1
Đề tài:
“Mối quan hệ biện chứng giữa
tồn tại xã hội và ý thức xã hội”
2
A. MỞ ĐẦU
Những thành tựu và phát triển trong công cuộc đổi mới của nước ta trong
thời gian qua đã tạo ra thế và lực mới cả bên trong và bên ngoài để chúng ta bước
vào một thời kỳ phát triển mới. Nhiều tiền đề cần thiết cho sự phát triển mang
đặc trưng của dân tộc đãđược tạo ra, để giới thiệu và quảng bá cho các dân tộc
khác trên thế giới. Và do đó mối quan hệ của nước ta với các nước khác trên thế
giới được mở rộng hơn bao giờ hết. Khả năng giữ vững độc lập tự chủ và hội
nhập với cộng đồng thế giới tăng thêm. Cùng với sự phát triển nhanh của cách
mạng khoa học và công nghệ với trình độ ngày càng cao thì sự phát triển về
nhận thức sẽ làm cho nước ta không bị tụt hậu so vơí thế giới bên ngoài. Vàđiều
đó khiến cho chúng ta có cơ hội phát triển hơn. Tuy nhiên không thể phủ nhận tụt
hậu của các nước chậm phát triển so với các nước phát triển, mà nguyên nhân sâu
xa của nó chính làý thức xã hội của dân tộc đó. Điều đó dẫn đến nguy cơ tụt hậu
xa hơn với kinh tế so với nhiều nước trong khu vực vẫn là thử thách to lớn và gay
gắt do điểm xuất phát của chúng ta quá thấp, lại đi lên trong một môi trường cạnh
tranh khốc liệt.
Trước tình hình đó cùng với xu thế phát triển của thời đại Đảng và Nhà
nước ta cần liên tục tiến hành vàđẩy mạnh công cuộc đổi mới và toàn diện đất
xã hội với tư cách là một phạm trù triết học, là kết quả của sự khái qúat và trừu
tượng, với những quan hệ vật chất cụ thể, với những hạt nhỏ cảm tính. Tồn tại xã
hội bao gồm các yếu tố cơ bản:
PTSX vật chất.
Điều kiện tự nhiên: (hoàn cảnh địa lý)
Điều kiện dân cư: (dân số và mật độ dân số)
Trong đó yếu tố PTSX vật chất đóng vai trò quan trọng nhất chi phối các
yếu tố còn lại. Tồn tại xã hội không đứng một mình mà xong hành với nó làý
thức xã hội, và tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội. Tuy nhiên giữa các trường
phái khác nhau thì sựđánh giá về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội vàý thức xã hội
khác nhau. Trong đó theo các nhà chủ nghĩa duy tâm thì cho rằng tinh thần tư
tưởng là ngọn nguồn của mọi hiện tượng xã hội, quyết định sự phát triển của xã
hội. Nghĩa làý thức xã hội quyết định tồn tại xã hội. Còn theo các nhà chủ nghĩa
duy vật thì ngược lại bởi theo lập luận của họ thì cho rằng tồn tại xã hội là tính 5
thứ nhất, còn ý thức xã hội là tính thứ hai tuy nhiên họ cũng cho rằng sau khi ý
thức xã hội đã gia đời thì nó có tác động trở lại với tồn tại xã hội. Ta hãy lấy tôn
giáo làm ví dụ ta sẽ thấy rằng: Một số những tư tưởng và quan điểm gia đời từ
thời cổ vẫn có thể tiếp tục tồn tại hàng nghìn năm sau khi những điều kiện đẻ ra
nóđã mất đi. Như thế có nghĩa là ta không nên cứng nhắc phải nói tồn tại xã hội
hay ý thức xã hội là cái có trước mà nên hiểu theo từng hoàn cảnh sự vật, vật chất
cụ thể mới có thể tránh được những sai lầm trong đánh giá khách quan.
2. Yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội
Tồn tại xã hội là một phạm trù triết học rộng lớn nó bao gồm tất cả những
lĩnh vực của hoạt động vật chất vàđược thể hiện qua 3 yếu tố cơ bản.
* Phương thức sản xuất vật chất:
Lênin cho rằng vật chất vốn tự nó có không do ai sinh ra, và không thể
tiêu diệt được, nó tồn tại bên ngoài và không lệ thuộc vào cảm giác, ý thức của
của các giai cấp xã hội. Nói theo nghĩa tương đối hẹp thìkhái niệm ý thức xã hội
chỉ là tư tưởng, quan điểm và thuyết xã hội phản ánh tồn tại xã hội và chếđộ xã
hội.
Duy vật lịch sử dạy chúng ta rằng ý thức xã hội là phản ánh tồn tại xã hội
của điều kiện sinh hoạt vật chất xã hội. Tồn tại xã hội của người ta thế nào, sinh
hoạt vật chất của người ta như thế nào thìý thức xã hội của người ta cũng như
thế.
Ý thức xã hội là một hiện tượng tinh thần, một lĩnh vực của đời sống xã
hội. Nó tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội trong lĩnh vực sản
xuất vật chất. Ở thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ thìý thức xã hội còn ở trình độ
thấp, nghèo nàn về nội dung và hình thức phản ánh. Nhưng càng về sau thì trình
độ kinh tế - xã hội phát triển cả về quy mô, tốc độ và chiều sâu nên ý thức xã hội
với tính cách là phản ánh tồn tại xã hội cũng trở nên phong phú và phức tạp. 7
2. Kết cấu của ý thức xã hội.
Ý thức xã hội là một hiện tượng phức tạp, tuỳ theo mục đích, trình độ
phản ánh mà người ta chia ra thành các cấp độ, các bộ phận khác nhau.
* Ý thức thông thường vàý thức lý luận.
- Ý thức thông thường phản ánh cái đời sống vật chất tự nhiên hàng ngày
của chúng ta hình thành trực tiếp trong đời sống xã hội. Nó chưa có tính hệ
thống, tính hợp lý nhưng nó cóđầy đủ chi tiết của cảm giác sống.
Ý thức lý luận là toàn bộ những tư tưởng phản ánh bản chất, tính quy luật
của sự vật và hiện tượng, quan điểm xã hội được hệ thống hoá thành các hệ thống
cụ thể như: Triết học, đạo đức, nghệ thuật…ý thức lý luận có tính hệ thống, tính
hợp lý, tính trừu tượng khái quát.
* Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng.
- Tâm lý xã hội là một bộ phận ở cấp độý thức thông thường bao gồm:
Tình cảm, tâm trạng, tập quán, thói quen của con người được hình thành một
cụ thể. Do kết quả của sự giáo dục, rèn luỵên, trường đời trải qua… ý thức cá
nhân vươn lên tầm khái quát, phản ánh cái chung, tính quy luật vận động xã hội
khi đóý thức cá nhân chuyển hoá thành ý thức xã hội.
* Tính giai cấp của ý thức xã hội.
Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp cóđịa vị xã hội khác nhau, vai trò xã
hội khác nhau điều kiện sinh sống khác nhau… nên ý thức xã hội mang tính giai
cấp. Tính giai cấp đóđược thể hiện ở tâm lý xã hội và hệ tư tưởng.
* Tính dân tộc của ý thức xã hội.
Mỗi dân tộc có hoàn cảnh sống riêng, truyền thống riêng, lịch sử phát triển
riêng… nên ý thức xã hội mang tính dân tộc. Khi ý thức của một giai cấp phản
ánh được lợi ích dân tộc thì tính giai cấp và tính dân tộc của ý thức xã hội có sự
phù hợp. Trường hợp ngược lại thì không phù hợp, mâu thuẫn. 9
* Tính nhân loại của ý thức xã hội.
Ý thức xã hội còn mang tính nhân loại. ởđây những giá trịđược khẳng
định trong quá trình phát triển của nhân loại. Trong tâm lý thể hiện những đặc
điểm mang tính loài (loài người), trong hệ tư tưởng phản ánh tính hiện thực, xu
hướng phát triển của lịch sử nhân loại.
III. Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội vàý thức xã hội.
Đã có không ít những nhận xét , đánh giávề mối quan hệ giữa tồn tại xã
hội vàý thức xã hội. Có những nhận xét rất chính xác và hoàn chỉnh nhưng bên
cạnh đó không ít những nhận xét sai lầm về mối quan hệ trên màđiển hình là
sựđánh giá của những nhà duy tâm.
Những người duy tâm xuất phát từđiểm: Khi người ta giao thiệp với nhau
thì người ta hoạt động như những thực thể cóý thức, và từđiểm đó họ rút ra kết
luận sai lầm là: Tồn tại xã hội vàý thức xã hội đều ngang nhau. Khi phê phán
quan điểm duy tâm sai lầm, phản khoa học ấy Lênin đã viết:
"Tồn tại xã hội vàý thức xã hội không phải là ngang nhau, cũng không
Ý thức xã hội của người ta lúc nào cũng phản ánh điều kiện sinh hoạt vật
chất của người ta. còn muốn biết những điều kiện đó phản ánh như thế nào, thì
phải xem trình độ phát triển của lịch sử như thế nào? Phải xem phương thức sản
xuất ra làm sao.
Cùng với thời gian đã qua đi, nhất là từ khi sinh ra phân công xã hội, từ
khi xuất hiện giai cấp vàđấu tranh giai cấp, từ khi lao động tríóc tách rời lao động
chân tay thì toàn bộ sinh hoạt xã hội của người ta gồm cả sinh hoạt tinh thần, dần
dần trở nên phức tạp. Nhà nước gia đời pháp quyền cũng từđó mà xuất hiện. Các
hình thái ý thức xã hội mới sinh ra và phát triển nên: Quan điểm chính trị, quan
điểm pháp quyền, cùng khoa học và triết học xuất hiện; nghệ thuật một yếu tố
của sinh hoạt tinh thần tức văn hoá cũng phát triển lên và phân hoá thành các loại
nghệ thuật. 11
Những người mang tư tưởng duy vật kinh tế tầm thường hoá và giản đơn
hoá chủ nghĩa Mác, định trực tiếp tìm nguồn gốc sinh ra quan điểm triết học, tôn
giáo, đạo đức, nghệ thuật… của người ta trong quá trình sản xuất, dùng trình độ
kỹ thuật để giải thích tính chất và phương hướng phát triển của nghệ thuật, triết
học, đạo đức. Thái độ tầm thường đối với các hiện tượng sinh hoạt tinh thần như
thế làđi ngược lại vàđối địch với chủ nghĩa Mác. Chủ nghĩa duy vật lịch sử dạy
chúng ta rằng ý thức xã hội, hệ thống tư tưởng xã hội và hệ thống tư tưởng của
giai cấp họp thành xã hội là do sự phát triển của sản xuất, do hoạt động sản xuất
của xã hội quy định, nhưng không phải quyết định trực tiếp mà thông qua cơ sở
kinh tế của xã hội, thông qua quan hệ sản xuất. í thức xã hội không phản ánh một
cách trực tiếp và tức khắc sự biến đổi của trình độ phát triển sức sản xuất, mà
phản ánh sau khi kinh tế biến đổi thông qua những chiết quang của những biến
đổi trong sản xuất phản chiếu ra những biến đổi trong chếđộ kinh tế xã hội. Đồng
thời, một số hình thái ý thức xã hội không những trực tiếp chịu ảnh hưởng có tính
quyết định của cơ sở kinh tế mà còn chịu ảnh hưởng của cơ sở kinh tế thông qua
do những người tự xưng là chuyên gia văn hoá vô sản nghĩ ra. Nếu như thế tức
là nói láo. Văn hoá vô sản phải là kết quả phát triển tất nhiên của những kho
tàng tri thức mà loài người sáng tạo ra dưới áp bức của TBXHCN, xã hội địa
chủ, xã hội quan liêu ".
Do đó có thể thấy rằng không nên dùng tư tưởng để giải thích sự phát triển
của triết học, khoa học, nghệ thuật và những hình thái ý thức xã hội khác, không
nên quy sự phát triển ấy thành "quan hệ huyết thống của tư tưởng" như những
người duy tâm đã làm. Phải tìm nguồn gốc tư tưởng ởtồn tại xã hội của người ta,
ở tồn tại giai cấp của người ta vàở nền kinh tế của một xã hội nào đó. Nhưng
đồng thời phải chúýđến mối liên hệ và tính kế thừa trong sự phát triển của các
hình thái kinh tế. KHông nên giản đơn hoá sự vật, không nên đi trực tiếp từ kinh
tế nhất làđi từ quá trình sản xuất để suy luận tất cả những hiện tượng tư tưởng.
Tính độc lập tương đối của sự phát triển các hình thái ý thức xã hội đãđem
lại một nhận thức sai trong đầu óc những nhà tư tưởng duy tâm: Cho rằng quá
trình tư tưởng không lệ thuộc vào điều kiện sinh họat vật chất của xã hội, không
lệ thuộc vào đấu tranh giai cấp. Sở dĩ nhận thức sai lầm ấy được củng cố trong ý 13
thức của họ, là vì hình thái ý thức xã hội tuy là phản ánh của điều kiện sinh hoạt
vật chất nhưng sự phát triển của nó lại đi sau sự biến đổi của sinh hoạt vật chất.
Trước hết tồn tại xã hội biến đổi, rồi sau đóý thức xã hội mới biến đổi theo hoặc
nhanh hoặc chậm.
Ý thức xã hội do tồn tại xã hội quy định nhưng nó không hoàn toàn
thụđộng mà có tính năng động, có tính độc lập tương đối trong sự phát triển của
mình. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội được biểu hiện ở những mặt sau:
*Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội.
ý thức xã hội thường tồn tại hơn so với tồn tại xã hội . Về mặt nhận thức ý
thức xã hội là cái phản ánh, đặc biệt là phản ánh các hiện tượng, quy luật xã hội
đòi hỏi phải có thời gian. Do sức mạnh của thói quen, tập quán, truyền thống. Do
những tư tưởng khoa học có thểđóng vai trò tiên phong vượt trước sự phát triển
của tồn tại xã hội, dự kiến được tương lai và có tác dụng tổ chức chỉđạo hoạt
động thực tiễn của con người, hướng hoạt động vào việc giải quyết những nhiệm
vụ mới do sự phát triển của đời sống vật chất của xã hội đạt ra. Nhưng điều này
không có nghĩa ý thức xã hội không bị quyết định bởi tồn tại xã hội. Vấn đề làở
chỗý thức xã hội đã phát hiện ra khuynh hướng phát triển của tồn tại xã hội và
phản ánh ít nhiều chính xác khuynh hướng đó, đem lại khả năng sử dụng sức
mạnh cải tạo của những tư tưởng xã hội tiên tiến đối với tồn tại xã hội.
* Tính kế thừa trong sự phát triển của ý thức xã hội.
Những quan điểm và lý luận của mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh
đất chống không, màđược tạo ra trên cơ sở những tư liệu lý luận của các thời đại
trước, nghĩa là có quan hệ kế thừa với ý thức tư tưởng của thời đại trước. Tính kế
thừa của ý thức xã hội thể hiện rõ trong tập quán, truyền thống văn hoá của xã
hội. Trong xã hội có giai cấp, tính kế thừa của ý thức xã hội bao giờ cũng gắn
liền với giai cấp của nó. Những giai cấp tiên tiến dựa vào những lý luận do xã hội
cũđể lại, vớt bỏ những tư tưởng lỗi thời không phù hợp với thời đại mình. Còn
các giai cấp, các lực lượng xã hội lỗi thời, phản tiến bộ thì tìm mọi cách làm sống 15
lại những gì có liên quan đến lợi ích của mình, bất kể những tư tưởng đóđã lạc
hậu đến đâu và như thế nào.
* Sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự
phát triển của chúng.
Ý thức xã hội được thể hiện dưới nhiều hình thái cụ thể: ý thức chính trị,
phong tục tập quán đạo đức, triết học, nghệ thuật tôn giáo, khoa học. Mỗi hình
thái ý thức xã hội phản ánh một đối tượng nhất định, một phạm vi nhất định của
tồn tại xã hội nhưng chúng có mối liên hệ, tác động lẫn nhau. Nói cách khác, ý
thức xã hội với tính cách là một chỉnh thể phản ánh tồn tại xã hội dưới những góc
độ khác nhau, nó mang trong mình nhiều yếu tố phức tạp, bởi vậy chúng ta
hội của mình bị kẻ thù phủ nhận, những nguyên lýđó là : Điều kiện sinh hoạt vật
chất của xã hội có tác dụng quyết định, nó là nguồn gốc phát sinh và biến đổi của
tư tưởng quan điểm, lý luận, chếđộ chính trị, chếđộ pháp quyền của xã hội. Còn
nói đến vấn đề tác dụng tích cực trở lại của tư tưởng đối với sự phát triển của
sinh hoạt vật chất xã hội thì Mác vàĂng ghen cũng đã trở lời dứt khoát trên
nguyên tắc trong những tác phẩm của mình đặc biệt là trong những tác phẩm về
lịch sử, còn những tác phẩm triết học của Mác vàĂng ghen thì vì hoàn cảnh lịch
sử nên trọng tâm đều đạt vào việc bảo vệ và giải thích nguyên tắc chủ yếu của
chủ nghĩa duy vật lịch sử là : Điều kiện sinh hoạt vật chất xã hội có tác dụng
quyết định, đặt vào việc giải thích nguyên nhân làm cho tư tưởng, lý luận, quan
điểm biến đổi. Vềđiểm này, năm 1890 Ăng ghen đã viết:
" Các bạn thanh niên! (những người theo chủ nghĩa Mác- Công-stăng-
tinốp) có lúc đã quá coi nặng mặt kinh tế, vềđiểm này Mác và tôi cũng phải chịu
một phần trách nhiệm. Chúng tôi vì phải chống lại kẻ thù, nên không thể không
nhấn mạnh nguyên tắc chủ yếu mà chúng phủ nhận, do đó không cóđủ thời gian,
địa điểm và cơ hội để làm cho những yếu tố tác động lẫn nhau khác có một địa
vị xứng đáng. Song một khi phải giải thích một thời kỳ lịch sử nào đó, cũng có
nghĩa là phải thực tếáp dụng (phương pháp duy vật lịch sử - Công stăng- tinốp)
thì tình hình lại khác, lúc ấy không thể có một chút sai lầm nào nữa ". 17
Mác thư gưỉ cho Bơ-rốt- sô (21-9-1890). 18
C. KẾTLUẬN
Tóm lại, mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và nhận thức xã hội là mối quan
hệ biện chứng, ý thức xã hội do tồn tại xã hội, do điều kiện sinh hoạt vật chất xã
hội đẻ ra nhưng nó có tính độc lập tương đối nếu chỉ thấy tồn tại xã hội quyết