Tài liệu TIỂU LUẬN: Quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Sự vận dụng của Đảng ta trong đường lối đổi mới ở Việt Nam - Pdf 10



TIỂU LUẬN:

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất và vận dụng
trong quá trình phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

A - Đặt vấn đề

Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội là lịch sử phát triển của những phương
thức sản xuất kế tiếp nhau từ thấp đến cao. Mà lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
la hai mặt của phương thức sản xuất , chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua
lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất - quy luật cơ bản nhất của sự vận
động phát triển của xã hội.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là
quy luật phổ biến, tác động trong toàn tiến trình lịch sử của nhân loại.
Sự vận động, phát triển cùa lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ
sản xuất cho phù hợp với nó. Ngược lại, quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương
và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất phù hợp

sản xuất cơ bản, quyết định nhất của xã hội.
Ngày nay, khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì nội dung khái
niệm lực lượng sản xuất được bổ sung, hoàn thiện hơn. Các cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ đã làm xuất hiện những khu vực sản xuất mới và làm cho năng suất lao
động tăng lên gấp bội. Năng suất lao động được xem như là tiêu chí quan trọng trọng
nhất để đánh giá trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và suy cho cùng cũng là yếu
tố quyết định sự chiến thắng của một trật tự xã hội này đối với một trật tự xã hội khác.
b) Quan hệ sản xuất:
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất,
phân phối, trao đổi và tiêu dùng sản phẩm xã hội (sản xuất và tái sản xuất xã hội).
Trong quá trình sản xuất, con người không chỉ có quan hệ với tự nhiên, tác động
vào giới tự nhiên, mà còn có quan hệ với nhau, tác động lẫn nhau. Hơn nữa, chỉ có
trong quan hệ tác động lẫn nhau thì con người mới có sự tác động vào tự nhiên và mới
có sản xuất.
Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, biểu hiện mối quan hệ giữa con
người với con người trên ba mặt chủ yếu sau:

- Quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất là quan hệ giữa con người với con
người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội.
- Quan hệ trong tổ chức và quản lý là quan hệ giữa con người với con người trong
việc tổ chức quản lý sản xuất xã hội và trong trao đổi hoạt động cho nhau.
- Quan hệ phân phối lưu thông là quan hệ giữa con người với con người trong phân
phối và lưu thông sản phẩm xã hội.
Các mặt nói trên của quan hệ sản xuất có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại
lẫn nhau, trong đó quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định. Trong
xã hội có giai cấp, giai cấp nào chiếm hữu tư liệu sản xuất thì giai cấp đó là giai cấp
thống trị; giai cấp ấy đứng ra tổ chức, quản lý sản xuất và sẽ quyết định tính chất, hình
thức phân phối, cũng như quy mô thu nhập. Ngược lại, giai cấp, tầng lớp nào không có
tư liệu sản xuất thì sẽ là giai cấp, tầng lớp bị thống trị, bị bóc lột vì buộc phải làm thuê
và bị bóc lột dưới nhiều hình thức khác nhau.

hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó
quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển” của lực lượng sản xuất. Trong trạng thái đó,
tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất
phát triển. Điều đó có nghĩa là, nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu
giữa người lao động với tư liệu sản xuất và do đó lực lượng sản xuất có cơ sở để phát
triển hết khả năng của nó.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ
sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản
xuất. Khi đó, quan hệ sản xuất trở thành “xiềng xích” của lực lượng sản xuất, kìm hãm
lực lượng sản xuất phát triển. Yêu cầu khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất
tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với
trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục
phát triển. Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là
phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời thay thế.

b) Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của
lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất không
hoàn toàn thụ động mà tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ
sản xuất có thể tác động đến lực lượng sản xuất vì nó quy định mục đích của sản xuất,
tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao
động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ và do đó tác động
đến sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Ngược
lại quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc “tiên tiến” hơn một cách giả tạo so với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Khi quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, thì theo quy luật
chung, quan hệ sản xuất cũ sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là

Đại hội Đảng lần thứ VIII đã chỉ rõ: vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thể hiện ở
chỗ “làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, mở
đường, hướng dẫn , hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển; làm lực lượng
vật chất để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tạo nền tảng cho
chế độ xã hội mới”.

1 - Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:
Từ khi hoà bình được lập lại năm 1954, miền Bắc nước ta đã bước vào thời kỳ quá
độ tiến lên chủ nghĩa xã hội với đặc điểm như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Đặc
điểm to nhất của nước ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến
thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”.
Từ năm 1975, sau khi đất nước đã hoàn toàn độc lập và cả nước thống nhất, cách
mạng dân tộc - dân chủ đã hoàn toàn thắng lợi trên phạm vi cả nước thì cả nước cùng
tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, cùng quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh

xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta nói rõ hơn
thực trạng kinh tế và chính trị của đất nước: “Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ
qua chế độ tư bản, từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất
rất thấp. Đất nước trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề,
những tàn dư thực dân, phong kiến còn nhiều. Các thế lực thù địch thường xuyên tìm
cách phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa và nền độc lập dân tộc của nhân dân ta”.
Thời kỳ quá độ là thời kỳ lịch sử mà bất cứ một quốc gia nào đi lên chủ nghĩa xã
hội cũng đều phải trải qua, ngay cả đối với những nước đã có nền kinh tế rất phát triển,
bởi lẽ, ở các nước này, tuy lực lượng sản xuất đã phát triển cao nhưng vẫn còn cần phải
cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất mới, xây dựng nền văn hoá mới. Dĩ nhiên, đối
với những nước thuộc loại này, về khách quan có nhiều thuận lợi hơn, thời kỳ quá độ
có thể diễn ra ngắn hơn. Đối với nước ta, một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ
nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thì lại càng phải trải qua một thời kỳ quá
độ lâu dài.
Theo Củ tịch Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một

bình quân hàng năm 5,7% (mục tiêu đề ra là tăng 4,5 - 5%). Đã tạo được một số mặt
hàng xuất khẩu chủ lực là gạo (đứng thứ 2 - 3 thế giới), cà phê (đứng thứ 3 thế giới),
ngoài ra còn có hồ tiêu, cao su, và hàng thuỷ sản… .
- Công nghiệp và xây dựng vượt qua những khó khăn, thách thức, đạt được nhiều
tiến bộ. Nhịp độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm là 13,5%. Các
sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá: năm 2000 so với năm 1995, công suất điện
gấp 1,5 lần, xi măng gấp 2,1 lần, phân bón gấp trên 3 lần, thép gấp 1,7 lần, mía đường
gấp hơn 5 lần … . Một số sản phẩm quan trọng tăng nhanh như dầu thô, điện, than
sạch, thép cán, xi măng, vải các loại, giấy các loại … . Ngành xây dựng có thể đảm
đương việc thi công những công trình quy mô lớn, hiện đại về công nghệ. Một số vật
liệu xây dựng chất lượng cao sản xuất trong nước đạt tiêu chuẩn châu Âu và khu vực
(gạch lát nền, gạch ốp lát …).

- Các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển trong điều kiện khó khăn hơn trước, góp
phần tích cực cho tăng trưởng kinh tế và phục vụ đời sống. Giá trị các ngành dịch vụ
tăng 6,8%/năm. Giá trị doanh thu bưu điện tăng bình quân hàng năm 11,3%.
- Hệ thống kết cấu hạ tầng có bước phát triển khá, đáp ứng yêu cầu trước mắt và
tạo được những năng lực gối đầu cho thời kỳ sau. Các công trình và các trục tuyến giao
thông quan trọng được tập trung đầu tư nâng cấp, bảo đảm giao thông thông suốt trong
cả nước. Hệ thống bưu chính viễn thông được hiện đại hoá về cơ bản. Hệ thống thuỷ
lợi được nâng cấp và phát triển trên các vùng. Cơ sở vật chất của các ngành giáo dục
và đạo tạo, khoa học và công nghệ, y tế, văn hoá, du lịch, thể dục thể thao … đều được
tăng cường đáng kể.
- Kinh tế đối ngoại tiếp tục phát triển. Nước ta đã xây dựng quan hệ thương mại
với trên 140 nước, quan hệ đầu tư với gần 70 nước và vùng lãnh thổ, thu hút được
nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hàng
năm trên 21%, gấp 3 lần mức tăng GDP. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục gia tăng,
đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội. Vốn hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA) tiếp tục tăng, góp phần quan trọng phát triển kết cấu hạ tầng.
Hai là văn hoá, xã hội có những tiến bộ, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện.

- 5 thế hệ). Lao động thủ công vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lao động xã hội.
Do đó, năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất của nước ta còn thấp so với khu vực và
thế giới (năng suất lao động của nước ta chỉ bằng 30% mức trung bình của thế giới).
- Kết cấu hạ tầng như hệ thống đường giao thông, bến cảng, hệ thống thông tin liên
lạc … còn lạc hậu, kém phát triển (mật độ đường giao thông/km bằng 1% với mức
trung bình của thế giới; tốc độ truyền thông trung bình cả nước chậm hơn của thế giới
30 lần). Hệ thống giao thông kém phát triển làm cho các địa phương, các vùng bị chia
cắt, tách biệt nhau, do đó làm cho nhiều tiềm năng của các địa phương không thể được
khai thác, các địa phương không thể chuyên môn hoá sản xuất để phát huy thế mạnh.
- Do cơ sỏ vật chất - kỹ thuật còn ở trình độ thấp làm cho phân công lao động kém
phát triển, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm. Nền kinh tế nước ta chưa thoát khỏi
nền kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ. Nông nghiệp vẫn sử dụng 70% lực lượng lao

động, nhưng chỉ sản xuất khoảng 26% GDP, các ngành kinh tế công nghệ cao chiếm tỷ
trọng thấp.
- Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước, cũng như
thị trường nước ngoài còn rất yếu. Do cơ sở vật chất - kỹ thuật và công nghệ lạc hậu,
năng suất lao động thấp, do đó khối lượng hàng hoá nhỏ bé, chủng loại hàng hoá còn
nghèo nàn, chất lượng hàng hoá thấp, giá cả cao vì thế khả năng cạnh tranh còn yếu.
Hai là, thị trường dân tộc thống nhất đang trong quá trình hình thành nhưng chưa
đồng bộ.
- Do giao thông vận tải kém phát triển nên chưa lôi cuốn được tất cả các vùng trong
nước vào một mạng lưới lưu thông hàng hoá thống nhất.
- Thị trường hàng hoá - dịch vụ đã hình thành nhưng còn hạn hẹp và còn nhiều hiện
tượng tiêu cực (hàng giả, hàng lậu, hàng nhái vẫn làm rối loạn thị trường).
- Thị trường hàng hoá sức lao động mới manh nha, một số trung tâm giới thiệu việc
làm và xuất khẩu lao động mới xuất hiện nhưng đã nảy sinh hiện tượng khủng hoảng.
Nét nổi bật của thị trường này là sức cung về lao động lành nghề nhỏ hơn cầu rất
nhiều, trong khi đó cung về sức lao động giản đơn lại vượt quá xa cầu, nhiều người có
sức lao động không tìm được việc làm.

siêu còn lớn. Lạm phát tuy được kiềm chế nhưng chưa vững chắc”.

III/những Giải pháp và mục tiêu phát triển trong thời gian tới:

1 - Các giải pháp cơ bản để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam:
Để phát triển nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, cần thực hiện đồng bộ nhiều
giải pháp. Dưới đây là những giải pháp chủ yếu nhất:
a) Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần:

Trước đây, khi xây dựng kinh tế kế hoạch, xoá bỏ kinh tế thị trường, chúng ta đã
thiết lập một cơ cấu sở hữu đơn giản với hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập
thể. Vì vậy, khi chuyển sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế
thị trường, cần phải đổi mới cơ cấu sở hữu cũ bằng cách đa dạng hoá các hình thức sở
hữu, điều đó sẽ đưa đến sự hình thành các chủ thể kinh tế độc lập, có lợi ích riêng, tức
là khôi phục một trong những cơ sở của kinh tế hàng hoá.
Trên cơ sở đa dạng hoá các hình thức sở hữu, thực hiện nhất quán, lâu dài chính
sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Lấy việc phát triển sức sản
xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân làm mục tiêu quan
trọng để khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và các hình thức tổ chức sản
xuất kinh doanh. Theo tinh thần đó, tất cả các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước
pháp luật, đều được khuyến khích phát triển.
Trong những năm tới cần phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Muốn vật
cần tập trung nguồn lực phát triển có hiệu quả kinh tế nhà nước trong những lĩnh vực
trọng yếu của nền kinh tế, sắp xếp lại khu vực kinh tế nhà nước, thực hiện tốt chủ
trương cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu đối với những doanh nghiệp nhà nước
không cần nắm 100% vốn. Xây dựng và củng cố một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ
sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế. Đẩy mạnh
việc đổi mới kỹ thuật, công nghệ trong các doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện chế độ
quản lý công ty đối với tất cả các doanh nghiệp kinh doanh có vốn của nhà nước,

lao động và phân bố dân cư trong phạm vi cả nước, cũng như ở từng vùng, từng địa
phương; hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý cho phép khai thác tốt nhất các nguồn lực
của đất nước, tạo nên sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của toàn bộ nền kinh
tế.
c) Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường:
Trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các nguồn lực kinh tế đều thông qua thị
trường mà được phân bố vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế một cách tối ưu.
Vì vậy, để xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,

chúng ta phải hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường. Trong những năm
tới chúng ta cần phải:
- Phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ thông qua việc đẩy mạnh sản xuất, thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển hệ thống giao thông và phương tiện vận tải
để mở rộng thị trường. Hình thành thị trường sức lao động có tổ chức để tạo điều kiện
cho sự di chuyển sức lao động theo yêu cầu phát triển kinh tế và sử dụng có hiệu quả
nguồn nhân lực.
- Xây dựng thị trường vốn, từng bước hình thành và phát triển thị trường chứng
khoán để huy động các nguồn vốn vào phát triển sản xuất.
- Quản lý chặt chẽ đất đai và thị trường nhà ở. Xây dựng và phát triển thị trường
thông tin, thị trường khoa học công nghệ. Hoàn thiện các loại thị trường đi đôi với xây
dựng khuôn khổ pháp lý và thể chế, tăng cường sự kiểm tra, giám sát của nhà nước, để
thị trường hoạt động năng động, có hiệu quả, có trật tự, kỷ cương trong môi trường
cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch, hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh
doanh. Có biện pháp hữu hiệu chống buôn lậu và gian lận thương mại.
d) Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại:
Trong điều kiện hiện nay, chỉ có mở cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế khu vực và
thế giới, mới thu hút được vốn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại để khai thác tiềm năng
và thế mạnh của đất nước nhằm phát triển kinh tế.
Khi mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại phải quán triệt nguyên tắc bình đẳng, cùng
có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Mở rộng kinh tế đối ngoại theo

năng quản trị kinh doanh để các doanh nghiệp có quyền tự chủ trong sản xuất kinh
doanh. Nhà nước sử dụng các biện pháp kinh tế là chính để điều tiết nền kinh tế, chứ
không phải là mệnh lệnh. Vì vậy, phải tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách tài
chính, chính sách tiền tệ, chính sách tiền lương và giá cả.

2 - Quan điểm phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước ta:

Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta không nằm ngoài mục tiêu tăng trưởng, phát triển kinh tế và thực hiện công
bằng xã hội. Đảng ta luôn khẳng định mục tiêu: “Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn
minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”. Mục tiêu ấy chính là đã hàm chứa nội dung
vừa có tăng trưởng kinh tế cao, vừa có tiến bộ và công bằng xã hội. Tuy vậy, để đạt
được mục tiêu kép này không phải dễ dàng và lịch sử cho thấy đã có nhiều trường hợp
xảy ra sự đối lập giữa tăng trưởng, phát triển kinh tế và công bằng xã hội. Các chính
sách dựa trên mục tiêu công bằng có thể dẫn đến triệt tiêu các động lực tăng trưởng,
phát triển kinh tế và ngược lại, một chính sách chỉ nhằm vào tăng trưởng có thể làm
cho bất bình đẳng tăng lên. Mối quan hệ hợp lý giữa tăng trưởng, phát triển kinh tế và
công bằng xã hội phụ thuộc vào quan điểm, chính sách của nhà nước về vấn đề này và
sự thực thi nó trong cuộc sống.
Trong thời kỳ trước đổi mới, chúng ta đã có cách hiểu chưa đầy đủ về công bằng
và bình đẳng xã hội, đồng nhất công bằng với bình đẳng, dẫn đến chủ nghĩa bình quân
trong phân phối, làm triệt tiêu những nhân tố tích cực, năng động của xã hội. Chủ
nghĩa bình quân chứa đựng nhiều yếu tố bất hợp lý đến mức làm cho người lao động
thờ ơ với sở hữu xã hội, không quan tâm đến kết quả lao động.
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã nêu ra nhiều tư duy mới,
quan điểm mới về tăng trưởng, phát triển kinh tế và công bằng xã hội. Tất nhiên những
quan điểm mới đó đều bắt nguồn và dựa trên cơ sở đường lối xây dựng chủ nghĩa xã
hội của Đảng cộng sản Việt Nam, thể hiện rõ trong cương lĩnh của Đảng.
Đại hội Đảng VIII của Đảng ta (tháng 6/1996) ra nghị quyết tiếp tục nắm vững hai

- Nâng lên đáng kể chỉ số phát triển con người (HDI). Tốc độ tăng dân số năm
2010 còn khoảng 1,1%. Xoá hộ đói, giảm nhanh hộ nghèo. Giải quyết tốt việc làm (ở
thành thị thất nghiệp dưới 5%, nông thôn thời gian lao động lên 80 - 85%); tủ lệ người
lao động được đào tạo nghề khoảng 40%. Trẻ em đến tuổi đi học đều được đến trường,
hoàn thành phổ cập trung học cơ sở trong cả nước. Người có bệnh được chữa trị, giảm

tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống khoảng 20%, tăng tuổi thị trung bình lên
71. Chất lượng đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần được nâng lên rõ rệt.
- Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được tăng cường, chi phối các lĩnh vực then
chốt của nền kinh tế. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được
hình thành về cơ bản và vận hành thông suốt, có hiệu quả .
C - Kết thúc vấn đề

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất là quy luật phổ biến, tác động không chỉ tới một hình thái kinh tế xã hội
nào đó, mà tác động tới toàn bộ lịch sử phát triển của nhân loại.
ở Việt Nam, việc duy trì tồn tại nhiều thành phần kinh tế là một tất yếu khách quan
trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần thể hiện chủ trương đúng đắn của nhà nước là đa dạng hoá các loại hình sở
hữu, cải thiện căn bản quan hệ sản xuất cho phù hợp với lực lượng sản xuất đang phát
triển. Điều này phù hợp với quá trình đi từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn của Việt Nam.
Chúng ta đã vận dụng hợp lý quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vào thực tại ở Việt Nam.
Tuy vậy, thực tế đặt ra vấn đề nan giải là làm thế nào để có thể phát triển trình độ
lực lượng sản xuất ở Việt Nam bắt kịp với các nước trên thế giới? Điều này đặc biệt
có ý nghĩa khi Việt Nam đi từ một nước phong kiến bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa
tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, mà thiếu cái “cốt vật chất” hiện đại của lực lượng sản

(NXB Chính trị quốc gia)

5, Tạp chí Triết học.
(số tháng 1 & tháng 6/2002; tháng 3/2003)

6, Tạp chí Cộng sản.
(số tháng 9/2003) Mục lục

Trang

A - Đặt vấn đề 1
B - Giải quyết vấn đề 2

I/Cơ sở lý luận:

2
1 - Các khái niệm: 2
2 - Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: 4

II/Vận dụng quy luật về sự phù hợp của qhsx


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status