Trường
Khoa………………….
TIỂU LUẬN
"Học thuyết Mác về hình thái kinh
tế – xã hội và sự vận dụng của đảng
ta trong thời kì đổi mới gắn với
hoạt động ngân hàng"
A.GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Mọi người đều biết, trong lịch sử tư tưởng nhân loại trước Mác đã có
không ít cách tiếp cận khi nghiên cứu sự phát triển của xã hội. Xuất phát từ
những nhận thức khác nhau, với những ý tưởng khác nhau mà có sự phân
chia lịch sử tiến hóa của xã hội theo những cách khác nhau. Chẳng hạn, nhà
xã hội học Vi – cô ở Italia (1668-1744) đã phân chia các thời kì phát triển
của xã hội giống như phân chia các giai đoạn của một đời người: thơ
xã hội, khoa học, kỹ thuật. Do đó, nó cắt nghĩa xã hội được sáng tỏ hơn, toàn
diện hơn, chỉ ra cả bản chất và quá trình phát triển của xã hội.
Trong sự nghiệp đổi mới của Đảng ta hiện nay, Đảng ta đã
vạch ra con đường phát triển c
ủa đất nước: "Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành
động "
Đề tài "Học thuyết Mac về hình thái kinh tế – xã hội và sự
vận dụng của đảng ta trong thời kì đổi mới gắn với hoạt động ngân
hàng" là một đề tài mang tính chất sâu rộng và có ý nghĩa vô cùng to lớn
trong nhận thức, đánh giá về đường lối chính sách. Nghiên c
ứu vấn đề đó là
một tất yếu khách quan vì nó không chỉ có ý nghĩa về phương pháp luận mà
còn có giá trị lớn trong thực tiễn.
B.NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I.TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN
Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác như Lênin đánh giá là
thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học, trong đó cốt lõi là học thuyết
hình thái kinh tế-xã hội. Giai cấp tư bản không thể chấp nhận được học
thuyết này vì trong đó đã luận chứng một cách khoa học chặt chẽ chế độ tư
bản sẽ bị thay thế bằng chế độ cộng sản chủ nghĩa theo quy luật chung của
tiến hóa xã hội, mà chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác đã tìm ra.
Bằng sự nghiêm túc khoa học, chúng ta thấy rằng cho đến
nay chưa có học thuyết nào về tiến hóa xã hội có thể thay thế được học
thuyết Mác về hình thái kinh tế-xã hội. Học thuyết này đem đến cho chúng
ta cơ
ủ nghĩa.
Hình thái kinh tế-xã hội có tính lịch sử, có sự ra đời và diệt
vong. Chế độ xã hội lạc hậu sẽ mất đi, chế độ xã hội mới cao hơn sẽ thay thế
nó. Đó là khi phương thức sản xuất cũ đã trở nên lỗi thời, khủng hoảng do
mâu thuẫn của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất.
L
ực lượng sản xuất là nền tảng vật chất kĩ thuật của mỗi hình
thài kinh tế-xã hội. Sự hình thành và phát triển của mỗi hình thái kinh tế, xét
cho cùng do lực lượng sản xuất quyết định. Lực lượng sản xuất qua các hình
thái kinh tế- xã hội nối tiếp nhau từ thấp lên cao.
Quan hệ sản xuất, quan hệ giữa người với người trong quá
trình sản xuất- là những quan hệ
cơ bản ban đầu và quyết định tất cả mọi
quan hệ xã hội khác. Mỗi hình thái kinh tế- xã hội lại có một kiểu quan hệ
sản xuất của nó tương ứng với một trình độ nhất định của lực lượng sản
xuất. Quan hệ sản xuất là một tiêu chuẩn khách quan để phân biệt xã hội cụ
thể này với xã hội khác, đồng thời tiêu biểu cho một giai đoạn phát triển nhất
định của của lịch sử.
Xuyên tạc, cắt xén nội dung học thuyết để phủ nhận học thuyết.
Điển hình của loại quan điểm này là quy lý luận của Mác thành quyết định
luật kinh tế v
ới nghĩa coi kinh tế là yếu tố duy nhất quyết định sự vận động
và phát triển của xã hội. Điều này đã bị chính Ăng Ghen bác bỏ- Dùng chính
lý luận hình thái kinh tế- xã hội để bác bỏ sự ra đời của các nước xã hội chủ
nghĩa, cho rằng nó trái với quá trình lịch sử- tự nhiên rằng cách mạng tháng
Mười "Đẻ non" do chỗ dựa chưa có ''tất yếu kinh tế" cứ để
lực bên trong của sự phát triển xã hội, tìm ra nguyên nhân và cơ sở của sự
xuất hiện và biến đổi những hiện tượng xã hội đặt ra cơ sở lý luận cho khoa
học và xã hội học nâng nó lên thành khoa học thực sự. Chống lại quan điểm
duy tâm về lịch sử, coi xã hội là sự kết hợp có tính chất máy móc của nhiều
cá nhân và gia
đình, coi sự vận động và phát triển của xã hội là lý do ý chí
của những nhà cầm quyền chi phối, coi kỹ thuật là cái chung quyết định tính
chất chế độ xã hội, là tiêu chuẩn khách quan phân biệt các hình thái kinh tế-
xã hội.
Học thuyết hình thái kinh tế-xã hội vũ trang cho chúng ta
phương pháp khoa học để nghiên cứu sự phát triển xã hội qua các chế độ xã
hội khác nhau, hiểu rõ cơ cấu chung của hình thái kinh tế-xã hội và những
quy lu
ật phổ biến tác động, chi phối sự vận động và phát triển của xã hội
.
Rõ ràng, học thuyết Mác về hình thái kinh tế -xã hội là một
thành tựu vĩ đại của khoa học xã hội, là một bước tiến khổng lồ trong
lịch sử tư tưởng nhân loại. Sự ra đời của học thuyết này là một cuộc
cách mạng trong toàn bộ quan niệm về lịch sử xã hội.
Học thuyết Mác về hình thái kinh tế- xã hội đối lập với quan
niệm trừu tượng, duy tâm về xã hội. Nó bác bỏ cách miêu tả xã hội nói
chung, một xã hội cấu thành chỉ bởi những con người tự nhiên sinh vật. Nó
đánh đổ hẳn quan niệm cho rằng xã hội là một tổ hợp có tính máy móc, có
thể biến đổi tùy ý theo đủ mọi kiểu, một tổ hợp sinh ra và biến hóa một cách
ngẫu nhiên.
Các- Mác đã vận dụng lý luận hình thái kinh tế-xã hội và
phân tích xã hội tư bản, vạch ra các quy luật vận động và phát triển của nó.
Theo số liệu Ban chấp hành Trung ương Đảng- Hội nghị lần
thứ VIII- khóa 8 thì mức độ thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của nề
n kinh tế
nước ta năm 1999 như sau:
- Tổng sản phẩm trong nước(GDP) tăng 4,7%- 5%
- Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5,2%- 5,5%
- Sản lượng lương thực quy thóc đạt 33,8 triệu tấn.
- Giá trị sản lượng công nghiệp tăng 10,3%- 10,5%
- Giá trị các ngành dịch vụ tăng 3,5%- 3,8%
- Kim ngạch xuất khẩu tăng 14,3%
- Lạm phát 2%
- Bội chi ngân sách 4,9%(so với GDP)
- Số hộ đói nghèo giảm 40 vạn hộ.
- T
ạo việc làm mới cho 1,2 triệu người.
- Số tỉnh hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ là
58/61 tỉnh.
-Trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn và thách thức nhưng nền
kinh tế vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng. Mặc dù GDP năm 1999 tăng 5%
so với năm 1998 có kém hơn so với tốc độ của các năm trước nhưng mức
tăng trưởng đã nhích dần từng tháng, từng quý: Quý I, GDP tăng 4,2%- Quý
II tăng 4,5%- Quý III tăng 5% làm xuất hiện khả năng chặn đà giảm sút,
tuy còn phải phấn đấu rất cao mớ
i biến khả năng đó thành hiện thực.
Đặc biệt giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5,2% so với năm
1998, mức tăng cao nhất từ trước tới nay và vượt mục tiêu Quốc hội đề ra.
Với sản lượng lương thực 33,8 triệu tấn đủ khẳng định khả năng của ngành
nông nghiệp với nền kinh tế quốc dân là rất lớn. Cùng với nông nghi
Trong bối cảnh đầu tư nước ngoài giảm do hậu quả của
khủng hoảng kinh tế, tài chính trong khu vực và trên thế giớ
i, với tư tưởng
chỉ đạo của TW4 và nghị quyết TW6 lần 1, chúng ta đã có một bước tiến
trong việc phát huy nội lực để bù đắp và bổ xung một phần thiếu hụt cho đầu
tư phát triển do sự giảm sút của đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.
Đánh giá sơ bộ cho thấy tổng đầu tư xã hội năm 1999 đạt 105
ngàn tỉ (tă
ng 9% so với năm 1998), đây là một sự cố gắng lớn. Nét nổi bật là
trong khi vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài giảm từ 24,3 ngàn tỉ (năm 1998)
xuống còn 18,8 ngàn tỉ đồng (năm 1999) nhưng tổng vốn đầu tư phát triển
vẫn tăng 9%. Điều đó nói lên tư tưởng phát huy nội lực của các Nghị quyết
Trung ương bước đầu đi vào cuộc s
ống.
Nguồn vốn đầu tư phát triển xã hội đã được tập trung đầu tư
nhiều hơn cho nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển công nghiệp chế
biến và các ngành công nghiệp then chốt, xây dựng cơ sở hạ tầng, giao
thông, bưu điện, giáo dục, khoa học công nghệ, y tế, văn hóa
Thu ngân sách có nhiều cố gắng đạt dự toán năm. Việc thông
qua và đưa vào áp dụng lần đầu tiên ở nước ta thuế V.A.T là một cố gắng
lớn, bước đầu có sự chuyển biến tích cực ở một số lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh.
Như vậy, mặc dù đứng trước hoàn cảnh kinh tế thế giới giảm
sút, khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực, nhưng nền kinh tế nước ta cơ
bản có sự phát triển và đổi sắc, góp phần nâng cao cuộc sống của người dân,
chỉ đạt 3,5-3,8% (kế hoạch đề ra là 4-5%) thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng
năm trước là 6%. Ngành thương nghiệp chiếm tỉ trọng cao thong lĩnh vực
dịch vụ nhưng chỉ đạt mức tăng trưởng dưới 2%.
Tốc độ tăng tỉ trọng vốn đầu t
ư toàn xã hội đang có xu
hướng giảm dần: từ 28%GDP (năm 1997) xuống còn 26,7% (năm1998) và
26,3% (năm 1999). Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vẫn tiếp tục giảm
mạnh. Điều này nếu không được khắc phục sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tốc
độ tăng trưởng kinh tế ở những năm đầu thế kỷ XXI.
Chỉ số
giá tiêu dùng giảm mạnh dẫn đến hàng hóa ứ đọng,
thị trường kém sôi động, cơ hội và môi trường đầu tư còn bấp bênh. Tỉ lệ nợ
quá hạn trong hệ thống tín dụng vượt quá giới hạn an tòan (mức an toàn là
5%, nhưng hiện nay đã lên tới 14%). Trong số nợ quá hạn thì trên 7% là nợ
khó đòi. Đây là vấn đề bức xúc trong ngành tín dụng-ngân hàng.
Một vấn đề được toàn xã hội quan tâm đó là tình trạng
thất nghiệp. Hiện nay thất nghiệp ở Hà Nội đã dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội vì
tỷ lệ thất nghiệp đã lên tới 10%, Thành phố Hồ Chí Minh 7%. Đặc biệt ở
nông thôn số thời gian lao động mới được sử dụng khoảng 70%.
* Một số vấn đề cản trở
sự phát triển:
Vấn đề chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp vẫn
là tồn tại lớn nhất của nền kinh tế nước ta, vấn đề này đã được hội nghị trung
ương khóa VIII chỉ ra song trong hai năm qua không có chuyển biến tích
cực. Biểu hiện rõ nét nhất là chi phí vật chất trong việc sản xuất kinh doanh
quản lý của Nhà nước, nhưng đến nay các yếu tố của kinh tế thị trường chưa
hình thành đồng bộ, môi trường hợp tác, cạnh tranh bình đẳng chưa được tạo
lập đầy đủ. Trong chính sách, thể chế quản lý của Nhà n
ước còn tồn tại
nhiều hình thức hành chích bao cấp, vẫn mang nặng cơ chế "Xin -cho", gắn
với thủ tục phiền hà thiếu tính công khai, nhưng lại có nhiều mặt buông lỏng
quản lý, không giữ được trật tự kỷ cương. Tình hình đó khiến cho kinh tế
vận hành trục trặc, không ăn khớp
Từ những nhận định và đánh giá ấy ta đi tìm nguyên
nhân của thành tựu thắng lợ
i cũng như những mặt tồn tại và yếu kém. 1.3 . Đánh giá chung nguyên nhân
Đánh giá khái quát tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế -
xã hội năm 1999 kết luận của hội nghị Trung ương 8 ghi rõ:
- Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội năm 1999 theo tinh thần nghị quyết Trung ương 4, Trung ương 6 (lần 1)
và nghị quyết 06 của Bộ chính trị, mặc dù gặp phải khó khăn và thách thức
to lớn do những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới chúng ta vẫn duy
trì được tốc độ tăng trưởng khoảng 5%.
Theo số liệu thống kê của bá Nguyễn Thị H
ằng - Đăng
trên tạp chí Cộng sản 2/2000.
Hàng năm chúng ta giải quyết việc làm mới cho 1,2 -1,3
hợp với thực tiễn và thực hiện các đường lối kinh tế vừa chậm và vừa không
đến nơi, đến chốn.
Thu nhập dân cư thấp, thị trường bị thu hẹp, nên sức mua bị
hạn chế, giá thị trường giảm liên tục, sản xuất có dấu hiệu bị đ
ình trệ, hàng
tồn kho tăng nên kìm hãm sự phát triển.
Các doang nghiệp trong nước chậm chuyển biến, không gắn
kết sản xuất với thị trường trong từng sản phẩm, dẫn đến tình trạng nhiều
sản phẩm đầu tư theo hướng phát triển năng lực sản xuất không chú ý tới
đầu ra của sản phẩm, gây ứ thừa, tồn kho, thiệt hại tài sản của Nhà nước và
doanh nghiệp.
Nguồn lực phát triển của đất nước chưa đủ sức điều chỉnh cơ
cấu nền kinh tế theo hướng phát huy lợi thế trong ngành, vùng.
Huy động vốn trong dân cư còn thấp nên dự trữ tiền tệ trong
tín dụng ngân hàng chưa cao, chưa phát huy được những tiềm lực kinh tế.
Cuối cùng là bộ máy quản lý điều hành còn cồng kềnh trùng
lặp chức năng. Sự phối hợp giải quyết các công việc giữa các ngành, các cấp
chưa chặt chẽ. Phân công công việc chưa rõ ràng, chưa đảm bảo tập trung
thống nhất lại v
ừa thiếu dân chủ trong điều hành nên gây nhiều chủ trương,
quyết định đúng đắn không được tổ chức triển khai kịp thời nên hiệu quả
kém.
Trên đây ta đã nghiên cứu thực trạng kinh tế Việt Nam trong
những năm đổi mới đặc biệt là năm 1998-1999 là hai năm đánh dấu những
bỏ lối quản lý hành chính cung cấp”. Đặc biệt từ sau khi thống nhất đất
nước, những ý đồ chủ quan , duy ý chí , muốn áp đặt cơ chế quản lý tập
trung quan liêu bao cấ
p trên cả nước đã gặp không ít những phản ánh từ cơ
sở ,địa phương , nhất là ở các tỉnh miền Nam. Các cấp lãnh đạo của Đảng và
nhà nước, các nhà nghiên cứu và quả lý kinh tế đều nhận thức được rằng
trong suốt một thời gian quá dài chúng ta điều hành nền kinh tế chỉ bằng
những mệnh lệnh hành chính ,bằng bằng những Nghị quyết của Đảng là chủ
yếu mà không coi trọng đầy đủ các quy luật khách quan, coi nhẹ lợi ích kinh
tế, quan hệ thị trường, quan hệ hàng hóa tiền tệ. Chúng ta từ lâu cũng đã
nhìn thấy tính chất bao cấp tràn lan trong cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch
hóa tập trung, đơn thuần dựa vào chế độ cấp phát và giao nộp, hạch toán
kinh tế chỉ là giả tạo hình thức chính vì vậy mà các cơ sở kinh doanh luôn ở
trong tình thế bị gò bó, thụ độ
ng và ỷ lại mất hết động lực kinh tế, không
quan tâm tới năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế.
Chính vì vậy đỏi mơí chính sách kinh tế ở việt nam là một yếu tố cấp thiết
cần sớm được thực hiện.
2.2. Đổi mới quản lý kinh tế tất yếu phải đổi mới hệ thống
tiền tệ, tín dụng ngân hàng Nền kinh tế hiện đại thực chất là nền kinh tế tiền tệ nền
kinh tế đã được tiền t
ệ hóa cao độ. Những công trình nghiên cứu về các nước
công nghiệp mới trong khu vực trong những năm gần đây để đi đến một kết
luận thống nhất là nền kinh tế nào được tiền tệ hóa cao thì nền kinh tế đó có
điều kiện tăng trưởng tốt nhất.
tán, chia cắt, cơ chế thị trường đang ở dạng hoang sơ , quá trình đổi mới
kinh tế còn phải tiến hành trong một thời gian tương đối dài mới trở nên
tương đối hoàn chỉnh, quá trình đổi mới hệ thống tiền tệ tín dụng, ngân
hàng nhất thiết phải được coi như một khâu quan trọng và có ý nghĩa quyết
định trong công cuộc đổi mới cơ chế kế hoạch và qu
ản lý kinh tế trong giai
đoạn hiện nay. Ngân hàng phải thực sự là một tác nhân thúc đẩy mạnh mẽ
quá trình hoàn thiện cơ chế thị trường hội nhập vào nền kinh tế khu vực và
trên thế giới, thực sự là “bà đỡ” của tiến trình đổi mới kinh tế theo những
định hướng mà Đảng đã đề ra.
2.3. Tiếp tục đổi mới và chấn chỉnh hệ thống ngân hàng
Trong nhiệm vụ chấn chỉnh và lành mạnh hóa hệ thống
ngân hàng, cùng với việc xúc tiến mạnh hơn các biện pháp theo chương
trình đã đề ra, cần giả quyết vấn đề bức xúc hiện nay là tỉ lệ quá cao của nợ
quá hạn đang gây ách tắc, ứ đọng vốn trong hoạt động tín dụng. Giải pháp
cơ bản và lâu dài là đổi mới cơ chế lãi suất, đồng thời đòi hỏi các doanh
nghiệp phải làm ăn có lãi, trả được nợ, nếu mất khả năng thanh tóan thì áp
dụng luật phá sản, kể c
ả với doanh nghiệp nhà nước. Hệ thống ngân hàng
thương mại mà hạt nhân là các ngân hàng phải được chấn chỉnh và tổ chức
lại để kinh doanh có hiệu quả, thực hiện đầy đủ quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm trong hoạt động tín dụng, chấm dứt việc ngân hàng thương mại cho
vay cho vay theo lệnh hành chính. Chính phủ tạo nguồn vốn để hỗ trợ việc
giải quyết các kho
ản nợ quá hạn, có cơ chế xử lý tài sản thế chấp bị xiết nợ
đồng thời triển khai xây dựng công ty mua bán nợ, tạo cơ sở để sớm hạ thấp
là những nguyên nhân chủ yếu gây nên các vấn đề của hệ thống ngân hàng.
Do đó cải tổ hoạt động các ngân hàng riêng lẻ phải là một bộ phận không thể
tách biệt của chi
ến lược.
Đối với hệ thống ngân hàng như một thực thể thống
nhất, điều đó có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động của ngân hàng là phải
xây dựng khung pháp lý, thể chế đầy đủ và đồng bộ tăng cường cơ chế điều
tiết giám sát và cơ cấu của khu vực ngân hàng không dược ngăn cản sự cạnh
tranh và tìm kiếm lợi nhuận trong kinh doanh.
2.4.4. Các công cụ thực hiện cải tổ:
Mục tiêu cải tổ tài chính nhằm phục hồi khả năng thanh
toán của các ngân hàng bằng cách lành mạnh hóa bảng cân đối tài sản và báo
cáo thu nhập để đảm bảo các tiêu chuẩn về vốn, khả năng sinh lời, tăng
cường khả năng thanh toán, quản lý rủi ro.
3/ ý nghĩa rút ra đối với bản thân: Nhận thức được vai trò to lớn của “hoạt động đổi mới
hệ thống ngân hàng” Đảng và Nhà nước ta luôn ra sức phát triển và xây
dựng, nhằm phục vụ lý tưởng xã hội chủ nghĩ
a cao cả là: Vì con người, do
con người. Chính vì lẽ đó phát huy nhân tố con người, luôn là mục tiêu hàng
đầu và thiết thực nhất. Đảng và Nhà nước ta đã luôn cố gắng không mệt mỏi
để đấu tranh vì nhân quyền và nhân lợi đi đôi với giáo dục đào tạo vì một
ất, tư duy lý luận và tư duy thực tế
chưa hoàn chỉnh nên nhận định về thực tiễn của em chưa thật sát thực,
nhưng với sự giảng dạy nhiệt tình của thầy cô em thấy được cái bản chất tốt
đẹp của chế độ mà Đảng ta xây dựng và phát triển. Thấy được vấn đề cốt
yếu của quá trình xây dựng và phát triển và để góp phần nhỏ bé c
ủa mình
vào quá trình đó, em cũng như bao bạn bè khác, phải cố gắng phấn đấu học
tập trong trường nhằm tiếp thu những kiến thức để sau này có thể đứng vào
hàng ngũ của Đảng nhằm xây dựng lý tưởng xã hội chủ nghĩa.
Học tập là vấn đề trọng tâm nhưng đi đôi với nó, chúng ta
phải biết hòa vào thực tế để không bị lạc hậu v
ới nền văn hóa hiện tại. Đồng
thời phải biết "Gạn đục khơi trong " tiếp thu những văn minh tiên tiến của
nhân loại và chống những tư tưởng phản động, làm tổn hại đến nền hòa bình
dân tộc, phá vỡ nền sản xuất xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ đó thật là lớn lao,