hội tập trung và có tổ chức, để đẩy nhanh quá trình chuyển
hoá của phương thức sản xuất phong kiến thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa,
và rút ngắn giai đoan quá độ của quá trình đó lại. Bạo lực là bà đỡ của một chế độ xãhội

cung cầu hàng hoá ,dịch vụ. Trên cơ sở giá trị thị trường, giá cả là kết quả của sự
thương lượng và sự thoả thuận giữa người mua và người bán. Đặc trưng này phản ánh
yêu cầu của quy luật lưu thông hàng hoá. Trong quá trình trao đổi mua bán hàng hoá,
người bán luôn luôn muốn bán với giá cao, ngưòi mua lại luôn muốn mua với giá thấp.
Đối với người bán giá cả phải bù đắp được chi phí và có doanh lợi. Chi phí sản suất là
giới hạn dưới, là phần cứng của giá cả, còn doanh lợi càng nhiều càng tốt. Đối với
người mua giá cả phải phù hợp với lợi ích của họ. Giá cả thị trường dung hoà đựơc cả
lợi ích của người mua lẫn lợi ích của người bán. tất nhiên trong cuộc giằng co giữa
người mua và người bán hình thành nên giá cả thị trường, lợi thế sẽ nghiêng về phía
người bán nếu như cung ít cầu nhiều và ngược lại lợi thế sẽ nghiêng về phía người mua
nếu như cung nhiều cầu ít.
Bốn là cạnh tranh là một yêu cầu tất yếu của kinh tế thị trường. Nó tồn tạI trên cơ sở
những đơn vị sản xuất hàng hoá độc lập và khác nhau về lợi ích kinh tế. Theo yêu cầu
của qui luật giá trị, tất cả đơn vị sản xuất hàng hoá đều phải sản xuất và kinh doanh trên
cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết. Trong đIều kiện đó muốn có nhiều lợi nhuận
các đơn vị sản xuất và kinh doanh phải đua nhau cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật mới
vào sản xuất để nâng cao năng xuất lao động cá biệt, giảm hao phí lao động cá biệt
nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh diễn ra một
cách phổ biến trong cả lĩnh vực sản xuất lẫn cả lĩnh vực lưu thông. Cạnh tranh trong
lĩnh vực sản xuất bao gồm:canh tranh nội bộ nghành và giữa các ngành với nhau. Cạnh
tranh trong lĩnh vực lưu thông bao gồm: cạnh tranh giữa những người tham gia trao đổi
hàng hoá và dịch vụ trên thị trường(người bán với những người bán, người mua với những người mua). Hình thức, biện pháp rất phong phú nhưng động lực và mục đích
cuối cùng là lợi nhuận.
Năm là kinh tế thị trường là nền kinh tế mở. Nó rất đa dạng, phức tạp và được điều hành
bởi hệ thống tiền tệ , hệ thống pháp luật của nhà nước.
Mỗi đặc trưng trên phản ánh một khía cạnh mô hình kinh tế thị trường, tổng hợp cả năm
đặc điểm trên giúp ta hình dung được khái quát cấu trúc của nó.

đáo và tỷ mỉ. Do đó đã hạn chế được rất nhiều tác động tiêu cực của cơ chế thị trường.
Tuy nhiên xét trên bình diện vĩ mô các nhà nước tư bản đã tỏ ra bất lực vì quyền lực chi
phối sản xuất thuộc về từng chủ sở hữu riêng lẻ.
d/ phân loại thị trường và các chức năng chủ yếu của thị trường
Thứ nhất thị trường hàng tiêu dùng và dịch vụ. ở thị trường này người ta mua bán
những tư liệu sinh hoạt như lương thực thực phẩm, vải vóc quần áo và các tư liệu sinh
hoạt khác trong gia đình v.v những hàng hoá tiêu dùng ngày càng nhiều theo đà phát
triển của kinh tế hàng hoá. NgoàI những hàng hoá hữu hình, còn có những hàng hoá vô
hình được coi là dịch vụ như sửa chữa, may vá cắt tóc.v.v hoạt động dịch vụ ngày càng
phát triển và đem lại những thu nhập ngày càng lớn.Nhìn chung, ở thị trường hàng hoá
và dịch vụ người ta mua bán những sản phẩm là kết quả của sản xuất, nên thị trường
này được gọi tắt là thị trường đầu ra.
Hai là thị trường các yếu tố sản xuất. Trên thị trường này người ta mua , bán các yếu tố
cần thiết cho quá trình sản xuất: như các nguyên vật liệu thiết bị máy móc, sức lao
động.v v thị trường này được gọi là thị trường đầu vào.
Sự phân chia thị trường thành hai loạI như trên là dựa trên cơ sở chủng loại hàng hoá
đưa ra trao đổi trên thị trường,dựa vào sự phát triển phạm trù hàng hoá. Hàng hoá mở
rộng ra đến đâu thì thị trường cũng mở rộng ra tới đó. Ngày nay thị trường hàng hoá
được phát triển rộng rãi nó bao hàm các yếu tố đầu vào của sản xuất cũng như các sản
phẩm do sản xuất tạo ra. Khi những tư liệu tiêu dùng và dịch vụ là hàng hoá và xuất
hiện cung, cầu về những hàng hoá này thì xuất hiện trên thị trường hàng tiêu dùng và
dịch vụ. trong lịch sử loạI thị trường này xuất hiện rất sớm. Khi các yếu tố sản xuất(tư
liệu sản xuất và sức lao động) trở thành hàng hoá và khi có cung, cầu về các yếu tố này
thì thị trường các yếu tố sản xuất ra đời. LoạI thị trường này thường xuất hiện sau thị
trường hàng tiêu dùng và dịch vụ.
Thị trường thường có chức năng chủ yếu sau:
Thực hiện giá trị hàng hoá. Trong chức năng này, thị trường là nơI giá trị hàng hoá được
thực hiện hoặc không được thực hiện; có thể thực hiện cao, bằng và thấp hơn giá trị
E/ Cơ chế thị trường và các qui luật kinh tế hiện nay có rất nhiều kháI niệm khác nhau về cơ chế thị trường
cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố, quan hệ, môI trường, động lực và quy luật chi
phối sự vận động của thị trường.
Cơ chế thị trường là thiết chế kinh tế chi phối ý chí và hành động của người sản xuất và
người tiêu dùng, người bán và người mua thông qua cơ chế thị trường và giá cả.
Cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế trong đó cá nhân người tiêu dùng và
các doanh nghiệp tác động qua lạI lẫn nhau trên thị trường để xác định vấn đề trung tâm
của tổ chức kinh tế là sản xuất cáI gì? như thế nào? và cho ai?
Tuy nhiên nên tiếp cận với kháI niệm cho rằng cơ chế thị trương là bộ máykinh tế đIều
tiết toàn bộ sự vận động của cơ chế thị trường, đIều tiết quá trình sản xuất và lưu thông
hàng hoá thông qua sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan .
Quy luật giá trị, cạnh tranh và cung cầu
Trong nền kinh tế hàng hoá, hàng hoá và dịch vụ do nhiều chủ thể sản xuất ra. Những
chủ thể này cạnh tranh với nhau, tìm cáchgiữ vững và mở rộng thêm vị thế của mình
trên thị trường. Mỗi người sản xuất đêu độc lập, tự quyết định các hoạt động sản xuất-
kinh doanh của mình. Nhưng trong thực tế những quết định của người sản xuất-kinh
doanh chịu sự chi phối của thị trường. Sản xuất hàng hoá càng phát triển thì quyền lực
của thị trường đối với người sản xuất hàng hoá ngày càng mạnh mẽ. Quyền lực này tồn
tạI như một lực lượng khách quan chi phối họat động và độc lập với ý chí của người sản
xuất ;lực lượng khách quan đó chi phối những quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá,
mà trước hết là quy luật giá trị.
Quy luật giá trị
Nội dung
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Theo quy luật này sản xuất và lưu thông hàng hoá được thực hiện theo hao phí lao động
xã hội cần thiết. Những người sản xuất và trao đổi hàng hoá tuân theo mệnh lệnh của
giá cả thị trường. Thông qua sự vận động của giá cả thị trường sẽ thấy được sư vận

điều tiết lĩnh vực sản xuất mà còn điều tiết cả lĩnh vực lưu thông qua sự biến động của
giá cả. Hàng hoá được mang từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, từ nơi cung lớn hơn
cầu đến nơi cung nhỏ hơn cầu. Như vậy thông qua sự biến động của giá cả trên thị
trường ,qui luật giá trị có tác dụng phân phối lại hay điều tiết luồng hàng trên thị trường.
Thứ hai kích thích cải tiến kĩ thuật, hợp lý hoá sản xuất nhằm tăng năng xuất lao động.
Các hàng hoá được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau nên có giá trị cá biệt
khác nhau, nhưng trên thị trừng thì các hàng hoá đều được trao đổi theo giá trị xã hội. Người sản xuất có giá trị cá biệt nhỏ hơn giá trị xã hội ở thế có lợi sẽ thu được lợi nhuận
siêu ngạch; người sản xuất có giá trị cá biệt lớn hơn giá trị xã hội thì bất lợi. Muốn đứng
vững trong cạnh tranh và khỏi bị phá sản họ phải tìm cách làm cho giá trị cá biệt hàng
hoá của mình nhỏ hơn hoặc bằng giá trị xã hội do đó họ tìm cách cải tiến quản lý, cải
tiến kĩ thuật, tăng năng xuất lao động. Lúc đầu việc cải tiến đó còn lẻ tẻ nhưng do canh
tranh với nhau nên cuối cùng việc cải tiến mang tính xã hội. Rõ ràng qui luật giá trị
thông qua tác động này đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Thứ ba thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá giàu nghèo giữa những người sản
xuất hàng hoá. Trong quá trình cạnh tranh chạy theo lợi ích các nhân những người sản
xuất hàng hoá có điều kiện sản xuát khác nhau, tính năng động khau,b khả năng nắm bắt
nhu cầu thị trường khác nhau, khả năng đổi mới kĩ thuật công nghệ, hợp lý hoá sản xuát
khác nhau, do đó giá trị cá biệt của hàng hoá khác nhau, phù hợp với nhu cầu xã hội và
thị trường khác nhau. Ttrong điều kiện đó không tránh khỏi tình trạng một số người
giàu lên mau sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh, và một số người
khác bị thua lỗ thu hẹp sản xuất, thậm trí bị phá sản trở thành người nghèo. Đầu cơ lừa
đảo khủng hoảng kinh tế làm tăng thêm tác động phân hoá này.
Quy luật cạnh tranh
Cạnh tranh là động lực ,là một trong những nguyên tác cơ bản, tồn tại khách quan và
không thể thiếu được của sản xuất hàng hoá. Cạnh tranh là sự ganh đua,sự đấu tranh về
kinh tế giữa cácchủ thể tham gia sản xuất-kinh doanhvới nhau nhằm giành những điều
kiện thuận lợi trong sản xuất kinh doanh, tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ thu được nhiều

cả hàng hoá là nhân tố tác động trực tiếp và tỷ lệ nghịch với lượng cầu. Giá cả hàng hoá
cao thì cầu về hàng hoá đó thấp, ngược lại giá cả hàng hoá thấp lượng cầu hàng hoá đó
sẽ cao.
Cung là khối lượng hàng hoá , dịch vụ mà các chủ thể kinh tế đem bán ra trên thị trường
trong một thời kỳ nhất định, tương ứng với mức giá cả, khả năng sản xuất, chi phí sản
xuất xác định. Lượng cung phụ thuộc vào khả năng sản xuất vào sản lượng, chất lượng
các nguồn lực, các yếu tố sản xuất được sử dụng, năng suất lao động và các chi phí sản
xuất.
f/ Những ưu thế và khuyết tật của cơ chế thị trường
Cơ chế thị trường có những ưu thế sau đây:
Trước hết cơ chế thị trường kích thích việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng năng
suất lao động, nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất. Kinh tế thị trường lấy lợi nhuận siêu ngạch làm mục tiêu hoạt động. động lực này đòi hỏi các doanh nghiệp thường
xuyên hạ thấp chi phí lao động cá biệt xuống thấp hơn chi phí lao động xã hội cần
thiết.đièu này đòi hỏi phải nâng cao năng suất lao động trên cơ sơ áp dụng những thành
tựu mới của khoa học công nghệ.
Hai là,cơ chế thị trường có tính năng động và khả năng thích nghi nhanh chóng.
Sở dĩ như vậy là vì: trong kinh tế thị trường tồn tạimột nguyên tắc là ai đưa ra thị trường
một loại hàng hoá mới và sớm nhất sẽ thu được lợi nhuận nhiều nhất. điều đótất yếu đòi
hỏi phải năng động thường xuyên và thường xuyên đổi mới.
Ba là trong điều kiện kinh tế thị trường hàng hoá rất phong phú và đa dangj.do vậy nó
tạo điều kiện thuận lọi cho việc thoả mãn ngày càng tốt hơnnhững nhu cầu vật chất, văn
hoá và sự phát triển của mọi thành viên trong xã hội.
Cơ chế thị trường có những khuyết tật mà bản thân nó không thể tự giải quyết được.
Trước hết phải nói tới những căn bệnh gắn liền với sự vận động của cơ chế thị trườngđó
là: khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp ,lạm phát, phân hoá giàu nghèo và gây ô nhiễm môi
trường Do mức cung hành hoá vượt quá mức cầu có khả năng thanh toán, cho nên
dẫn tới tình trạng dư thừa hàng hoá. Nguyên nhân của tình trạng trên là do mâu thuãn cơ

nhằn tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ mới.
B/ Nội dung của NEP
Nội dung của NEP là một hệ thống gồm nhiều mắt khâuliên hoàn có mối liên hệ bên
trong như một dây truyền không thể thiếu khâu nào. tất cả các khâu tạo thành cơ chế
kinh tế cho phép nhà nước tháo gỡ khó khăn, điều hành sự vận động của kinh tế xã hội
-khâu thứ nhất: thuế lương thực
có thể coi đâylà khâu đầu, là bước quá độ từ trạng thái hỗn loạn sang cơ chế kinh tế
mới. điều này được xuất phát từ điều kiện nước nga lúc bấy giờ; giai cấp nông dân và
nông nghiệp là nguồn nuôi sống xã hội. Khó khăn rất lớn mà nhà nước nga vấp phải là
thiếu lương thực. Nạn đói 1921 càng làm tăng khó khăn đó. Vì vậy mục đích của thuế
lương thực là một trong những biện pháp cấp tốc cương quyết nhất để cải thiện đời sống
nông dânvà nâng cao lực lượng sản xuất. Thực hiện thuế lương thực, xoá bỏ chế độ
trưng thu lương thực thừa có ý nghĩa là cchuyển từ biện pháp hành chính thuần tuý sang
biện pháp kinh tế, thuế lưong thực vai trò trong bước quá độ đó. Tác dụng kích thích
của thuế lương thực đối với nông dân sản xuất và có điều kiện cải tiếnđời sôngs của
mình là ở mức thuế thấp. Mức thuế lương thực đã giảm xuống thấp hơn mức trưng thu
gần 1/2thủ tục thu thuế được giản đơn hoá. Do mức thuế thấp nên năn 1921 chỉ thu
được 240 triệu pút lúa mì so với 423 triệu pút trước đây. nhưng để bù lại do nông dân hăng hái sản xuất, mở rộng diện tích nên tổng sản lượng lương thực của xã hội và các
nông sản khác được tăng lên. nhà nước qua con đường trao đổi có được khối lượng thực
nhiều hơn. ngoài ra do mức thuế ổn định người nông dân nào cũng biết trước só thuế hải
nộp nên cố gắng sản xuất vượt quá mức độ. Nhà nước thu thuế dễ dàng thuận lợi, là yếu
tố mạnh mẽ để khôi phục nền nông nghiệp sau chiến tranh.
-khâu thứ hai :khôi phục và phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp thông qua
trao đổi sản phẩm giữa nông nghiệp và công nghiệp.
Muốn cải thiện đời sống nông dân và công nhân thì không thể dựa vào nền nông nghiệp
gia trưởng mang tính tự cung tự cấp mà chỉ có thể dựa vào nền nông nghiệp hàng hoá.
Trong thời kỳ áp dụng chính sách cộng sản thời chiến xu hướng hiện vật hoá được duy

đánh giá theo quan điểm mới như sau “người nào thu được 75% thuế lương thực và
75% (của trăm thứ hai) bằng cách đổi sản phẩm của đại và tiểu công nghiệp đã làm một
công tác có ích cho nhà nước hơn người thu 100% thuế và 55% ( của trăm thứ hai) bằng
cách trao đổi. Như vậy chính sách thuế lương thực của lê nin còn bao hàm tư tưởng
chuyển sang kinh doanh lương thực được coi như một đòn bẩy quan trọng cho sự phát
triển sản xuất lương thực và sản xuất nông nghiệp nói chung. Theo nghĩa đó nhà nước
đã đem lại sự giúp đỡ to lớn về tài chính và kỹ thuật cho nông dân
-khâu thứ ba: khôi phục và tổ chúc sản xuất lại nền công nghiệp phù hợp với nhu cầu
của nông nghiệp và nông dân
Một trong những điều kiện trao đổi hàng hoá là cần quỹ hàng hoá công nghiệp có cơ
cấu phù hợp với nhu cầu nông thôn. theo tư tưởng của lê nin khôi phục sẩn xuất công
nghiệp có hai yêu cầu quan trọng: một là có đủ hàng hoá trao đổi hàng hoá với nông dân
để kích thích nông nghiệp. Hai là tập hợp hai giai cấp nông dân đang phân tán vì đói và
thiếu việc làm, củng cố kỷ luật lao động, duy trì sản xuất lao động cần thiết để phát huy
công nghiệp và giai cấp công nhân. để thực hiện hai yêu cầu đó cần tìm tòi những khả
năng thực tế. Một là phải sắp xếp lại, lựa chọn những ngành công nghiệp phục vụ trực
tiếp nông nghiệp, đặc biệt chú trrọng phát triển tiểu thủ công nghiệp là thứ công nghiệp
không đòi hỏi phải đầu tư lớn để tìm nguyên liệu. Hai là nhà nước phải dành một số vốn
đầu tư nhất định. Nhìn một cách tổng quát quá trình khôi phục sản xuất công nghiệp có
những đặc điểm và tính qui luật sau :
Một là khôi phục công nghiệp trên cơ sở kỹ thuật cũ
Hai là phạm vi khôi phục sản xuất công nghiệp cân đối với nguồn tài chính, nhiên liệu
và nguyên liệu Ba là bước đi của quá trình khôi phục công nghiệp. Xuất phát từ nhu cầu nông nghiệp
và nông thôn có tính đến khả năng tích luỹ ngay trong quá trình khôi phục. Trước hết
khôi phục công nghiệp nhẹ và nông nghiệp thực phẩm, là những ngành gắn bó với nông
nghiệp về nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm. Tiếp đó là khôi phục công nghiệp thân, các
ngành công nghiệp nặng được khôi phục chậm hơn

chức tài chính quốc gia, điều tiết giá cả nhằm thiết lập quan hệ kinh tế giữa thành thị và
nông thôn. tất cả những phương hướng ấy là tiền đề cải cách tài chính tiền tệ. Nhưng
nhiều biện pháp của LÊ NIN không được thực hiện vì nội chiến xảy ra. Tuy vậy quan
điểm tài chính dựa trên kinh tế hàng hoá của lê niin đã nhất quán. ngay trong thời kỳ
thực hiện chính sách cộng sản thời chiến, khi có nhiều ý kiến cho rằng không cần dùng
đến tiền tệ, hình thức hàng-tiền nữa , thì lê nin cũng chỉ ra rằng trong thời đại chuyên
chính vô sản và chế độ công hữu vè tư liệu sản xuất, tài chính nhà nước phải trực tiếp
dựa trên cơ sở lưu thông của một bộ phận thu nhập nhất định cuả độc quyền nhà nước.
Việc cân đối thu chi có thể thực hiện được trên cơ sở tổ chức việc trao đổi hàng hoá
đúng đắn.
trong hệ thống các biện pháp để giải quyết cuộc khủng hoảng, từ thuế lương thực đến
trao đổi hàng hoá giữa nông nghiệp với công nghiệp, thì việc ổn định đồng tiền thì trở
thành khâu cuối cùng, có tác dụng củng cố kết quả toàn bộ hệ thống, chuyển hẳn nền
kinh tế quóc dân sang quĩ đạo mới và bước vào một giai đoạn phát triển ổn định vững
chắc.
C/ ý nghĩa của nep
chính sách kinh tế mới của lê nin có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, trước hết nó khôi phục
được nền kinh tế xô viết sau chiến tranh. Chỉ có một thời gian ngắn đã tạo ra bước phát
triển quan trọng biến “nước nga đói” thành một đất nước có nguồn lựcdồi dào. từ đó nó
khắc phục khủng hoảng chính trị, củng cố lòng tin cho nhân dân vào sự thắng lợi tất yếu
và bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội theo những nguyên lý mà lê nin đã vạch ra.
Chính sách kinh tế mới của lê nin còn đánh dấu một bước phát triển mới về lý thuyết
nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Theo tư tưởng này nền kinh tế nhiều thành phần, các hình
thức kinh tế quá độ, việc duy trì và phát triển kinh tế hàng hoá tiền tệ, quan tâm tới lợi
ích kinh tế cá nhân trước hết là nông dân là những vấn đề có tính nguyên tắc trong việc
xây dựng mô hình nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Từ đó chính sách kinh tế mới có ý
nghĩa quốc tế to lớn đối với các nước phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó
có nước ta. Những quan điểm kinh tế của đảng ta nhất là từ đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ v đến nay đã thể hiện nhận thức vận dụng quan điểm của lê nin trong chính sách


địa phương, đề ra những chính sách cụ thể, có tính chất đổi mới từng phần như: khăng
định sự cần thiết nền kinh tế nhiều thành phần ở miền nam trong một thời gian nhất định; cải cách một phần mô hình hợp tác xã qua chỉ thị khoán sản phẩm đến nhóm và
ngưòi lao động trong hợp tác xã; cải tiến công tác kế hoạch hoá và toán kinh tế ở các xí
nghiệp quốc doanh nhằm phát huy quyền chủ động sản xuất- kinh doanh và quyền tự
chủ tài chính của xí nghiệp; hai lần cải cách giá và lương, coi đó là khâu đột phá có tính
chất quyết định để chuyển hẳn sang nền kinh tế hạch toán kinh doanh xãhội chủ nghĩa.
Mặc dù không thành công trong phạm vi cả nước, song quá trình cải cách đã đề cập đến
việc dứt khoát bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện hoạch toán kinh doanh
xãhội chủ nghĩa, đã đề cập đến vấn đề kế hoạch và thị trường, vận dụng các qui luật sản
xuất hàng hoá tóm lại đã có quan niệm chủ trương ban đầu đổi mới cơ chế kinh tế cũ
theo tư tưởng làm cho sản xuất bung ra, nghĩa là đổi mới quan hệ sản xuất để giải phóng
lực lượng sản xuất, phát triển sản xuất. Từ những thay đổi bộ phận mô hình kinh tế cũ
như trên đất nước đã thu dược những thành tựu đáng khích lệ. Nhờ chỉ thị 100 mà nông
dân xã viên nhiệt tình thực hiện khoán mới, mô hình hợp tác xã có sự thay đổi. Khi có
quyết định 25/cp thì kế hoạch hoá tập trung có sự suy yếu một phần. Khi chủ trương kế
hoạch hoá theo phương thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa, quyết định về hai giá, thu hẹp
diện tích các mặt hàng được cung cấp thì cơ chế bao cấp cũng bắt đầu chuyển đổi. điều
đáng ghi nhất ở thời kỳ này là tư duy mới từng bước được hình thành và phát triển, biểu
hiện chủ yếu ở nghị quyết hội nghị lần thứ sáu của ban chấp hành trungương khoá IV,
nghị quết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, nghị quyết hội nghị lần thứ tám ban chấp
hành trung ương khoá V và cuối cùng là nghị quết bộ chính trị khoá V về các vấn đề
kinh tế. đến đây quan niệm cốt lõi của mô hình kinh tế mới về cơ bản đã hình thành . sự
phát triển tiệm tiến này đã dẫn đến bước nhảy vọt trong đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI về mô hình nền kinh tế mới. đại hội quyết định đường lối đỏi mới và đường lối
đổi mới đó đi vào cuộc sống nhanh chóng vì đó là một đường lối đúng, được chuẩn bị từ
trước không chỉ về mặt nhận thức, lý luận mà cả về mặt tổ chức thực tiễn.
2/ sự phát triển kinh tế thị trường ở việt nam (1986 tới nay)

cần phải vận dụng nhiều biện pháp để quản lý kinh tế, thúc đẩy khoa học kỹ thuật, hạ
giá thành sản phẩm, làm cho sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường, nâng cao hơn nữa
hiệu quả kinh tế. Qua cuộc cạnh tranh trên thị trường, những nhân tài quản lý kinh tế và
lao động thành thạo xuất hiện ngày càng nhiều và đó là một dấu hiệu tiến bộ kinh tế.
Như vậy phát triển kinh tế hàng hoá ở nước ta là một tất yếu kinh tế, một nhiệm vụ kinh
tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu thành nền kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự
phân công lao động quốc tế. đó là con đường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất,
khai thác có hiệu quả tiềm năng đất nước, thục hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá . kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status