A. MỞ ĐẦU
Những thành tựu và phát triển trong công cuộc đổi mới của nước ta
trong thời gian qua đã tạo ra thế và lực mới cả bên trong và bên ngoài để
chúng ta bước vào một thời kỳ phát triển mới. Nhiều tiền đề cần thiết cho
sự phát triển mang đặc trưng của dân tộc đã được tạo ra, để giới thiệu và
quảng bá cho các dân tộc khác trên thế giới. Và do đó mối quan hệ của
nước ta với các nước khác trên thế giới được mở rộng hơn bao giờ hết. Khả
năng giữ vững độc lập tự chủ và hội nhập với cộng đồng thế giới tăng
thêm. Cùng với sự phát triển nhanh của cách mạng khoa học và công nghệ
với trình độ ngày càng cao thì sự phát triển về nhận thức sẽ làm cho nước
ta không bị tụt hậu so vơí thế giới bên ngoài. Và điều đó khiến cho chúng
ta có cơ hội phát triển hơn. Tuy nhiên không thể phủ nhận tụt hậu của các
nước chậm phát triển so với các nước phát triển, mà nguyên nhân sâu xa
của nó chính là ý thức xã hội của dân tộc đó. Điều đó dẫn đến nguy cơ tụt
hậu xa hơn với kinh tế so với nhiều nước trong khu vực vẫn là thử thách to
lớn và gay gắt do điểm xuất phát của chúng ta quá thấp, lại đi lên trong một
môi trường cạnh tranh khốc liệt.
Trước tình hình đó cùng với xu thế phát triển của thời đại Đảng và
Nhà nước ta cần liên tục tiến hành và đẩy mạnh công cuộc đổi mới và toàn
diện đất nước, trong đó đổi mới xã hội chính trị đóng vai trò then chốt và
chủ đạo mang tính cấp bách bởi đất nước phát triển thì cần phải có một nền
chính trị và xã hội ổn định thì công cuộc đó mới có khả năng thành công.
Nhưng để đổi mới xã hội thì việc quan trọng là phải nâng cao tầng nhận
thức của người dân. Chính vì vậy tìm hiểu mối quan hệ giữa tồn tại xã hội
và ý thức xã hội sẽ cho phép ta vận dụng vào thực tiễn của xã hội đất nước
ta để cho công cuộc đổi mới của đất nước ta thành công.
1
1
Với nghĩa đó sau một thời gian nghiên cứu và học tập cùng với sự
hướng dẫn nhiệt tình của các thầy cô giáo em đã quyết định chọn đề tài:
"Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội ". Do thời
tâm thì cho rằng tinh thần tư tưởng là ngọn nguồn của mọi hiện tượng xã
hội, quyết định sự phát triển của xã hội. Nghĩa là ý thức xã hội quyết định
tồn tại xã hội. Còn theo các nhà chủ nghĩa duy vật thì ngược lại bởi theo
lập luận của họ thì cho rằng tồn tại xã hội là tính thứ nhất, còn ý thức xã hội
là tính thứ hai tuy nhiên họ cũng cho rằng sau khi ý thức xã hội đã gia đời
thì nó có tác động trở lại với tồn tại xã hội. Ta hãy lấy tôn giáo làm ví dụ ta
sẽ thấy rằng: Một số những tư tưởng và quan điểm gia đời từ thời cổ vẫn có
thể tiếp tục tồn tại hàng nghìn năm sau khi những điều kiện đẻ ra nó đã mất
đi. Như thế có nghĩa là ta không nên cứng nhắc phải nói tồn tại xã hội hay
ý thức xã hội là cái có trước mà nên hiểu theo từng hoàn cảnh sự vật, vật
chất cụ thể mới có thể tránh được những sai lầm trong đánh giá khách
quan.
2. Yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội
Tồn tại xã hội là một phạm trù triết học rộng lớn nó bao gồm tất cả
những lĩnh vực của hoạt động vật chất và được thể hiện qua 3 yếu tố cơ
bản.
* Phương thức sản xuất vật chất:
Lênin cho rằng vật chất vốn tự nó có không do ai sinh ra, và không
thể tiêu diệt được, nó tồn tại bên ngoài và không lệ thuộc vào cảm giác, ý
thức của con người. Vật chất là một thực tại khách quan. Tuy nhiên trong
giáo trình triết học lại có phạm trù phương thức sản xuất vật chất vậy
phương thức sản xuất vật chất là gì.
Phương thức sản xuất vật chất là những phương cách, dụng cụ, công
nghệ… để tạo ra của cải vật chất phục vụ đời sống văn hoá tinh thần của
chính bản thân con người. Điều này cũng có nghĩa là phương thức sản xuất
chính là yếu tố đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với tồn tại xã hội. Mặt
4
4
khác nếu không có phương thức sản xuất thì rõ ràng sẽ không thể tồn tại xã
hội. Và như thế cũng có nghĩa phương thức sản xuất sẽ chi phối các yếu tố
Ý thức xã hội là một hiện tượng tinh thần, một lĩnh vực của đời sống
xã hội. Nó tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội trong lĩnh
vực sản xuất vật chất. Ở thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ thì ý thức xã hội còn
ở trình độ thấp, nghèo nàn về nội dung và hình thức phản ánh. Nhưng càng
về sau thì trình độ kinh tế - xã hội phát triển cả về quy mô, tốc độ và chiều
sâu nên ý thức xã hội với tính cách là phản ánh tồn tại xã hội cũng trở nên
phong phú và phức tạp.
2. Kết cấu của ý thức xã hội.
Ý thức xã hội là một hiện tượng phức tạp, tuỳ theo mục đích, trình
độ phản ánh mà người ta chia ra thành các cấp độ, các bộ phận khác nhau.
* Ý thức thông thường và ý thức lý luận.
- Ý thức thông thường phản ánh cái đời sống vật chất tự nhiên hàng
ngày của chúng ta hình thành trực tiếp trong đời sống xã hội. Nó chưa có
tính hệ thống, tính hợp lý nhưng nó có đầy đủ chi tiết của cảm giác sống.
Ý thức lý luận là toàn bộ những tư tưởng phản ánh bản chất, tính quy
luật của sự vật và hiện tượng, quan điểm xã hội được hệ thống hoá thành
các hệ thống cụ thể như: Triết học, đạo đức, nghệ thuật…ý thức lý luận có
tính hệ thống, tính hợp lý, tính trừu tượng khái quát.
* Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng.
6
6
- Tâm lý xã hội là một bộ phận ở cấp độ ý thức thông thường bao
gồm: Tình cảm, tâm trạng, tập quán, thói quen của con người được hình
thành một cách tự phát dưới tác động trực tiếp của những điều kiện sống
hàng ngày của họ. Tâm lý xã hội phản ánh bề mặt của tồn tại xã hội, chưa
có khả năng vạch ra bản chất các mối quan hệ vật chất xã hội, nguyên nhân
sinh ra các mối quan hệ đó cũng như khuynh hướng biến đổi của chúng. ở
tâm lý xã hội những yếu tố trí tuệ thường đan xen với những yếu tố tình
cảm.
Hệ tư tưởng là một bộ phận ở một cấp độ ý thức lý luận. Đây là
tưởng.
* Tính dân tộc của ý thức xã hội.
Mỗi dân tộc có hoàn cảnh sống riêng, truyền thống riêng, lịch sử
phát triển riêng… nên ý thức xã hội mang tính dân tộc. Khi ý thức của một
giai cấp phản ánh được lợi ích dân tộc thì tính giai cấp và tính dân tộc của ý
thức xã hội có sự phù hợp. Trường hợp ngược lại thì không phù hợp, mâu
thuẫn.
* Tính nhân loại của ý thức xã hội.
Ý thức xã hội còn mang tính nhân loại. ở đây những giá trị được
khẳng định trong quá trình phát triển của nhân loại. Trong tâm lý thể hiện
những đặc điểm mang tính loài (loài người), trong hệ tư tưởng phản ánh
tính hiện thực, xu hướng phát triển của lịch sử nhân loại.
III. Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
8
8
Đã có không ít những nhận xét , đánh giávề mối quan hệ giữa tồn tại
xã hội và ý thức xã hội. Có những nhận xét rất chính xác và hoàn chỉnh
nhưng bên cạnh đó không ít những nhận xét sai lầm về mối quan hệ trên
mà điển hình là sự đánh giá của những nhà duy tâm.
Những người duy tâm xuất phát từ điểm: Khi người ta giao thiệp với
nhau thì người ta hoạt động như những thực thể có ý thức, và từ điểm đó họ
rút ra kết luận sai lầm là: Tồn tại xã hội và ý thức xã hội đều ngang nhau.
Khi phê phán quan điểm duy tâm sai lầm, phản khoa học ấy Lênin đã viết:
"Tồn tại xã hội và ý thức xã hội không phải là ngang nhau, cũng
không hoàn toàn giống như tồn tại nói chung và ý thức nói chung
không phải là ngang nhau. Từ sự thật là người ta giao thiệp với nhau
như những thực thể có ý thức, quyết không thể rút ra kết luận rằng ý
thức xã hội và tồn tại xã hội đều ngang nhau. Trong tất cả các hình
thái xã hội tương đối phức tạp, đặc biệt là trong hình thái xã hội
TBCN, khi người ta giao thiệp với nhau thì người ta không hề có ý
Cùng với thời gian đã qua đi, nhất là từ khi sinh ra phân công xã hội,
từ khi xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp, từ khi lao động trí óc tách
rời lao động chân tay thì toàn bộ sinh hoạt xã hội của người ta gồm cả sinh
hoạt tinh thần, dần dần trở nên phức tạp. Nhà nước gia đời pháp quyền
cũng từ đó mà xuất hiện. Các hình thái ý thức xã hội mới sinh ra và phát
triển nên: Quan điểm chính trị, quan điểm pháp quyền, cùng khoa học và
triết học xuất hiện; nghệ thuật một yếu tố của sinh hoạt tinh thần tức văn
hoá cũng phát triển lên và phân hoá thành các loại nghệ thuật.
10
10
Những người mang tư tưởng duy vật kinh tế tầm thường hoá và giản
đơn hoá chủ nghĩa Mác, định trực tiếp tìm nguồn gốc sinh ra quan điểm
triết học, tôn giáo, đạo đức, nghệ thuật… của người ta trong quá trình sản
xuất, dùng trình độ kỹ thuật để giải thích tính chất và phương hướng phát
triển của nghệ thuật, triết học, đạo đức. Thái độ tầm thường đối với các
hiện tượng sinh hoạt tinh thần như thế là đi ngược lại và đối địch với chủ
nghĩa Mác. Chủ nghĩa duy vật lịch sử dạy chúng ta rằng ý thức xã hội, hệ
thống tư tưởng xã hội và hệ thống tư tưởng của giai cấp họp thành xã hội là
do sự phát triển của sản xuất, do hoạt động sản xuất của xã hội quy định,
nhưng không phải quyết định trực tiếp mà thông qua cơ sở kinh tế của xã
hội, thông qua quan hệ sản xuất. í thức xã hội không phản ánh một cách
trực tiếp và tức khắc sự biến đổi của trình độ phát triển sức sản xuất, mà
phản ánh sau khi kinh tế biến đổi thông qua những chiết quang của những
biến đổi trong sản xuất phản chiếu ra những biến đổi trong chế độ kinh tế
xã hội. Đồng thời, một số hình thái ý thức xã hội không những trực tiếp
chịu ảnh hưởng có tính quyết định của cơ sở kinh tế mà còn chịu ảnh
hưởng của cơ sở kinh tế thông qua quan hệ chính trị xã hội, thông qua lợi
ích giai cấp và đấu tranh giai cấp, thông qua những hình thái ý thức xã hội
khác gần gũi cơ sở xã hội hơn.
Trong sự phát triển của mọi hình thái kinh tế xã hội (như triết học
của những kho tàng tri thức mà loài người sáng tạo ra dưới áp bức của
TBXHCN, xã hội địa chủ, xã hội quan liêu ".
Do đó có thể thấy rằng không nên dùng tư tưởng để giải thích sự
phát triển của triết học, khoa học, nghệ thuật và những hình thái ý thức xã
hội khác, không nên quy sự phát triển ấy thành "quan hệ huyết thống của tư
tưởng" như những người duy tâm đã làm. Phải tìm nguồn gốc tư tưởng ở
12
12
tồn tại xã hội của người ta, ở tồn tại giai cấp của người ta và ở nền kinh tế
của một xã hội nào đó. Nhưng đồng thời phải chú ý đến mối liên hệ và tính
kế thừa trong sự phát triển của các hình thái kinh tế. KHông nên giản đơn
hoá sự vật, không nên đi trực tiếp từ kinh tế nhất là đi từ quá trình sản xuất
để suy luận tất cả những hiện tượng tư tưởng.
Tính độc lập tương đối của sự phát triển các hình thái ý thức xã hội
đã đem lại một nhận thức sai trong đầu óc những nhà tư tưởng duy tâm:
Cho rằng quá trình tư tưởng không lệ thuộc vào điều kiện sinh họat vật chất
của xã hội, không lệ thuộc vào đấu tranh giai cấp. Sở dĩ nhận thức sai lầm
ấy được củng cố trong ý thức của họ, là vì hình thái ý thức xã hội tuy là
phản ánh của điều kiện sinh hoạt vật chất nhưng sự phát triển của nó lại đi
sau sự biến đổi của sinh hoạt vật chất. Trước hết tồn tại xã hội biến đổi, rồi
sau đó ý thức xã hội mới biến đổi theo hoặc nhanh hoặc chậm.
Ý thức xã hội do tồn tại xã hội quy định nhưng nó không hoàn toàn
thụ động mà có tính năng động, có tính độc lập tương đối trong sự phát
triển của mình. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội được biểu hiện ở
những mặt sau:
*Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội.
ý thức xã hội thường tồn tại hơn so với tồn tại xã hội . Về mặt nhận
thức ý thức xã hội là cái phản ánh, đặc biệt là phản ánh các hiện tượng, quy
luật xã hội đòi hỏi phải có thời gian. Do sức mạnh của thói quen, tập quán,
truyền thống. Do những lực lượng xã hội, giai cấp lỗi thời tìm mọi cách
Trong những điều kiện nhất định tư tưởng của con người, đặc biệt là
những tư tưởng khoa học có thể đóng vai trò tiên phong vượt trước sự phát
triển của tồn tại xã hội, dự kiến được tương lai và có tác dụng tổ chức chỉ
14
14
đạo hoạt động thực tiễn của con người, hướng hoạt động vào việc giải
quyết những nhiệm vụ mới do sự phát triển của đời sống vật chất của xã
hội đạt ra. Nhưng điều này không có nghĩa ý thức xã hội không bị quyết
định bởi tồn tại xã hội. Vấn đề là ở chỗ ý thức xã hội đã phát hiện ra
khuynh hướng phát triển của tồn tại xã hội và phản ánh ít nhiều chính xác
khuynh hướng đó, đem lại khả năng sử dụng sức mạnh cải tạo của những tư
tưởng xã hội tiên tiến đối với tồn tại xã hội.
* Tính kế thừa trong sự phát triển của ý thức xã hội.
Những quan điểm và lý luận của mỗi thời đại không xuất hiện trên
mảnh đất chống không, mà được tạo ra trên cơ sở những tư liệu lý luận của
các thời đại trước, nghĩa là có quan hệ kế thừa với ý thức tư tưởng của thời
đại trước. Tính kế thừa của ý thức xã hội thể hiện rõ trong tập quán, truyền
thống văn hoá của xã hội. Trong xã hội có giai cấp, tính kế thừa của ý thức
xã hội bao giờ cũng gắn liền với giai cấp của nó. Những giai cấp tiên tiến
dựa vào những lý luận do xã hội cũ để lại, vớt bỏ những tư tưởng lỗi thời
không phù hợp với thời đại mình. Còn các giai cấp, các lực lượng xã hội lỗi
thời, phản tiến bộ thì tìm mọi cách làm sống lại những gì có liên quan đến
lợi ích của mình, bất kể những tư tưởng đó đã lạc hậu đến đâu và như thế
nào.
* Sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các hình thái ý thức xã hội
trong sự phát triển của chúng.
Ý thức xã hội được thể hiện dưới nhiều hình thái cụ thể: ý thức chính
trị, phong tục tập quán đạo đức, triết học, nghệ thuật tôn giáo, khoa học.
Mỗi hình thái ý thức xã hội phản ánh một đối tượng nhất định, một phạm vi
nhất định của tồn tại xã hội nhưng chúng có mối liên hệ, tác động lẫn
đổ, nhưng một khi lý luận đã nắn được quần chúng nhân dân thì lập tức
biến thành lực lượng vật chất".
Mác: Phê phán triết học pháp quyền Hêghen.
Khi đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm, Mác và Ăng ghen không thể
không tập trung lực lượng chủ yếu để giải thích những nguyên lý cơ bản về
lý luận xã hội của mình bị kẻ thù phủ nhận, những nguyên lý đó là : Điều
kiện sinh hoạt vật chất của xã hội có tác dụng quyết định, nó là nguồn gốc
phát sinh và biến đổi của tư tưởng quan điểm, lý luận, chế độ chính trị, chế
độ pháp quyền của xã hội. Còn nói đến vấn đề tác dụng tích cực trở lại của
tư tưởng đối với sự phát triển của sinh hoạt vật chất xã hội thì Mác và Ăng
ghen cũng đã trở lời dứt khoát trên nguyên tắc trong những tác phẩm của
mình đặc biệt là trong những tác phẩm về lịch sử, còn những tác phẩm triết
học của Mác và Ăng ghen thì vì hoàn cảnh lịch sử nên trọng tâm đều đạt
vào việc bảo vệ và giải thích nguyên tắc chủ yếu của chủ nghĩa duy vật lịch
sử là : Điều kiện sinh hoạt vật chất xã hội có tác dụng quyết định, đặt vào
việc giải thích nguyên nhân làm cho tư tưởng, lý luận, quan điểm biến đổi.
Về điểm này, năm 1890 Ăng ghen đã viết:
" Các bạn thanh niên! (những người theo chủ nghĩa Mác- Công-
stăng-tinốp) có lúc đã quá coi nặng mặt kinh tế, về điểm này Mác và tôi
cũng phải chịu một phần trách nhiệm. Chúng tôi vì phải chống lại kẻ thù,
nên không thể không nhấn mạnh nguyên tắc chủ yếu mà chúng phủ nhận,
do đó không có đủ thời gian, địa điểm và cơ hội để làm cho những yếu tố
tác động lẫn nhau khác có một địa vị xứng đáng. Song một khi phải giải
thích một thời kỳ lịch sử nào đó, cũng có nghĩa là phải thực tế áp dụng
(phương pháp duy vật lịch sử - Công stăng- tinốp) thì tình hình lại khác,
lúc ấy không thể có một chút sai lầm nào nữa ".
17
17
Mác thư gưỉ cho Bơ-rốt- sô (21-9-1890).
18