Phân tích vai trò của khoa học công nghệ trong sự nghiệp bảo vệ bầu trời Tổ quốc Việt Nam XHCN - Pdf 17

Lời nói đầu
Khoa học Công nghệ đã có nhứng bớc phát triển rất to lớn ở trong
những năm cuối thế kỷ 20 và chúng ta đang sống trong thập niên đầu của thế
kỷ 21. Một thế kỷ mới mà theo các nhà hoạch định chiến lợc kinh tế dự báo thì
sẽ là thời kỳ phát triển đỉnh cao của các ngành Kinh tế mà đi đôi với nó sẽ là
một phần không thể thiếu đó là Khoa học Kỹ thuật. Đã từ lâu sự phát triển của
các ngành khoa học kỹ thuật đã đợc ứng dụng rộng rãi trong tất cả các ngành
và mọi mặt của đời sống xã hội. Song song với việc phát triển nền kinh tế của
một quốc gia, thì một phần quan trọng không kém đó là việc bảo vệ và giữ
vững nền an ninh quốc phòng. Điều mà tất cả các quốc gia trên thế giới hiện
nay luôn luôn coi trọng và đặt nó lên vị trí hàng đầu. Vì một lẽ đơng nhiên, chỉ
có một nền an ninh Quốc phòng vững mạnh mới đảm bảo cho một quốc gia
phát triển. Và ngày nay có lẽ không quốc gia nào là không nhận thức đợc vai
trò quan trọng nh thế nào của Khoa học kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế
xã hội, củng cố quốc phòng và an ninh.
Lĩnh vực Quân sự quốc phòng là một lĩnh vực đặc thù của xã hội.
Khoa học công nghệ phát triển sẽ thúc đẩy kinh tế và đời sống xã hội phát
triển, và kéo theo đó sẽ là sự phát triển trong lĩnh vực quân sự dẫn đến sự phát
triển của Vũ khí thiết bị và kỹ thuật quân sự, làm thay đổi tính chất và cơ cấu
lực lợng vũ trang, nghệ thuật quân sự. Trong điều kiện XHCN việc đề ra chiến
lợc phát triển kỹ thuật Quốc phòng đối với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp
Quốc gia và tăng cờng thực hiện cạnh tranh cục diện chiến lợc Thế giới. Từ đó
dẫn đến một vài Khoa học khái niệm sơ lợc về chiến tranh Khoa học - Kỹ
thuật - Công nghệ cao trong lĩnh vực quân sự, đặc biệt là trong lĩnh vực tác
chiến phòng không. Đầu tiên chúng ta tìm hiểu một số khái niệm:
*Khoa học là gì ? Khoa học là hệ thống tri thức tự nhiên về xã hội và t duy.
Trang 1
*Khoa học - Kỹ thuật - Quốc Phòng: Khoa học nghiên cứu, lý luận quân sự,
quy luật chiến tranh. Nó chỉ tất cả các ngành Khoa học và Kỹ thuật thuộc hệ
thống Quốc phòng. Phục vụ sự phát triển Quốc phòng.
Theo thống kê trên thế giới cứ 5 phút lại có một phát minh mới trong khoa

quân sự, vụ khí trang bị có xu hớng nhẹ hơn nhng đợc điều khiển chính xác,
tầm bắn xa hơn, tốc độ bán nhanh hơn ... Công năng của hệ thống chỉ huy,
điều khiển, thông tin, tình báo và đối kháng điện tử ngày càng nâng cao.
Ngày nay vũ khí đợc trang bị những kỹ thuật mới nhất, hiện đại nhất và tối tân
nhất chỉ với mục đích giữ vững nền an ninh quốc phòng, quản lý vùng trời của
Tổ quốc, làm chủ thế trận khi có chiến tranh xảy ra.
Sự phát triển của binh khí kỹ thuật có ảnh hởng sâu tới lý luận chiến lợc,
chiến dịch , chiến thuật, làm thay đổi phơng pháp, phơng thức tiến hành chiến
tranh.
Phân tích vai trò của KHCN trong sự nghiệp bảo vệ bầu
trời tổ quốc việt nam XHCN
Trang 3
NI DUNG
* Sơ lợc về sự tác động của khoa học kỹ thuật vào quân sự nói chung
Trong những năm cuối của thế kỷ 20 này, sự phát triển nh vũ bão của khoa
học kỹ thuật hiện đại , nhất là công nghệ cao đang nhanh chóng làm thay đổi
diện mạo thế giới và biến đổi ý nghĩa của chiến trờng không, bộ, biển truyền
thống..
Từ những năm 1980 trở lại đây, sự phát triển của khoa học kỹ thuật quân sự
hiện đại đã nâng cao tính năng, tác dụng của vũ khí trang bị biến đổi điều kiện
vật chất kỹ thuật quy mô, hình thức, tiến trình chiến tranh và diện mạo của nó.
Sự phát triển của công nghệ cao đã rút ngắn thời gian thay đổi thế hệ vũ khí
trang bị từ 20-30 năm xuống còn khoảng 10 năm.
Khoa học công nghệ cao tác động đến mọi mặt của quân sự. Kỹ thuật cao thay
đổi tính năng, chất lợng của các loại trang bị vũ khí quân sự. Việc sử dụng các
kỹ thuật mới nh kỹ thuật điện tử, kỹ thuật vi điện tử, kỹ thuật sử dụng lade,
hồng ngoại các loại vật liệu mới làm tăng độ chính xác, cơ động linh hoạt,
tăng khả năng sống còn của vũ khí sử dụng trong các điều kiện thời tiết địa
hình phức tạp. Kỹ thuật cao còn tác động đến hệ thống các quan niệm, t tởng
quân sự, phơng thức tiến hành chiến tranh, chiến thuật chỉ huy, đảm bảo hậu

đánh thắng cuộc chiến tranh phòng không quân của ®ế quốc Mỹ.
Trong cuộc chiến tranh vùng vịnh, bằng vũ khí và kỹ thuật công nghệ
cao. Mỹ và liên quân đã làm vô hiệu hóa hệ thống Radar phòng không,
không quân của đối phương từ đó đã làm rối loạn hệ thống chỉ huy của Ir¾c.
Trang 5
Khiến cho Ir¾c nhanh chóng thất bại, mặc dù Ir¾c có hệ thống phòng không
rất tốt.
Áp dụng vào mục đích hòa bình, Rada lại càng có vai trò quan trọng
trong việc điều khiển các tàu vũ trụ một cách chính xác và an toàn. Trong
lĩnh vực khí tượng thủy văn, Radar giúp cho việc dự báo thời tiết một cách
chính xác và thuận lợi, phát hiện các thay đổi bất thường của khí quyển xa
hµng trăm km giúp máy bay có thể di chuyển được an toàn trên không.
Radar được áp dụng vào nhiều ngành khoa học và ứng dụng và đêi sống
vì vậy các nước trên thế giới hiện nay rất chú trọng trong việc phát triển
radar.
Ngày 7/5/1895, nhà khoa học Nga Popop đã phát hiện ra một loại dụng
cụ có thể thu và ghi lại các hiện tượng phóng điện trong không gian ở cách
xa 30m. Trong báo cáo của mình, Popop còn dự báo dụng cụ của mình có
thể gửi tín hiệu đi xa.
Tháng 3/1896, Popop đã gửi đi bức điện tin đầu tiên trong lịch sử khoa học
gồm mấy chữ "Henry hetz" tên nhà bác học đã phát minh ra sóng điện từ
năm 1887 bằng thực nghiệm. Năm 1865, Macxoen đã dự đoán lý thuyết về
sóng điện từ.
Như vậy, ngày 7/5/1895 đã ghi lại trong lịch sử khoa học một phát
minh to lớn nhất của nhân loại: đó là việc phát minh ra vô tuyến điện. Vô
tuyến điện đã trở thành ngành kỹ thuật có ứng dụng rộng rãi về nhiều mặt:
trong sinh hoạt hàng ngày của con người, trong đời sống văn hóa, trong khoa
học kỹ thuật, trong công nghiệp và nhiều lĩnh vực khoa học khác.
Một trong những ứng dụng quan trọng của vô tuyến điện vào trong
quân sự và trong thực tế là vô tuyến dịch vụ hay là Radar.

Tuy chưa chế tạo được radar nhưng người Việt Nam với trí thông
minh và lòng yêu nước đã biết khai thác sử dụng và phát huy tính năng, làm
chủ được các đài radar được trang bị khiến kẻ thù bị bất ngờ, bị động và bè
bạn của ta - những người chế tạo radar khâm phục.
Kỹ thuật radar phát triển rất nhanh chóng. Lúc đầu các radar sóng mét
tiếp theo là các radar sóng dm và cm. Cự ly lúc đầu là 70-80 km, đã nâng lên
350 km.
Nhiều loại radar phục vụ cho các mục đích khác nhau đã ra đời: radar
ngắm bắn, radar điều khiển hỏa lực, radar làm nhiệm vụ khí tượng, thám
không, radar dẫn đường cho máy bay, tên lửa, các loại radar cảnh giới…
Theo lý thuyết làm việc, có loại radar phát sóng liên tục và các radar
làm việc theo nguyên tắc phát sóng theo chế độ xung.
Theo dải sóng phát có loại sóng mét, sóng decimet, sóng centimet,
sóng milimet…
Theo phương pháp định vị có loại đài radar chủ động, nửa chủ động
và thụ động.
Theo vị trí đặt thiết bị radar: có loại radar mặt đất, trên tầu, trên máy
bay, radar trượt chân trời.
Theo phương pháp xử lý tín hiệu có các loại radar xử lý tín hiệu tương
tự và radar xử lý tín hiệu số.
Sự phát triển của khoa học, công nghệ vi điện tử và máy tính đã đưa
tiền đề mới cho sự phát triển của radar. Những radar mới nhất hiện nay trên
thế giới có những tính năng cực kỳ ưu việt, cự ly phát hiện xa, độ phân giải
mục tiêu cao, thiết bị gọn nhẹ hệ thống xử lý tín hiệu và hiển thị số, nhiều
khâu xử lý tín hiệu được tự động hóa rất thuận lợi cho người sử dụng.
Trang 8
* Mét sè h×nh ¶nh vÒ vÖ tinh:

Tại thời điểm t
0
: H
0
, R
0
, β
0
.
Tại thời điểm t
n
: H
n
, R
n
, β
n
xác định được đường bay của mục tiêu.
Oxyz là hệ tọa độ để xác định vị trí M trong không gian cần 1 trong 2
bộ 3 thông số.
- Cự ly D - Cự ly D
- Góc phương vị β - Góc phương vị β
- Góc là ε - Độ cao H = Dsinε
Trong đó :
(D,β,H) dùng xác định mục tiêu gần trái đất.
(D,β,ε) dùng xác định mục tiêu xa trái đất.
Tập hợp các tọa độ của mục tiêu theo thời gian sẽ cho ta quỹ S của
mục tiêu
2. Các phương pháp xác định tọa độ của đài Radar xung:
2.1 Phương pháp đo cự ly mục tiêu D:

=f
p
-f
pxa
=4∆F
M
D/CT
M
∆F
M
: Độ lệch tần số của dao động cao tần.
T
M
: Chu kỳ lập lại của tần số biến điện của máy phát
Từ đó:
D=CF
h
T
M
/4∆F
M
Phương pháp pha: Dựa trên nguyên tắc thời gian giữ chậm tín hiệu phản xạ
từ mục tiêu được đo bằng dịch pha của dao động biến điện.
∆ϕ=2πF
h
t
F
h
: Tần số biến điện cao tần
Cự ly tới mục tiêu được xác định: D=C∆ϕ/4πF

tranh.
Trang 14
Tên lửa được phân loại theo những dấu hiệu: theo công dụng, theo số
tầng, theo tính chất và hệ thống điều khiển, theo quy mô nhiệm vụ, theo loại
đầu đạn, theo tầm hoạt động, theo đối tượng tác chiến, theo đặc tính đường
bay và đặc điểm cấu tao, theo nơi phóng và vị trí mục tiêu.
Vì các hệ thống b¸o động cảnh giới, hỏa lực phòng không ngày càng
được hoàn thiện, các chiến dịch tiến công bằng không quân ngày càng có
nguy cơ tổn thất lớn, tính bất ngờ của đòn tiến công bị hạn chế nên hiệu quả
đột kích không cao. Để đạt được hiệu quả cao cÇn phải khống chế điện tử
một cách tuyệt đối làm tê liệt hệ thống báo động cảnh giới phòng không của
đối phương bằng vệ tinh trinh sát, máy bay chỉ huy báo đéng trên không,
mạng radar trên không và trên biển…Mặt khác phải có ưu thế áp đảo trên
không. Để đạt được hai điều kiện trên (Thực tế là dành quyền khống chế trên
không), đối với không quân nhiều nước đây chỉ là điều mong muốn .
Trong thành phần các PTTC®K, tên lửa ngày nay cơ bản đã khắc
phục được nh÷ng hạn chế mà máy bay khó có thể vượt qua .Tên lửa và máy
bay, hai loại vũ khí này hỗ chợ cho nhau t¹o thành sức mạnh thực sự của các
lực lượng tiến công đường không. Tên lửa ngày nay dù còn bị hệ thống
phßng không gây khó khăn nhưng nếu tiến công bất ngờ với cường độ cao,
mật độ lớn có thể tiêu diệt mục tiêu quan trọng của đối phương khiến đối
phương mất quyền khống chế trên không, tạo điều kiện thuận lợi cho đòn tập
kích bằng máy bay.
Ngày nay tên lửa trở thành vũ khí công nghệ cao được chuyên gia
quân sự các nước đặc biệt coi trọng và được phổ biến rộng rãi vì nó có
nhưng điểm mạnh trong hoạt động tác chiến như sau:
Đa dạng, linh hoạt . Tên lửa có thể phóng đi từ bể phóng cố định hầm
ngầm, cơ động trên xe cơ giới, tÇu lôi, tầu ngầm và máy bay. Nó có thể
mang đầu ®¹n h¹t nhân, hóa học hoặc thông thường ,thích hợp cho việc thực
Trang 15

góc nghiêng và bay theo quán tính đến mục tiêu như một đầu đạn thông
thường. Tên lửa đường đạn chiến đấu có thể phân thành các chủng loại khác
nhau dựa trên các tiêu chuẩn cơ bản như:
- Theo khả năng điều khiển
- Theo yêu cầu nhiệm vụ
- Theo tầm bay: có tên lửa đường đạn tầm gần tầm bay dưới 1000km, tầm
trung từ 1000 đến 5000km, tầm xa trên 5000km.
- Theo động cơ có: động cơ thuốc phóng lỏng, thuốc phóng rắn và kết
hợp.
- Theo số tầng kết cấu.
- Theo vị trí phóng.
- Theo đầu đạn.
Tên lửa đường đạn thường dùng để tấn công các mục tiêu cố định
theo tọa độ đã biết như: khu công nghiệp, căn cứ quân sự, trung tâm hành
chính dân sự…
Tên lửa đường đạn hiện đại bay ở độ cao lớn với vận tốc bay hàng
nghìn km/h, khó đánh chặn, đầu đạn có sức hủy diệt lớn. Vì vậy nó được
xem là vũ khí dăn đe tiến công đòn hạt nhân trong xuốt thời kỳ chiến tranh
lạnh giữa hai phe mà đại diện là Liên Xô trước đây và Mỹ. Trong thời kỳ
chiến tranh lạnh đó cả Liên Xô và Mỹ bằng các nỗ lực cũng đạt được một số
hiệp định hạn chế, hoặc cấm sản xuất, sử dụng phổ biến một số loại tên lửa
đường đạn. Tuy nhiên kho vũ khí tên lửa đường đạn vẫn rất lớn và công
nghệ chế tạo tên lửa này đã khá phổ biến.
Tên lửa đường đạn có tầm bay xa, độ cao bay lớn, tốc độ cao, sức
công phá của đầu đạn mạnh, hệ thống điều khiển chủ yếu theo quán tính có
Trang 17
hiệu chỉnh hoặc có đầu tự dẫn khá chính xác, khõ bị gây nhiễu, không chịu
tác động của các yếu tố bên ngoài. Tuy vậy tên lửa đường đạn có giá thành
cao so với tên lửa có cánh cùng cự ly, độ chính xác của tên lửa đường đạn
thấp hơn so với tên lửa có cánh cùng loại, tên lửa đường đạn bay theo quỹ

Tên lửa có cánh sơ khai và được sử dụng lần đầu tiên là tên lửa V-1
của phát xít Đức dùng để tiến công vào Luânđôn ngày 12/7/1944, có cự ly
bay lớn nhất là 300 km, độ bay cao từ 0,2 đến 8 km, tốc độ bay xấp xỉ 575
km/h. Tính đến cuối chiến tranh thế giới II, Đức đã phóng xuống đất Anh
hơn 8000 quả tên lửa loại này trong đó gần 45% đã bị bắn rơi bằng các
phương tiện phòng không của đối phương, khoảng 25% không đến mục tiêu
do nhiều nguyên nhân khác nhau, chỉ khoảng 30% trúng mục tiêu.
Trong tương lai ngoài khuynh hướng tàng hình hóa, tên lửa có cánh
còn được cải tiến nhằm tăng vận tốc, giảm thời gian lập trình, tăng khả năng
chống nhiễu, đây là một thách thức mới đối với hệ thống phòng không.
Những ưu điểm của tên lửa có cánh là:
- Kích thước nhỏ, một số có cấu trúc đặc biệt nên diện tích phản xạ hiệu
dụng rất nhỏ ( 0,1 đến 0,2 m
2
ở dải sóng cm, 0,5 m
2
ở dải sóng dm và 0,5
đến 2 m
2
ở dải sóng mét ) nguồn bức xạ nhiệt của động cơ cũng rất nhỏ nên
khó bị phát hiện và bám sát bằng các radar cúng như các thiết bị trinh sát
hồng ngoại, quang học.
- Có thể bay ở độ cao thấp, siêu thấp, bay lượn theo sự mấp mô của địa
hình.
- Không gian hoạt động lớn, tầm bắn rộng được phóng từ ngoài tầm hỏa
lực của các loại vũ khí phòng không hiện có, bảo đảm an toàn cho các
phương tiện mang và mang tính chất bất ngờ cao khi đang tập kích.
Trang 19
- Giá thành rẻ hơn nhiều so với tên lửa đường đạn cùng cự ly.
- Với việc sử dụng các hệ thống điều khiển mới kết hợp với GPS độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status