Tiểu luận: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM KINH ĐIỂN doc - Pdf 15

Tiểu luận:

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
VỀ QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI
VÀ í THỨC XÃ HỘI QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM KINH ĐIỂN
I. Quan điểm về quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
trong một số tác phẩm của C.Mác và ăngghen.

II. Lênin bảo vệ và phát triển quan điểm về quan hệ biện chứng giữa TTXH
và YTXH của Mác và ăngghen.
III. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lý luận với tư cách là trình độ
cao của ý thức xã hội.

nội dung

I. quan điểm về quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
trong một số tác phẩm của C.mác và ăngghen
Vấn đề cơ bản của triết học là giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
Quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội chính là quan hệ giữa vật chất và ý thức
được xem xét trong lĩnh vực xã hội. Do vậy vấn đề cơ bản của triết học về xã hội là
giải quyết mối quan hệ giữa tồn tại xã hội là giải quyết mối quan hệ giữa tồn tại xã
hội và ý thức xã hội.
Qua một số tác phẩm như: hệ tư tưởng Đức, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.
Chống Đuy rinh, sự phát triển của P.ăngghen đã giải quyết triệt để vấn đề cơ bản
của triết học về xã hội theo quan niệm duy vật lịch sử.
1. Tác phẩm hệ tư tưởng Đức
Đây là tác phẩm đánh dấu một cái mốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
quá trình hình thành triết học Mác. Ta có thể xem là tác phẩm chín muồi đầu tiên
của chủ nghĩa Mác. Với tác phẩm này Mác và ăngghen đã thanh toán nhận thức triết

tiếp của họ, của tổ chức chính trị và xã hội của họ (275). Nói cách khác ý thức của
cá nhân đã hiện thực hay tưởng tượng đều phản ánh cuộc sống hiện thực của họ.
- Tiếp tục quan điểm trên, Mác và ăngghen đi đến khẳng định bản chất của ý
thức xã hội: "Sự sản xuất ra những ý niệm, những quan niệm và ý thức thì lúc đầu là
trực tiếp gắn liền mật thiết với hoạt động vật chất và sự giao tiếp vật chất của con
người; nó là ngôn ngữ của cuộc sống hiện thực. ở đây, những quan niệm, tư duy, sự
giao tiếp tinh thần của con người còn xuất hiện ra là sự biểu thị trực tiếp của những
quan hệ vật chất của họ. Đối với sự sản xuất tinh thần, đúng như nó biểu hiện trong
ngôn ngữ của chính trị, của luật pháp, của đạo đức, của tôn giáo, của siêu hình học,
v.v , trong một dân tộc thì cũng thế. Chiính con người là kẻ sản xuất ra những quan
niệm, ý niệm, v.v ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được
ý thức và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người"
(276). Như vậy ngoài việc đề cập bản chất của ý thức xã hội, Mác - ăngghen còn đề
cập đến tồn tại của con người - tồn tại xã hội. Đồng thời khẳng định ý thức và các
hình thái ý thức xã hội là sự biểu thị trực tiếp các hoạt động và giao tiếp vật chất của

con người. Khẳng định như vậy, Mác và ăngghen cho rằng đó là TH từ dưới đất đi
lên trời, nó trái với TH Đức là TH từ trên trời đi xuống đất.
- Quan điểm trên có thể nói một cách khác là không thể xuất phát từ những
điều mà con người nói, tưởng tượng, hình dung mà "xuất phát từ những con người
đang hành động, hiện thực vật chất chính là cũng xuất phát từ quá trình đời sống
hiện thực của họ mà chúng ta mô tả sự phát triển của những phản ánh tư tưởng và
tiếng vang tư tưởng của quá trình đời sống ấy". "Ngay cả những ảo tưởng hình
thành trong đầu óc con người cũng là những vật thăng hoa tất yếu của quá trình đời
sống vật chất của họ, một quá trình có thể xác định được bằng kinh nghiệm và gắn
liền với những tiền đề vật chất. Như vậy thì đạo đức, tôn giáo, siêu hình học và
những dạng hệ tư tưởng khác cùng với những hình thái ý htức tương ứng với chúng,

với lực lượng sản xuất hiện có" (291).
- Về ý thức cá nhân, Mác và ăngghen cho rằng "sự phong phú thực sự về tinh
thần của cá nhân là hoàn toàn phụ thuộc và sự phong phú của những liên hệ hiện
thực của họ" (302).
- Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một giai đoạn nào đó xuất hiện
một giai cấp "sản sinh ra ý thức về tính tất yếu của cuộc cách mạng triệt để, ý thức
CNCS, ý thức mà dĩ nhiên là sự quan sát tình cảnh của giai cấp đó có thể làm nảy
sinh ra trong các giai cấp khác" (303).
Một lần nữa Mác và ăngghen kết luận: "quan niệm đó về lịch sử không đi
tìm một phạm trù nào đó trong mỗi thời đại như quan niệm dân tộc về lịch sử đã
làm, mà nó luôn luôn đứng trên miếng đất hiện thực của lịch sử, nó không căn cứ
vào tư tưởng để giải thích thực tiễn; nó giải thích sự hình thành của tư tưởng căn cứ
vào thực tiễn vật chất và do đó nó đi đến kết luận rằng không thể đập tan được mọi
hình thái và sản phẩm của ý thức bằng sự phê phán tinh thần, bằng việc quy chúng
thành "tự ý thức", hay biện chứng thành những "u hồn", "bóng ma", "tính kỳ quặc",
v.v mà chỉ bằng việc liệt kê một cách thực tiễn những quan hệ xuất hiện hiện thực
đã sản sinh ra tất cả những điều nhảm nhí duy tâm đó; rằng không phải sự phê phán,
mà cách mạng mới là động lực của lịch sử, của tôn giáo, của triết học và của mọi lý
luận khác" (306).

Như vậy việc xóa bỏ những quan niệm trong ý thức con người chỉ có thể
thực hiện được bằng cách cải biến hoàn cảnh, chứ không phải bằng những suy diễn
lý luận.
- Mác và ăngghen khẳng định tính giai cấp của YTXH: "trong mọi thời đại,
những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị, nói cách khác giai
cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần
thống trị" (314). Giai cấp nào chi phối những TLSX vật chất thì cũng chi phối luôn

những tư tưởng này khác đã thống trị trong một thời đại nào đó mà không quan tâm
đến những điều kiện sản xuất lẫn người sản xuất rá những tư tưởng ấy, tức là hoàn
toàn không tính đến những cá nhân và hoàn cảnh thế giới làm cơ sở cho những tư
tưởng ấy, thì người ta có thể nói rằng (chẳng hạn trong thời kỳ thống trị của giai cấp
quý tộc) những khái niệm danh dự, trung thành, v.v đã thống trị, còn trong thời kỳ
thống trị của giai cấp tư sản, những khái niệm tự do, bình đẳng, v.v đã thống trị.
Chính đó là điều mà toàn bộ giai cấp thống trị đã tưởng.
Thật ra, mỗi giai cấp mới thay thế giai cấp thống trị trước mình, muốn thực
hiện được mục đích của mình, đều phải nhất thiết biểu hiện lợi ích của bản thân
mình thành lợi ích chung của mọi thành viên trong xã hội, hay nói một cách trừu
tượng: phải gắn cho những tư tưởng của bản thân mình một hình thức phổ biến,
phải biểu hiện những tư tưởng đó thành những tư tưởng duy nhất hợp lý, duy nhất
có giá trị phổ biến (317). Nghĩa là ý thức của giai cấp phải được tuyên truyền, giáo
dục phổ biến trong xã hội, để trở thành xã hội, nhân danh xã hội.
Như vậy trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, Mác và ăngghen đã giải quyết hết
sức căn bản vấn đề cơ bản của triết học về xã hội. Đặc biệt là các vấn đề về nguồn
gốc, bản chất của yếu tố xã hội, tính quyết định của TTXH và sự phụ thuộc của yếu
tố xã hội vào tồn tại xã hội, đồng thời còn chỉ rõ tính giai cấp của ý thức xã hội
trong mỗi thời đại Những tư tưởng đó cũng là một cái mốc quan trọng thể hiện sự
chín muồi của triết học Mác.
Tiếp tục những quan điểm trên, trong đó tác phẩm sự khốn cùng của triết
học, Mác đã đưa ra ý nghĩa phương pháp luận như sau: "để nghiên cứu những
nguyên lý, cũng như để nghiên cứu lịch sử, người ta tự hỏi tại sao một nguyên lý
nào đó lại biểu hiện ra trong thế kỷ nào đó (XI hay XVIII) chứ không phỉa trong

một thế kỷ nào khác, tất nhiên là người ta bắt buộc phải xem xét tỉ mỉ xem, những
người của thế kỷ XI là những người nào, những người của thế kỷ XVIII là những


Đây lf tác phẩm đánh dấu sự hình thành về cơ bản học thuyết của Mác và
ăngghen. Những quan điểm duy vật lịch sử đã có ý nghĩa khoa học của cách mạng
rất to lớn trong lĩnh vực ý nghĩa khoa học và cách mạng rất to lớn trong lĩnh vực ý
thức xã hội. Sự tiếp tục và phát triển các quan điểm về mối quan hệ biện chứng giữa
tồn tại xã hội và ý thức xã hội được thể hiện trên một số nội dung cơ bản sau:
- Mác và ăngghen phê phán các quan niệm của giai cấp tư bản về vấn đề này:
"Nếu các ông lấy những quan niệm tư sản của các ông về tự do, về văn hoá, về luật
pháp, v.v làm tiêu chuẩn để xét việc xoá bỏ sở hữu tư sản thì chẳng cần gây sự với
chúng tôi làm gì. Chính những tư tưởng của các ông là con đẻ của chế độ sản xuất
và sở hữu tư sản, cũng như pháp quyền của các ông chỉ là ý chí của giai cấp các ông
được đề lên thành luật pháp, cái ý chí mà nội dung là do những điều kiện sinh hoạt
vật chất của giai cấp các ông quyết định" (563).
Còn những lời buộc tội chủ nghĩa cộng sản, xuất phát từ những quan điểm
tôn giáo, triết học và nói chung là những quan điểm ý thức tư tưởng thì không đáng
phải xét kỹ" (565).
- Từ sự phê phán trên, một lần nữa Mác và ăngghen khẳng định TTXH quyết
định YTXH, đồng thời chứng minh sâu sắc quan điểm đó bằng hiện thực lịch sử:
"Liệu có cần phải sáng suốt lắm mới hiểu được rằng những tư tưởng, những
quan điểm và những khái niệm của người ta, tóm lại là ý thức của người ta, đều thay
đổi cùng với mọi sự thay đổi xảy ra trong điều kiện sinh hoạt, trong quan hệ xã hội,
trong đời sống xã hội của người ta chăng?" (566).
"Lịch sử tư tưởng chứng minh những gì, nếu không phải là chứng minh rằng
sản xuất tinh thần cũng biến đổi theo sản xuất vật chất? Những tư tưởng thống trị
của một thời đại bao giờ cũng chỉ là những tư tưởng của giai cấp thống trị?/
Cụ thể Mác và ăngghen đã chứngminh như sau: "khi thế giới cổ đại đang suy
tàn thì những tôn giáo cũ lại bị Đạo Cơ Đốc đánh bại. Vào thế kỷ XVIII, khi tư
tưởng của đạo Cơ Đốc nhường chỗ cho những tư tưởng tiến bộ thì xã hội phong
kiến đang giao chiến trận cuối cùng với giai cấp tư sản, lúc bấy giờ là giai cấp cách


Đây là hai tác phẩm có sự tương ứng về một số chương và nội dung. Các tác
phẩm này được viết trong thời kỳ 1876. 1877, 1878.

* Trong tác phẩm chống Đuy-rinh có một số quan điểm nổi bật như sau
- ăngghen đề cập về sự kế thừa của học thuyết CNXH: "Nhưng theo hình
thức lý luận của nó, thì CNXH hiện đại lúc đầu xuất hiện như một sự phát triển hơn
nữa và dường như triệt để hơn những nguyên lý mà các nhà triết học khai sáng vĩ
đại Pháp hồi thế kỷ XVIII đã nêu lên. Cũng như bất cứ học thuyết mới nào, CNXH
trước hết phải xuất phát từ tài liệu tư tưởng đã được tích luỹ từ trước mặc dù gốc dễ
của nó nằm sâu ở những sự kiện kinh tế (Vật chất"" (125). (P.ăngghen: Chống Đuy-
rinh, Nxb STHN, 1984, tr. 25).
- Bằng sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử thì "chủ nghĩa duy tâm đã tự
tống ra khỏi cái hầm trú ẩn cuối cùng của nó là quan niệm về lịch sử; một quan
niệm duy vật lịch sử đã ra đời, và người ta đã tìm thấy được phương pháp lấy sự tồn
tại của con người để giải thích ý thức của con người, chứ không lấy ý thức của con
người để giải thích sự tồn tại của con người như từ xưa đến nay người ta vẫn làm
(42).
- "Như vậy là, phải tìm những nguyên nhân cuối cùng của tất cả những sự
biến đổi xã hội và của tất cả những cuộc biến cách chính trị ở trong những sự thay
đổi về phương thức sản xuất và phương thức trao đổi, chứ không phải ở trong đầu
óc người ta, không phải ở trong sự hiểu biết ngày càng tăng thêm của người ta về
chân lý vĩnh cửu và công lý vĩnh cửu; phải tìm những nguyên nhân đó không phải
là ở trong triết học, mà ở trong kinh tế của thời đại mình nghiên cứu? (446). Do đó,
những thủ đoạn để gạt bỏ những tai hoạ "phải dùng đầu óc của mình để phát hiện ra
những thủ đoạn ấy từ những sự kiện vật chất về sản xuất đã có sẵn, chứ không phải
là sáng chế ra trong đầu óc của mình, những thủ đoạn ấy" (447) - Đó là nguyên tắc
của chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Tóm lại: Qua một số tác phẩm cơ bản trên, Mác và ăngghen đã cơ bản giải
quyết triệt để vấn đề cơ bản của trật tự về xã hội, đó là quan hệ và giữa TTXH và
YTXH. Những quan điểm đó là thế giới quan về phương pháp luận quan trọng để
xem xét toàn diện sự phát triển của xã hội, đặc biệt là nhận thức cũ tác động đến các
quy luật phát triển của ý thức qua các thời đại. Cho đến ngày nay, những quan điểm
đó vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và đồng thời là cơ sở lý luận cho đường lối đổi
mới của Đảng ta. Đặc biệt là đường lối về tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển
về văn hoá và giáo dục.

II. lênin bảo vệ và phát triển quan điểm về quan hệ biện chứng giữa tồn
tại xã hội của mác và ăngghen
Vấn đề quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội được Lênin
quan tâm và đề cập trên nhiều khía cạnh khác nhau. Tiếp thu tư tưởng của Mác và
ăngghen, Lênin đã phát triển triệt để hơn nữa vấn đề này, đồng thời trên cơ sở thực
tiễn của thời đại Lênin và thực tế ở Nga, để khái quát thêm nhiều nội dung mới và
cụ thể hơn.
1. Vấn đề quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
Trong tác phẩm "Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống
những người dân chủ xã hội ra sao". Lênin đề cập tương đối toàn diện các nguyên
lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong đó vấn đề quan hệ biện chứng TTXH và
YTXH được đề cập trên cơ sở trích lại quan điểm của Mác và ăngghen. Qua đó
dùng để chống lại quan điểm của "những người dân tuý" đồng thời khẳng định tính
khoa học trong học thuyết của Mác và ăngghen. Lênin khẳng định chính Mác đã mô
tả quá trình lập luận về vấn đề đó như sau: (Lênin trích dẫn lời tựa cuốn "Góp phần
phê phán chính trị kinh tế học". "Công việc đầu tiên mà tôi tiến hành để giải quyết
những mối nghi ngờ đã ám ảnh tôi là phân tích một cách có phê phán: triết học pháp
quyền của Hê-ghen. Công việc đó dẫn tôi đến kết luận là: chỉ xuất phát từ những

của chính bản thân thời đại cách mạng căn cứ theo ý thức của chính bản thân thời
đại đó được. Trái lại phải giải thích ý thức đó bằng những mâu thuẫn của đời sống
vật chất, bằng sự xung đột giữa những điều kiện sản xuất và những điều kiện của
năng suất " (161).
- Cho đến lúc này, vì không biết hạ mình xuống để hiểu được những quan hệ
hết sức giản đơn và ban đầu như những quan hệ sản xuất, nên các nhà xã hội học đã
bắt tay thẳng vào việc phân tích và nghiên cứu những hình thức chính trị và pháp lý,
đã đụng đầu phải cái sự thật là những hình thức đó nảy sinh ra từ những tư tưởng
này hay những tư tưởng khác của nhân loại, trong một thời kỳ nhất định, và họ đã
không tiến xa hơn nữa; thành ra tựa hồ như những quan hệ xã hội là do con người
tạo ra một cách có ý thức. Những kết luận đó hoàn toàn mâu thuẫn với tất cả mọi
sự quan sát lịch sử"(102).

"Chủ nghĩa duy vật đã thủ tiêu mâu thuẫn đó bằng cách tiếp tục phân tích sâu
hơn nữa, cho đến tận nguồn gốc của chính ngay những tư tưởng xã hội đó của con
người chỉ có kết luận của chủ nghĩa duy vật cho rằng tiến trình của những tư tưởng
là phụ thuộc vào tiến trình của sự vật, là kết luận duy nhất có thể tương đương được
với tâm lý học khoa học" (162).
"Chừng nào mà họ vẫn chỉ dừng lại ở những quan hệ xã hội tư tưởng (nghĩa
là những quan hệ mà trước khi hình thành phải thông qua ý thức con người) thì họ
không thể nhận thấy được, tính lặp lại và tính hợp quy luật trong những hiện tượng
xã hội ở các nước khác nhau việc phân tích những quan hệ xã hội vật chất khiến
chúng ta có thể nhận thấy ngay được tính lặp lại và tính hợp quy luật, và có thể đem
những chế độ của các nước khác nhau khái quát lại thành một khái niệm cơ bản duy
nhất là: hình thức xã hội" (163).
Sau đoạn trích dẫn với những nội dung cơ bản trên, Lênin đã phê phán
"người dân tuý" đồng thời khẳng định quan điểm của mình:

không phải là đồng nhất, cũng như nói chung, tồn tại và ý thức không phải là đồng
nhất" (400) quan hệ con người là có ý thức song không thể kết luận ý thức xã hội là
đồng nhất tồn tại xã hội.
"Con người khi liên hệ với nhau, đều xử sự với tư cách là những sinh vật có
ý thức, nhưng hoàn toàn không thể do đó mà kết luận rằng ý thức xã hội là đồng
nhất với tồn tại xã hội". Theo Lênin, trong tất cả những hình thái xã hội tư bản, con
người, khi liên hệ với nhau, đều không có ý thức về những mối quan hệ xã hội giữa
họ với nhau, họăc về những quy luật chi phối sự phát triển của những mối quan hệ
ấy v.v Thí dụ: người nông dân bán lúa mì có "quan hệ" với những người sản xuất
lúa mì trên thị trường thế giới, nhưng người ấy không hiểu điều đó, người ấy lại
cũng không hiểu rõ những mối quan hệ xã hội nào hình thành từ những sự trao đổi
ấy.
- "ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, đó là học thuyết của Mác - hình ảnh
có thể phản ánh vật thể một cách gần đúng, nhưng ở đây mà nói về sự đồng nhất thì
vô lý. Nói chung ý thức phản ánh tồn tại, đó là một nguyên lý chung của toàn bộ
chủ nghĩa duy vật, và không thể không nhìn thấy mối liên hệ trực tiếp và mật thiết
giữa nguyên lý ấy với nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng ý thức xã
hội phản ánh tồn tại xã hội" (400).

- "Mỗi người sản xuất riêng biệt trong nền kinh tế thế giới đều biết rằng mình
đưa ra một sự thay đổi vào đó trong kỹ thuật sản xuất, mỗi người sở hữu đều biết
rằng mình trao đổi sản phẩm nào đó lấy sản phẩm khác, nhưng những người sản
xuất và những người sở hữu đó đều không biết rằng do đó họ làm thay đổi tồn tại xã
hội. Ngay đến 70 ông Mác cũng không thể bao quát được tổng số những sự thay đổi
thuộc loại đó trong tất cả các ngành của nền kinh tế tư bản thế giới. Nhiều lắm là
phát hiện ra được những quy luật của sự thay đổi đó, vạch ra được những nét chủ
yếu và cơ bản của của cái logic khách quan của những sự thay đổi ấy và của sự phát

Đức". "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" "góp phần phê phán khoa kinh tế chính
trị Lênin đã đề cập một số quan điểm cơ bản sau:
- Trong tác phẩm: "Lý luận nhận thức của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán"
tập 18, trang 159 Lênin viết: " mọi hệ tư tưởng đều là có điều kiện về mặt lịch sử,
nhưng việc mọi hệ tư tưởng khoa học (khác với trường hợp của hệ tư tưởng tôn
giáo, chẳng hạn) đều có một chân lý khách quan, một tự nhiên tuyệt đối phù hợp với
nó, lại là vô điều kiện".
- Trong thế giới "Hội liên hiệp miền Bắc của Đảng công nhân dân chủ - xã
hội Nga" người chỉ rõ: "Những chủ nghĩa xã hội là hệ tư tưởng của cuộc đấu tranh
giai cấp của giai cấp vô sản, cho nên nó phụ thuộc vào những điều kiện chung của
sự phát sinh, phát triển và củng cố của hệ tư tưởng, nghĩa là chủ nghĩa xã hội dựa
trên cơ sở toàn bộ tài liệu của tri thức con người, lấy sự phát triển cao của khoa học
làm tiền đề, đòi hỏi phải làm công tác khoa học v.v và v.v ".
- Trong tác phẩm "Làm gì?" Lênin viết "Đã không có hệ tư tưởng độc lập, do
chính ngay quần chúng nhân dân xây dựng trong quá trình phong trào của họ, thì
vấn đề đặt ra chỉ là như thế này: hệ tư tưởng tư sản hoặc hệ tư tưởng XHCN. Không
có hệ tư tưởng trung gian (vì nhân loại không tạo ra một hệ tư tưởng "thứ ba" cả, vả
chăng trong một xã hội bị những sự đối kháng giai cấp chia rẽ thì không bao giờ có
hệ tư tưởng nào hoặc đứng trên các giai cấp). Vì vậy mọi sự coi nhẹ hệ tư tưởng xã
hội chủ nghĩa, mọi sự xa rời hệ tư tưởng đó đều có nghĩa là tăng cường hệ tư tưởng
tư sản".
- Về tâm lý xã hội, Lênin đã đề cập rất nhiều vấn đề, có thể thấy một số quan
điểm cơ bản sau:

Trong tác phẩm: "Bàn về quyền tự trị dân tộc" tập 2 Lênin viết: "Người công
nhân thành thị biết rất rõ hơn ai hết chủ nghĩa tư bản phát triển và do toàn bộ cuộc
sống của họ, họ đã hấp thụ được sâu sắc hơn ai hết tâm lý đấu tranh giai cấp, và có

lại không phải là để coh chúng đấu tranh tốt hơn, đoàn kết hơn, có ý thức hơn, kiên
quyết hơn chúng ta, nhằm chống lại những điều kiện sinh sống hiện nay đang làm
tàn phế và huỷ hoại thế hệ chúng ta".
"Chính đó là chỗ khác nhau căn bản giữa các tâm lý của người nông dân, thợ
thủ công, trí thức, nói chung là của người tiểu tư sản, với tâm lý của giai cấp vô
sản Người tiểu tư sản nhìn thấy và cảm thấy rằng anh ta đang đi đến diệt vọng,
rằng đời sống ngày ngày càng trở nên khó khăn hơn, tình cảnh của anh ta và của
gia đình anh ta ngày càng bế tắc. Đó là một sự thật không thể chối cãi được và
người tiểu tư sản chống lại sự thật đó, tập 23.
- "Nhưng khi một đảng chân chính dần dần được hình thành, thì người công
nhân giác ngộ cần phải học cách phân biệt giữa tâm lý của người chiến sĩ trong đội
quân vô sản và tâm lý của phần tử tri thức tư sản thích nói những lời rỗng tuếch vô
chính phủ chủ nghĩa, người công nhân giác ngộ cần phải học cách đòi hỏi không
những các đảng viên thường, mà cả "những nhân vật cấp trên" nữa, đều phải làm
tròn những trách nhiệm của người đảng viên; người công nhân giác ngộ cần phải
khinh bỉnh bỉ chủ nghĩa theo đuôi trong các vấn đề tổ chức, cũng như trước kia họ
đã khinh bỉ nó trong các vấn đề sách lược (Lênin: "Một bước tiến hai bước lùi",
toàn tập, tập 8, tr. 464).
Như vậy, Lênin đã tiếp thu chủ nghĩa Mác, thông qua hoạt động chính trị,
truyền bá chủ nghĩa Mấc vào nước Nga những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX, vạch ra con đường phát triển của cách mạng Nga theo đường lối cách mạng vô
sản, thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản. Từ đặc điểm mới của thời đại và
thực tiễn nước Nga, Lênin đã bảo vệ và phát triển những luận điểm của Mác và
ăngghen. Đồng thời bằng thế giới quan, phương pháp luận mácxít, Lênin đã phân
tích cụ thể điều kiện kinh tế - xã hội Nga, từ đó khẳng định và chỉ ra những vấn đề
cụ thể trong học thuyết của Mác.
Vấn đề quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội đã được
Lênin bảo vệ và bổ sung nhiều khía cạnh khác nhau. Đặc biệt trong cấu trúc của ý

tranh không khoan nhượng với những tư tưởng, tâm lý lỗi thời, lạc hậu, với đạo đức
cũ và những giá trị phản văn hoá.
Tiểu luận chỉ đề cập khía cạnh tư tưởng của Người về lý luận cách mạng, bộ
phận ở trình độ cao của ý thức xã hội.
Một số nội dung cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lý luận cách mạng và
giáo dục lý luận của Đảng qua các tác phẩm đã học
- Năm 1920, Nguyễn ái Quốc lần đầu tiên được tiếp cận với "Sơ thảo lần thứ
nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, Người đã tìm thấy
trong đó "cái cần thiếu cho những chúng ta, con đường giải phóng chúng ta".
Sự kiện ấy làm cho khát vọng giải phóng để phát triển dân tộc có được lời
giải đáp khoa học, đồng thời đó cũng là bước ngoặt để Nguyễn ái Quốc từ người
yêu nước trở thành người cộng sản. Tuy nhiên con đường cứu nước, giải phóng dân
tộc theo con đường cách mạng vô sản là thế nào, vào thời điểm đó, Nguyễn ái Quốc
chưa thể hình dung ngay được. Điều đó chỉ được giải đáp trong quá trình hoạt động
thực tiễn và lý luận rất phong phú sau này của Bác.
- Trong "Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ", Bác đã rút ra một số luận
điểm liên quan đến việc phát triển lý luận cách mạng như: cuộc đấu tranh giai cấp
không diễn ra giống như ở phương Tây; chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của
đất nước; và do đó, "sự cần thiết phải bổ sung cơ sở lịch sử của chủ nghĩa Mác,
bằng cấch đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được".
Như vậy Bác đã đề cập đến luận điểm về sự cần thiết phải biết vận dụng một cách
sáng tạo lý luận Mác vào thực tiễn của mỗi nước, từ đó mà bổ sung, phát triển chủ
nghĩa Mác.
- Sau khi về Quảng Châu 11/1924. Người đã bắt tay mở các lớp huấn luyện
chính trị, các bài giảng được tập hợp thành cuốn "Đường cách mệnh", ngay dưới tên
sách có trích lời của Lênin: "Không có lý luận kách mệnh thì không có kách mệnh

Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh
đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó
chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính.
Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công
việc thực tế.
Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status