MỤC LỤC
Danh mục viết tắt ………………………………………………………… ……….… 4
Danh mục bảng biểu …………………………………………………….………… ….4
LỜI NÓI ĐẦU ……………………………………………………………………… 5
PHẦN I: LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MAC-LÊNIN VỀ KINH TẾ
HÀNG HÓA-KINH TẾ THỊ TRƯỜNG …………………………………….…… … 6
1. Sản xuất hàng hóa ……………………………………………………………… 6
1.1. Khái niệm sản xuất hàng hóa …………………………………… ………….…6
1.2. Đặc trưng cửa sản xuất hàng hóa ……………………………………….….….7
1.2.1. Đặc trưng của sản xuất hàng hóa ……………………………………………….7
1.2.2. Ưu, nhược điểm của sản xuất hàng hóa…………………………………………7
1. Hàng hóa …………………………………………….………………………… 7
1.1. Khái niệm ………………………………………………………………….……7
1.1.1. Giá trị sử dụng ………………………………………………………………… 7
1.1.2. Giá trị ……………………………………………………………………………7
1.2. Hai thuộc tính của hàng hóa …………………………………………… ….… 7
1.3. Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa …………………………… ……7
2. Kinh tế hàng hóa ……………………………………… ……………………….….8
3. Thị trường và cơ chế thi trường ………………………………….…………….… 9
3.1. Khái niệm thị trường ……………………………………………………….… 9
3.2. Phân loại ………………………………………… ……………………….……9
3.3. Xu hướng và chức năng …………………………………………………….… 9
3.4. Cơ chế thị trường ………………………………………………………………10
PHẦN II: SỰ VẬN DỤNG LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MAC-LÊNIN
VỀ KINH TẾ HÀNG HÓA- KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM …… …… 11
1. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
là xu hướng phát triển tất yếu ………………………………………… …… …11
2. Đặc điểm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam … …… 12
3. Thực trạng kinh tế thị trường nước ta hiện nay ………………… ………………14
1
3.1. Những thành tựu ……………………………………………… …… ….….14
Bảng 3.1 Tốc độ tăng trưởng GDP và CPI bình quân từ năm 2007 đến năm 2013.
Bảng 3.2 Tốc độ tăng tỉ trọng bình quân các ngành từ năm 2007 đến năm 2013 .
Bảng 3.3 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ các năm .
3
LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, loài người không ngừng tìm kiếm những
mô hình thể chế kinh tế thích hợp để đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Một trong những
mô hình thể chế kinh tế như thế là mô hình kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Kinh tế thị trường là nấc thang phát triển cao hơn kinh tế hàng hóa, khi mà các yếu tố
“đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều được thực hiện thông qua thị trường. Sự phát triển
của sản xuất hàng hóa làm cho phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, chuyên môn
hóa, hợp tác hóa ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng chặt
chẽ. Hơn nữa, những nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm được ưu thế trên thị trường
phải năng động, nhạy bén, không ngừng cải tiến kỹ thuật và hợi lý hóa sản xuất. Từ đó
làm tăng năng xuất lao động xã hội, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Phát triển sản
xuất hàng hóa với quy mô lớn sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, mở rộng
giao lưu kinh tế ở trong nước và ngoài nước, hội nhập nên kinh tế thế giới.
Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản
chủ nghĩa nên cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, lạc hậu, khả năng cạnh tranh hạn chế.
Trong khi đó thị trường thế giới và khu vực đã được phân chia bởi hầu hết các nhà sản
xuất và phân phối lớn; ngay cả thị trường nội địa cũng chịu sự phân chia này. Xuất phát từ
nhu cầu thực tế của đời sống kinh tế xã hội, để ổn đinh kinh tế trong nước và hội nhập
quốc tế ta phải xây dựng một nên kinh tế mới, một nền kinh tế nhiều thành phần, đa dạng
hóa các hình thức sở hữu. Phát triển kinh tế thị trường có vai trò rất quan trọng, đối với
nước ta muốn chuyển từ sản suất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa thì phải phát triển
kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan. Do đó, em xin chọn đề tài: “Lý luận của chủ
nghĩa Mac-Lênin về kinh tế hàng hóa-kinh tế thị trường và sự vận dụng ở Việt Nam”.
Do trình độ và hiểu biết còn nhiều hạn chế nên trong quá trình làm bài không thể
tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong được sự chỉ bảo của cô. Em xin chân thành cảm ơn.
4
Sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi mua bán.
Lao động của người sản xuất hàng hóa vừa có tính tư nhân, vừa có tính xã hội.
Mục đích của sản xuất hàng hóa là giá trị, lợi nhuận chứ không phải giá trị sử dụng.
1.2.2. Ưu, nhược điểm của sản xuất hàng hóa
Ưu điểm
Thúc đẩy sự phân công lao động và phát triển kinh tế.
Kích thích cải tiến khoa học-kĩ thuật, thúc đẩy LLSX phát triển nhanh.
Thúc đẩy tính năng động của người sản xuất, nâng cao năng suất , chất lượng, hiệu
quả kinh tế.
Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của xã hội.
Nhược điểm: phân hóa giàu nghèo, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng, phá hoại
môi trường sinh thái…
2. Hàng hóa
2.1. Khái niệm
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người
thông qua trao đổi, mua bán.
2.2. Hai thuộc tính của hàng hóa
2.2.1. Giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con
người. Là phạm trù vĩnh viễn.
2.2.2. Giá trị
Giá trị trao đổi là một tỷ lệ theo đó những giá trị sử dụng của loại này được trao đổi
với những giá trị sử dụng loại khác.
Giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Là
phạm trù lịch sử.
2.3. Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp
chuyên môn nhất định.
Lao động trừu tượng là lao động hao phí đồng nhất của con người.
6
7
lĩnh vực trao đổi hàng hóa thông qua tiền tệ làm môi giới. Ở đây người mua và người bán
tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hóa lưu thông trên thị
trường.
4. Thị trường và cơ chế thi trường
4.1. Khái niệm thị trường
Thị trường là lĩnh vực trao đổi trên đó các chủ thể kinh tế tác động với nhau nhằm xác
định giá cả và sản lượng hàng hóa.
4.2. Phân loại
Trong quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường, thị trường đã xuất
hiện từ thấp đến cao, từ giản đơn đến phức tạp, bao gồm nhiều loại thị trường khác nhau.
Hiện nay trên thế giới cũng như ở nước ta đang có nhiều cách phân chia thị trường khác
nhau. Nhìn chung, có ba cách phân chia chủ yếu sau:
Dựa vào thuộc tính hàng hóa.
Dựa vào khu vực lưu thông hàng hóa.
Dựa vào trình tự thời gian lưu thông hàng hóa.
Trên cơ sở phân chia thị trường theo thuộc tính hàng hóa, trong nền kinh tế thị trường
hiện đại có các loại thị trường cơ bản như sau:
Thị trường hàng hóa và dịch vụ.
Thị trường lao động.
Thi trường bất động sản.
Thị trường tài chính.
Thị trường khoa học công nghệ.
4.3. Xu hướng và chức năng
Xu hướng
Thị trường phát triển cùng với sự phát triển của SXHH.
Sự phát triển của thị trường do SXHH quyết định.
Thị trường tác động trở lại đối với SXHH (thúc đẩy hoặc kìm hãm SXHH)
Chức năng của thị trường
8
nhiên, mô hình kinh tế này đã góp phần đáp ứng được các yêu cầu huy động tập chung
mọi nguồn lực của toàn dân tộc cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Nhưng cũng chiến
tranh đã chep lấp và làm trầm trọng thêm những nhược điểm vốn có của mô hình này, nó
tiếp tục được duy trì trong suốt thời gian dài hòa bình xây dựng đất nước sau chiến tranh.
Điều này đã gây lên những hậu quả không lường, tạo ra một cuộc khủng hoảng vô cùng
sâu sắc.
Qua nhiều lần nghiên cứu đổi mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
Cộng Sản Việt Nam (4-2001) lần đầu tiên đưa ra mô hình kinh tế tổng quá của nước ta
trong thời kỳ quá độ lên CNXH là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đây là kết quả của sự tổng kết thực tiến ở nước ta qua hơn 20 năm đổi mới kết hợp với
tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường quốc tế. Đây còn là kết
quả của sự phát triển và vận dụng sáng tạo những nguyên lý của học thuyết Mac-Lênin,
quy luật chung của phát triển kinh tế thị trường vào hoàn cảnh cụ thể Việt Nam. Đây là
10
nền kinh tế tuân theo những quy luật thị trường, đồng thời lại dựa trên cơ sở và được dẫn
dắt, chi phối bởi những nguyên tắc mang bản chất CNXH nhằm mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
2. Đặc điểm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Thứ nhất, về chế độ sở hữu. Cơ chế thị trường trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa luôn
hoạt động trên nền tảng của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, trong đó các công ty tư bản
độc quyền giữ vai trò chi phối sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Cơ chế thị trường
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN lại hoạt động trong môi trường của sự đa
dạng các quan hệ sở hữu, trong đó chế độ công hữu giữ vai trò là nền tảng của nền kinh tế
quốc dân, với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Tính định hướng XHCN đòi hỏi trong
khi phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần phải củng cố và phát triển kinh tế nhà
nước và kinh tế tập thể trở thành nền tảng của nền kinh tế có khả năng điều tiết, hướng
dẫn sự phát triển của các thành phần kinh tế khác. Kinh tế nhà nước phải được củng cố và
phát triển ở các vị trí then chốt của nền kinh tế, ở lĩnh vực an ninh - quốc phòng, ở các
lĩnh vực dịch vụ xã hội cần thiết mà các thành phần kinh tế khác không có điều kiện
hoặc không muốn đầu tư vì không sinh lời hoặc ít lãi.
bản sắc văn hóa dân tộc được giữ vững, môi trường sinh thái được bảo vệ.
Thứ năm, về phân phối thu nhập. Sự thành công của nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN không chỉ dừng lại ở tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn không ngừng nâng cao đời
sống nhân dân, bảo đảm tốt các vấn đề xã hội và công bằng, bình đẳng trong xã hội. Đặc
trưng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thể hiện: Một là, xác định
các chỉ tiêu hiệu quả cần đạt được, như tốc độ tăng GDP/người; các chỉ tiêu về phát triển
giáo dục, y tế, việc làm; về xóa đói, giảm nghèo; về văn hóa - xã hội; bảo vệ môi trường
sinh thái, Hai là, nâng cao chức năng xã hội của Nhà nước XHCN trong chế độ bảo
hiểm xã hội, trong chính sách phân phối thu nhập, đồng thời có chính sách bảo đảm xã
hội đối với những đối tượng đặc biệt (gia đình có công với cách mạng, thương binh,
người tàn tật, ).
3. Thực trạng kinh tế thị trường nước ta hiện nay
12
3.1. Những thành tựu
3.1.1. Thị trường hàng hóa và dịch vụ
Bằng đường lối đổi mới, mà một trong những đổi mới quan trọng là thực hiện cơ chế
thị trường, đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Đó là một thành tựu rất
quan trọng, cho phép đất nước mở ra một thời kỳ mới, một thời kỳ mà con đường tiến lên
Xã Hội Chủ Nghĩa dễ dàng hơn, lòng tin của nhân dân vào Đảng ngày càng được củng cố.
Nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao, liên tục ổn định.
Bảng 3.1 Tốc độ tăng trưởng GDP và CPI bình quân từ năm 2007 đến năm 2013
(Đơn vị %)
Năm 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
Tốc độ tăng GDP bình quân 8,48 6,32 5,32 6,78 5,89 5,03 5,42
Tốc độ tăng CPI bình quân 12,6 22,97 6,88 11,75 18,13 6,81 6,04
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Các số liệu thống kê cho thấy, GDP nước ta trong giai đoạn 2007-2013 tốc độ tăng
trung bình là 7,21%, Cao nhất năm 2007 đạt mức 8,48% sau đó sụt giảm năm 2008 ở mức
6,32% và 2009 là 5,32%, năm 2010 lại tăng lên 6,78%, hai năm tiếp theo 2011 và 2012 lại
tiếp tục sụt giảm và ở mức 5,89% và 5,03%. Sau đó năm 2013 tăng nhẹ và ở mức 5,42%.
726,1 968,1 1197,5 1561,6 2004,4 2324,4
2617,
3
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Dựa vào bảng số liệu, ta thấy từ năm 2007 đến năm 2013, tổng mức bán lẻ hàng hóa
và dịch vụ đều tăng so với năm trước. Năm 2007, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ là
726,1 nghìn tỷ đồng. Năm 2013 tăng đến 2617,3 nghìn tỷ đồng.
3.1.2. Thị trường lao động
Do Việt Nam đang trong thơi kì “dân số vàng” nên thị trường lao động Việt Nam là
một thị trường lớn và đang trên đà phát triển về cả chất và lượng. Cục thể, tính đến
14
01/01/2014 lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,65 triệu người, tăng 864,3 nghìn
người so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động nam chiếm 51,5%; lao động nữ
chiếm 48,5%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 47,49 triệu người, tăng 409,2
nghìn người so với cùng thời điểm năm 2013, trong đó nam chiếm 53,9%; nữ chiếm 46,1%.
Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2013 ước tính 52,40
triệu người, tăng 1,36% so với năm 2012. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm
2013 của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 46,9% tổng số, giảm 0,5 điểm phần
trăm so với năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 21,1%, giảm 0,1 điểm
phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm 32,0%, tăng 0,6 điểm phần trăm.
3.1.3. Thị trường bất động sản
Thời điểm trước năm 2011 thị trường bất động sản phát triển rất mạnh mẽ, có những
thời điểm “sốt” của thị trường bất động sản. Sau đó, do các nguyên nhân chủ quan và
khác quan như khủng hoảng kinh tế thế giới nên thị trường bất động sản bị “đóng bang”.
Tính đến cuối năm 2013, thị trường BĐS còn tồn kho gần 30.000 căn hộ và hơn 1 triệu
m2 đất nền, tập trung chủ yếu ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh với giá trị tồn kho ước tính
trên hàng chục ngàn tỷ đồng.
3.1.4. Thị trường tài chính
Thị trường tài chính Việt Nam trong những năm qua tương đối ổn định, lãi suất ngân
hàng được điểu chỉnh phù hợp với điều kiện của nền kinh tế. Trong năm 2013, là một năm
quan liêu của các cơ quan nhà nước vào hoạt động kinh doanh của cơ sở. Không hiếm
trường hợp cán bộ công quyền năng lực, phẩm chất kém và thiếu công tâm, lạm dụng
chức quyền để “hành dân” hơn là phục vụ nhân dân. Đây là nguyên nhân làm suy yếu vai
trò và sức mạnh của nhà nước pháp quyền, phát triển tệ nạn tham nhũng và cửa quyền
đang làm nhức nhối xã hội và mất lòng tin của nhân dân.
Thứ ba, duy trì khu vực kinh tế nhà nước cồng kềnh, yếu kém. Tuy khối doanh nghiệp
nhà nước và sở hữu nhà nước đã qua nhiều lần cải tổ và cơ cấu lại, nhưng vẫn còn cồng
kềnh, chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong nền kinh tế quốc dân. Hơn nữa khu vực doanh
nghiệp nhà nước đang chưa nhiều căn bệnh nan y như: quản lý yếu kém, vô trách nhiệm,
16
làm ăn thua lỗ… đây là miếng đất màu mỡ cho tệ nạn tham nhũng, quan liêu và cơ chế
xin- cho tiếp tục bám rễ và phát triển.
Thứ tư, hệ thống các thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa chưa được hiện diện rõ nét và chưa được xây dựng đồng bộ. Trình độ phát triển của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn hết sức thấp không chỉ xét về
những mặt lực lượng sản xuất, quy mô thị trường và dung lượng trao đổi; mà xét cả về
mặt xây dựng các thể chế thị trường cơ bản và nền tảng của chúng cũng còn thiếu vắng.
Các loại hình thị trường riêng chưa phát triển đồng bộ. Các bộ phận và khu vực còn yếu
và chưa gắn bó với nhau trong hệ thống thị trường quốc gia thống nhất, lại càng chưa gắn
kế và hội nhập với hệ thống thị trường quốc tế.
Thứ năm, hạ tầng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn yếu kém
và lạc hậu. Đây là nguyên nhân làm cho môi trường kinh doanh và đầu tư kém hấp dẫn,
nền kinh tế vận hành kém hiệu quả. Ví dụ, thủ tục hải quan chậm trễ và dịch vụ cảng biển
khó tiếp cận đã làm tăng các chi phí, có chi phí không chính thức cũng như đánh mất cơ
hội kinh doanh. Giá điện cao và các chi phí do cắt điện, mất điện gây ra cũng làm tăng các
chi phí đầu vào của sản xuất doanh nghiệp.
Thứ sáu, tuy có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn
chưa đảm bảo chất lượng, hiệu quả, sự phát triển thiếu bền vững và năng lực cạnh tranh
còn yếu. Chất lượng tăng trưởng được phản ánh chủ yếu thông qua các chỉ tiêu giá trị gia
tăng của nền kinh tế và năng suất tổng hợp.
thành phần kinh tế này phát triển kể cả với tư bản Nhà nước trong nước và tư bản nhà
nước nước ngoài. Vận dụng các hình thức kinh tế tư bản Nhà nước là phương thức để
chúng ta huy động sức mạnh dân tộc của các thành phần kinh tế khác.
Muốn vậy ta phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, vai trò điều tiết, quản lý
của Nhà nước pháp quyền XHCN và nhân tố quyết định vận động thành công KTTBCN ở
Việt Nam. Cần xây dựng hệ thống pháp luật rõ ràng, nhất quán, phù hợp với tập quán
quốc tế, đủ sức hẫp dẫn nhưng công bằng nghiêm minh.
18
Thực tế nước ta hiện nay ở vùng nông thôn và đặc biệt là vùng núi còn tồn tại khá
nặng nền sản xuất tính chất của nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc. Vì vậy, cần có chính
sách thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất hàng hoá ở các vùng này, đặc biệt phải
chú ý tới việc xây dựng các cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh lưu thông hàng hoá với các vùng
phát triển trong nước.
4.2. Đẩy mạnh quá trình phân công lại lao động xã hội ở nước ta
Phân công lao động xã hội là điều kiện của sản xuất hàng hoá, của phát triển KTTT.
Vì vậy, quá trình phát triển KTTT ở nước ta đòi hỏi phải đẩy mạnh phân công lại lao động
xã hội. Muốn khai thác mọi nguồn lực cần phải phát triển nhiều ngành nghề, sử dụng có
hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có và tạo việc làm cho người lao động. Phân công lại
lao động giữa các ngành theo hướng chuyên môn hoá sản xuất, hợp tác hoá, lao động
công nghiệp và dịch vụ tăng tuyệt đối và tương đối, lao động nông nghiệp giảm tuyệt đối
giữa lao động và tài nguyên, bảo vệ và phát triển môi trường sinh thái. Cùng với mở rộng
phân công lao động trong nước tiếp tục mở rộng phân công và hợp tác lao động quốc tế.
4.3. Tạo lập và phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường
Đây là biểu hiện và tiền đề quan trọng nhất để phát triển KTTT. Thị trường là sản
phẩm tất yếu của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Sản xuất và lưu thông hàng hoá phát
triển thị trường càng mở rộng. Sản xuất, lưu thông hàng hoá quyết định thị trường, song
thị trường cũng tác động trở lại, thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá. Để mở rộng thị
trường và tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường cần tôn trọng quyền tự chủ sản xuất, kinh
doanh của các doanh nghiệp, đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh
tế, xây dựng thị trường thống nhất và thông suốt cả nước; phát triển mạnh thị trường hàng
Đây là những nhân tố quan trọng để phát tiển KTTT, để các nhà sản xuất kinh doanh
trong và ngoài nước yên tâm đầu tư. Nhà nước cần hạn chế can thiệp trực tiếp vào sản
xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, mà tập trung làm tốt các chức năng tạo môi
trường, hướng dẫn, hỗ trợ những yếu tố cần thiết để doanh nghiệp phát triển. Nhà nước
cần tăng cường kiểm soát việc sử dụng mọi nguồn lực nhằm bảo toàn và phát triển những
tài sản quốc gia. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ là công cụ rất quan
20
trọng để quản lý nền KTTT nhiều thành phần. Nó tạo hành lang pháp lý cho tất cả mọi
hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong và ngoài nước. Với hệ thống pháp
luật đồng bộ, các doanh nghiệp chỉ có thể làm giàu trên cơ sở tuân thủ pháp luật.
4.7. Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh giỏi
Sự nghiệp phát triển kinh tế đặt con người vào vị trí trung tâm, thống nhất tăng trưởng
kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội. Con người bao giờ cũng là lực lượng sản xuất cơ
bản nhất của xã hội. Con người vừa là kết quả, vừa là điều kiện để sản xuất phát triển.
Mỗi cơ chế quản lý có đội ngũ cán bộ quản lý, kinh doanh tương ứng. Chúng ta cần đẩy
mạnh việc đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, kinh doanh cho phù hợp
với mục tiêu phát triển kinh tế trong thời kỳ mới. Cần sử dụng bồi dưỡng, đãi ngộ đúng
đắn với đội ngũ cán bộ nhằm nâng cao nghiệp vụ của họ. Cơ cấu đội ngũ cán bộ cần chú
trọng đảm bảo cán bộ quản lý lẫn cán bộ kinh doanh cả ở phạm vi vĩ mô lẫn vi mô.
4.8. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để phát triển kinh tế thị trường
Trong xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế, mọi quốc gia muốn thúc đẩy KTTT phát
triển phải hoà nhập kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới (mở rộng thị trường ngoài
nước, mở rộng hợp tác đầu tư với nước ngoài).
Muốn vậy phải đa dạng hoá hình thức, đa phương hoá đối tác, phải quán triệt nguyên
tắc đôi bên cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và phân không
biệt chế độ chính trị - xã hội phải triệt để khai thác lợi thế so sánh của đất nước trong
quan hệ kinh tế nhằm khai thác tiềm năng lao động, tài nguyên thiên nhiên của đất nước,
tăng xuất khẩu để nhập khẩu, thu hút vốn kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản
lý.
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN là giải pháp
đang cần được bổ sung trong thời kỳ quá độ hiện nay.
Trong bối cảnh đó việc tăng cường nghiên cứu, tìm tòi những căn cứ khoa học và thực
tiễn làm cơ sở cho việc xác định những thành phần kinh tế và do đó là việc hoàn thiện
chính sách kinh tế nhiều thành phần ở nước ta là việc làm có ý nghĩa cả về lý luận và thực
tiễn hiện nay.
Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất trong việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở
nước ta là thiếu hụt trong nhân tố con người. Nhân tố con người càng quan trọng bao
nhiêu thì sự yếu kém trong nhân tố con người càng gây hậu quả tiêu cực bấy nhiêu. Vì
23
vậy phải đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, con người là mục tiêu và
người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, con người là mục tiêu và động lực của phát
triển. Cần phải coi con người là vốn tức là coi như một thứ tài nguyên, nhưng là một thứ
tài nguyên đặc biệt, một vốn quý nhất của đất nước. Điều đặc biệt quan trọng ở đây là
phải đưa khái niệm nguồn lực con người thành một khái niệm công cụ cơ bản để điều
hành sự phát triển kinh tế xã hội, xem như sự phát triển con người là chỉ số quan trọng để
xác minh trình độ phát triển của một đất nước.
Như vậy, vấn đề con người là vấn đề trung tâm được quán xuyến và xuyên suốt và
trong toàn bộ nội dung và chiến lược phát triển kinh tế xã hội do đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VII đã đề ra.
Từ những điều đã nói ở trên, rút ra kết luận rằng: Việc Đảng và Nhà nước ta chủ
trương thực hiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN hoàn toàn không phải là một kiểu
“bắt cá hai tay” hay là “một sự lựa chọn theo hệ tư tưởng do Đảng áp đặt lên toàn xã
hội” như có người bài bác. Trái lại, đó là một chủ trương đúng đắn, một sự lựa chọn có
khoa học được rút ra từ toàn bộ quá trình phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường
trên thế giới từ trước đến nay.
Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là chủ trương chiến lược lâu dài trong
thời kỳ quá độ góp phần phát huy quyền làm chủ, khơi dậy tiềm năng và sức sáng tạo của
dân, thúc đẩy sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hoá, tạo ra sự cạnh tranh sống
động trên thị trường.