LUẬN VĂN: Phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên trung học phổ thông trong đổi mới giáo dục ở tỉnh Bến Tre hiện nay - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên trung
học phổ thông trong đổi mới giáo dục
ở tỉnh Bến Tre hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn kiện Hội nghị lần 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng
định “Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển mạnh giáo
dục, đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh, bền
vững” [6, tr.2]. Để thực hiện mục tiêu trên đòi hỏi nền GD&ĐT nước ta không chỉ mở
rộng qui mô, đa dạng hóa các loại hình đào tạo mà còn phải chú trọng việc nâng cao

đến việc cải thiện chất lượng giáo dục, nhất là trong giai đoạn hiện nay cả nước đang
đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và phân ban đại trà kể từ năm học 2006-2007.
Do vậy, vấn đề phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên trung học phổ thông công lập
tỉnh Bến Tre trong quá trình đổi mới giáo dục hiện nay trở thành yêu cầu bức thiết và
quan trọng. Là người trực tiếp làm công tác tuyên giáo, trong đó có công tác khoa giáo
gắn liền với giáo dục đào tạo ở tỉnh Bến Tre, với lòng thiết tha mong muốn góp phần
nhỏ bé vào việc phát huy vai trò tiềm năng, tính sáng tạo của đội ngũ giáo viên trong
quá trình đổi mới giáo dục của tỉnh Bến Tre phát triển cùng với cả nước.
Do vậy, tôi chọn đề tài: “Pht huy vai trị của đội ngũ giáo viên trung học phổ
thông trong đổi mới giáo dục ở tỉnh Bến Tre hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài
Trong thời gian gần đây đã có một số công trình có liên quan tới đề tài. Cụ thể là:
- “Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phát triển tuyển chọn, đào tạo, bồi
dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài” mã số KX-07-18 (1996) của PGS.TS Nguyễn
Trọng Bảo chủ biên với nhiều vấn đề được phân tích, trong đó có các vấn đề đóng
góp vào đổi mới giáo dục, phát triển đất nước.
- “Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ 21, kinh nghiệm của các quốc
gia”, của Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục, Nxb Chính Trị quốc gia 2002, là tập hợp
những kết quả nghiên cứu của những nhà khoa học có liên quan đến lĩnh vực chiến lược
phát triển giáo dục.

Những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan về vai trò của đội ngũ giáo
viên trong giai đoạn hiện nay như:
- PGS.TS Phan Thanh Khôi (2006), Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng
từ 1986 đến nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội. Trong đó có nội dung đề cập đến giáo
dục và đào tạo của Đảng.
- Phạm Thanh Sơn (2001), Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác-Lênin trong
các trường Đại học nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học. Luận án chủ yếu bàn về
đội ngũ giáo viên Mác-Lênin và vai trò của đội ngũ này trong các trường đại học.
- Đỗ Tuyết Bảo (2001), Giáo dục đạo đức cho học sinh trung học tại thành phố

+ Làm rõ đổi mới giáo dục ở nước ta và vai trò của đội ngũ giáo viên trung học
phổ thông trong quá trình đổi mới giáo dục.
+ Phân tích thực trạng việc phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên THPT trong
đổi mới giáo dục ở tỉnh Bến Tre hiện nay.
+ Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò của đội ngũ giáo
viên THPT tỉnh Bến Tre đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới giáo dục của tỉnh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Nghiên cứu đội ngũ giáo viên THPT tỉnh Bến Tre dưới góc độ
chính trị - xã hội thể hiện trong quá trình đổi mới.
- Phạm vi: Đội ngũ giáo viên THPT trong quá trình đổi mới giáo dục (từ khi có
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đến nay) thuộc các trường trung học phổ thông ở
tỉnh Bến Tre.
5. Cơ sở lý luận thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận và phương pháp
luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, Nhà
nước về vai trò của đội ngũ giáo viên trong quá trình đổi mới giáo dục.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng,
phương pháp duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
lôgíc và lịch sử, thống kê, điều tra xã hội học, gắn lý luận với thực tiễn vấn đề.
6. Những đóng góp mới của luận văn

- Làm rõ quan hệ giữa đội ngũ giáo viên và đổi mới giáo dục ở trung học phổ
thông trên cả hai mặt lý luận và thực tiễn.
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao vai trò của đội ngũ giáo viên trong quá
trình đổi mới giáo dục ở các trường trung học phổ thông trong thời gian tới.
7. Ý nghĩa của luận văn
- Kết quả nghiên cứu luận văn có thể góp phần làm sáng tỏ và cụ thể thêm vấn đề
lý luận về vai trò của đội ngũ giáo viên ở các trường trung học phổ thông tỉnh Bến Tre
trong đổi mới GD&ĐT hiện nay.
- Luận văn góp thêm tài liệu tham khảo cho ngành giáo dục đào tạo mà trước hết

thầy, của người giáo viên trong xã hội. Môi trường sư phạm bị xúc phạm do đồng tiền
chi phối các mối quan hệ vốn rất được tôn kính. Trong khi đó, những yếu tố tích cực
của kinh tế thị trường lại không được nhìn nhận, đánh giá đúng và tìm cách phát huy
như sự minh bạch trong thu chi Các khái niệm "thị trường", "xã hội hoá" đã không
được nhận thức đúng bản chất, không được minh bạch, nên đã bị lạm dụng, tạo nên hình

ảnh xấu về các lĩnh vực này trong con mắt của nhân dân và cả xã hội, làm ảnh hưởng rất
lớn đến việc triển khai các chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước cũng như của
ngành giáo dục và đào tạo.
Ba là, đường lối phát triển giáo dục và đào tạo là đúng nhưng chưa được cụ thể, rõ
ràng, chưa có giải pháp thực hiện và còn bị lúng túng trong cơ chế quản lý, thiếu tính
chuyên nghiệp, đã gây nhiều khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện các chủ
trương chính sách trong thực tiễn. Quan điểm "Giáo dục là quốc sách hàng đầu" chưa
được quán triệt đầy đủ và thực hiện cụ thể. Nhiều quan điểm quản lý chưa có cơ sở lý
luận và phù hợp với điều kiện thực tế, chưa có một đề án, kế hoạch tổng thể; chưa có đủ
điều kiện thực hiện cả con người, vật chất và sự đồng thuận xã hội.
Bốn là, sự không hoàn thiện của cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân. Về mặt văn
bản, đã từng có một mô hình cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân khá cụ thể, rõ nét. Tuy
nhiên, việc triển khai mô hình này trong thực tiễn mấy chục năm qua đã bộc lộ những
bất cập với yêu cầu của thực tiễn, gây nên bất hợp lý trong giải quyết nguồn nhân lực,
cả về định tính và định lượng. Cho đến nay chưa giải quyết được vấn đề phân luồng
THCS và THPT, vẫn chưa phân biệt hai luồng đào tạo và thực hành, thực tiễn "thầy -
thợ", "thừa - thiếu" không có cách giải quyết; chưa có sự thống nhất trong quản lý các
trường nghề, chưa thật sự hoàn thiện phân cấp mạng lưới các cơ sở đào tạo nhân lực từ
Trung ương đến địa phương. Chính sự không rõ ràng trong khái niệm này đã dẫn đến
chồng chéo trong quản lý. Việc phân cấp mặc dù đã được khẳng định nhưng còn chậm
vào đời sống thực tiễn.
Năm là, sự bất cập về lý luận khoa học giáo dục, lý luận quản lý giáo dục. Đúng ra
lý luận của hai lĩnh vực này phải đi trước thực tiễn một bước, làm sáng tỏ cho thực tiễn.
Nhưng trong thực tế, lý luận của hai lĩnh vực này ở nước ta thời gian qua còn chậm

nghiệp: 515.670; sinh viên đại học cao đẳng: gần 1,52 triệu; học sinh học nghề: gần
1.522.000 và học sinh học tập theo phương thức không chính quy (gồm học sinh xóa
mù chữ, bổ túc văn hóa, giáo dục và đào tạo từ xa: hơn 453.540).
So với năm học 2005-2006 số học sinh trung học phổ thông và số sinh viên đại
học, cao đẳng tăng gấp khoảng 11,5% lần. Tính bình qun trung học cơ sở giảm 3,72%
năm, trung học phổ thông tăng 4,33% năm. Xu thế đi học đúng độ tuổi tăng lên: tỉ lệ trẻ

5 tuổi được học mẫu giáo lớn là 81%; số trẻ trong độ tuổi tiểu học đến trường chiếm tỉ
lệ cao từ đó góp phần ổn định quy mô giáo dục tiểu học.
Cùng với việc tăng quy mô, mạng lưới trường lớp và các loại hình đào tạo tiếp tục
được củng cố, phát triển rộng khắp trong cả nước kể cả vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải
đảo và vùng dân tộc góp phần đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của con em nhân dân.
Hiện nay, cả nước có 39.695 trường học, bao gồm 11.509 trường Mầm non mẫu giáo;
14.839 trường tiểu học, 10.401 trường trung học cơ sở, 2.355 trường trung học phổ
thông, 269 trường trung học chuyên nghiệp, 322 trường Cao đẳng và đại học.
So với năm học 2005-2006, ở tiểu học và trung học cơ sở đ cĩ thm 277 trường; ở
trung học phổ thông có thêm 87 trường; đại học và cao đẳng có thêm 67 trường (trong
đó có thêm 54 trường đại học, cao đẳng công lập; 13 trường đại học, cao đẳng ngoài
công lập). Cùng với việc củng cố, phát triển trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú,
các địa phương đ quan tm bố trí, sắp xếp hệ thống trường lớp tiểu học và trung học cơ
sở ở vùng đồng bào dân tộc, tạo điều kiện cho trẻ em đến trường. Mạng lưới các trường
đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp được sắp xếp hợp lý v tiếp tục được củng
cố, phát triển các trường đại học trọng điểm của các khối: sư phạm, công nghệ, nông
nghiệp, kinh tế được tăng cường. Các vùng khó khăn như Tây Bắc, Nam trung bộ, đặc
biệt Chính phủ đ chỉ đạo cho Bộ giáo dục và Đào tạo lưu tâm việc đẩy mạnh phát triển
các trường đại học, cao đẳng tạo điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo nguồn nhân lực tại
chỗ cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Hệ thống các cơ sở đào tạo nghề và trung
tâm giáo dục thường xuyên phát triển rộng khắp. Hệ thống các trường sư phạm từ trung
ương đến địa phương tiếp tục được củng cố, nâng cao chất lượng; góp phần tăng cường
điều kiện tạo thuận lợi trong việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên theo hướng chuẩn hóa

cấp đều tăng lên. Vấn đề đặt ra hiện nay là khó khăn về định mức biên chế giáo dục.
Về chất lượng đội ngũ, đến đầu năm học 2006-2007 đ cĩ 85,25% gio vin mầm non;
93% gio vin tiểu học; 95% giáo viên Trung học cơ sở và 97% giáo viên Trung học phổ thông
đạt trình độ chuẩn theo qui định của Luật giáo dục.
Trong tổng số 14.500 giáo viên trung học chuyên nghiệp có 219 tiến sĩ, 1.914 thạc
sĩ, 11.339 giáo viên đ tốt nghiệp đại học, cao đẳng, 737 giáo viên có trình độ trung học.
Số giáo viên đạt chuẩn chiếm 93%. Trong tổng số 53.518 giảng viên đại học và cao

đẳng, có 2.467 giáo sư và phó giáo sư, 5.882 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học, 18.272 thạc sĩ
và 472 chuyên khoa cấp I và II.
Tiếp tục thực hiện chỉ thị 34-CT/TW của Bộ Chính trị về xây dựng củng cố tổ
chức Đảng trong trường học, quan tâm chú trọng phát triển đảng viên là giáo viên trực
tiếp đứng lớp. Hiện nay, cịn một số địa phương gặp khó khăn, tuy nhiên, cũng đ cĩ
nhiều biện php, hình thức cch lm nhằm gio dục tư tưởng chính trị, đặc biệt là triển khai,
quán triệt sâu nội dung Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh. Qua đó đ cĩ rất đông giáo viên nhận thức, tự nguyện phấn đấu vào Đảng. Đội ngũ
cán bộ quản lý gio dục v gio vin đ v đang thực sự trở thành lực lượng nịng cốt, đi đầu
trong nhiều công việc ở các địa phương.
- Trong những năm qua, kết hợp nhiều nguồn vốn, đồng thời huy động sự đóng
góp của nhân dân và các địa phương đ cố gắng tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho
nhà trường, tạo điều kiện để nâng cao chất lượng dạy và học. Đến đầu năm học 2006-
2007 sau 4 năm thực hiện chương trình kin cố hố trường lớp, cả nước có thêm 70.000
phịng học mới với chi phí 9.000 tỉ đồng. Sau 33 năm thống nhất đất nước, tính chung cả
nước từ bậc mầm non tới trung học có hơn 550.000 phịng học, trong đó phịng học kin
cố hơn 280.000 chiếm 51%, cịn phịng học tạm, bn kin cố phịng học nhờ là 270.000
chiếm 49%. Tính năm 2008 tổng chi ngân sách nhà nước cho toàn ngành GD & ĐT là
72.520 tỷ đồng tăng hơn 6.000 tỷ đồng so với năm 2007 để xây dựng nâng cấp trường
lớp.
Nhưng vẫn cịn phịng học 3 ca ở đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam bộ, Tây
Nguyên, số phịng học tạm, học nhờ, phịng học bn kin cố tranh tre vch l vẫn cịn 170.000

hàng đầu, đóng vai trị then chốt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa x hội, Bộ kế hoạch
v đầu tư và Bộ tài chính đ tăng ngân sách cho giáo dục đảm bào yêu cầu định mức do
Nghị quyết trung ương II đề ra. Trong điều kiện nguồn kinh phí cịn hạn hẹp, cc địa
phương đ cĩ nhiều cố gắng cải tiến việc phn bổ, điều hành ngân sách; đầu tư thêm cho
giáo dục từ nguồn ngân sách địa phưong (khoảng 20 - 30% ngân sách địa phương);
đồng thời huy động đóng góp của nhân dân để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng
cao chất lượng dạy và học. Đặc biệt là các trường dạy nghề Trung học chuyên nghiệp,
Cao đẳng, Đại học đ thơng qua con đường lao động sản xuất, dịch vụ, tư vấn, ứng dụng

và chuyển giao công nghệ mà tự xây dựng được nguồn vốn tự có, nguồn vốn này đ gĩp
phần kinh phí đầu tư xây dựng nhà trường và cải thiện đời sống cho cán bộ giáo viên.
Đến cuối năm 2007, trong các trường đại học đ cĩ trên 160 đơn vị nghiên cứu khoa
học và lao động sản xuất, trong đó có 11 viện nghiên cứu, 08 Văn phòng tư vấn, 136 Trung
tâm nghiên cứu, triển khai. Các Trung tâm, các viện nghiên cứu của các trường đại học đ
thực hiện hng nghìn hợp đồng với doanh thu hàng nghìn tỉ đồng, đóng góp xây dựng cơ sở
vất chất cho nhà trường.
Trong thời gian qua, để tăng cường năng lực cho các cơ quan nghiên cứu khoa
học, đ cĩ trn 70 trung tm v viện nghin cứu trực thuộc cc trường đại học được đầu tư
14.000 tỷ đồng từ ngân sách Nhà nước và các nguồn vốn khác như viện trợ, hợp tác đầu
tư của các tổ chức quốc tế, trong đó có trên 15 phịng thí nghiệm mạnh, có chất lượng
cao về các linh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu.
Một nguồn đầu tư quan trọng cho giáo dục là các dự án vay vốn và viện trợ quốc
tế. Hiện nay ngành giáo dục có 09 dự án vay vốn nước ngoài thực hiện gối đầu trong
thời gian từ năm 2008 đến năm 2012 với tổng vay khoảng 825,4. triệu USD để đào tạo
giáo viên, xây dựng trường học, tăng cường thiết bị, sách giáo khoa … Từ nguồn viện
trợ không hoàn lại, nhiều địa phương thuộc địa bàn khó khăn đ được hỗ trợ để giáo dục
trẻ khuyết tật, phát triển các Trung tâm học tập cộng đồng, giáo dục nghề nghiệp. Trên
thực tế, tổng vốn đầu tư cho giáo dục cịn thấp v phương thức phân bổ cịn di tri, thiếu sự
thống nhất quản lý v phối hợp giữa cc dự n, do đó hiệu quả đầu tư chưa cao, các điều kiện
phát triển giáo dục chưa đạt yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa.

bán công sang công lập; đồng thời xây dựng thêm các trường công lập nhất là ở địa bàn
vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Nhìn chung, cc trường Công lập tiếp tục phát huy vai trị
chỉ đạo, thể hiện sự mẫu mực về thực hiện cc qui trình, qui phạm gio dục-đào tạo, các qui
trình v chính sch của Đảng và Nhà nước; bảo đảm các yêu cầu về chất lượng giáo dục.
Tuy nhiên, trong qu trình thực hiện chủ trương x hội hĩa, ở một số địa phương có
xu hướng huy động và để dân lo là chính, ít đầu tư, chưa thấy được vai trị v trch nhiệm
của Nh nước trong việc phát triển giáo dục-đào tạo, nhất là ở vùng địa bàn kinh tế-x hội
đặc biệt khó khăn. Mặt khc, do buơng lỏng quản lý nhà nước về giáo dục, một số hiện
tượng tiêu cực “thương mại hóa”, chạy theo mục đích vụ lợi đ xuất hiện ở một số
trường dân lập.

- Cơng bằng x hội trong gio dục cơ sở về cơ bản được quan tâm, đảm bảo thực
hiện, các trường đại học, cao đẳng đ cĩ nhiều biện php trợ gip, tạo điều kiện học tập cho
con em gia đình thuộc diện chính sch con em đồng bào dân tộc và học sinh nghèo vượt
khó.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, các nhà trường đ nghim chỉnh chấp
hnh cc qui định về miễn, giảm học phí, cấp học bổng, UBND các cấp đ quan tâm vận
động các tổ chức chính trị-x hội, cc tổ chức x hội nghề nghiệp, một số doanh nghiệp v
nh hảo tm cả cc nh doanh nghiệp tm quyết, thn nhn ở nước ngoài phối hợp xây dựng các
quỹ khuyến học nhằm trợ giúp học sinh nghèo tiếp tục học tập.
Đối với vùng dân tộc, các địa phương đ tích cực xy dựng hệ thống trường phổ
thông dân tộc nội trú và bán trú. Năm học 2004-2005, đ cĩ 234 trường dân tộc nội trú
trong đó Trung học cơ sở 151 trường; phổ thông cơ sở là 24 trường; Phổ thông trung
học là 24 trường và 35 trường trung học phổ thông. Bên cạnh đó, các địa phương đ quan
tm bố trí, sắp xếp hệ thống trường lớp tiểu học và trung học cơ sở vùng dân tộc nhằm
tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em đến trường. Cả nước vẫn cịn 1.640 x vùng dân tộc
thiểu số miền núi, biên giới, đặc biệt khó khăn chưa có trường mầm non. Các địa
phương cũng đ thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách đối với cán bộ giáo viên, học
sinh người dân tộc. Một số địa phương Lâm Đồng, Bắc Giang, Tuyên Quang, Yên Bi,
Hịa Bình, An Giang, Cà Mau… đ quan tm chỉ đạo, thực hiện đề án xây dựng nhà công

ngành như: dự án giáo dục tiểu học, dự án đào tạo giáo viên tiểu học, dự án phổ thông
cơ sở, dự án đào tạo giáo viên trung học cơ sở, dự án nâng cao năng lực đào tạo của các
trường đại học; đồng thời triển khai mạnh mẽ các đề án đào tạo cán bộ khoa học, kỹ
thuật tại các cơ sở nước ngoài, để đáp ứng đào tạo theo một cái nền cơ bản là nhà
trường phải xác định đúng và đào tạo theo nhu cầu của x hội cĩ tính linh hoạt cao. So với
những năm trước đây, năm học 2007-2008, cán bộ quản lý trong ngnh, cc hiệu trưởng có
nhiều cơ hội đi học tập kinh nghiệm phát triển giáo dục ở nước tiên tiến trong khu vực và
trên thế giới.
- Cơng tc quản lý ngnh cũng đ đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Cơ quan
Bộ đ tích cực nng cao chất lượng và hiệu quả chỉ đạo, điều hành, từng bước khắc
phục tình trạng sa đà vào các hoạt động tác nghiệp cố gắng bám sát chức năng quản
lý Nh nước, xây dựng môi trường hợp lý, cơ chế, chính sách; trình Chính phủ ph

duyệt Chương trình kin cố hố trường lớp giai đoạn 2, đề án học phí mới; trình dự
thảo Nghị định về quản lý đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục; đẩy mạnh phân
cấp quản lý gio dục cho địa phương và phân cấp cho các cơ sở giáo dục và đào tạo;
đề án cho sinh viên nghèo vay vốn học tập (2.500 tỷ đồng, trong đó 500 tỷ đ được
ngân sách cấp và 2.000 tỷ huy động từ trái phiếu chính phủ), qui hoạch, kế hoạch
phát triển; kiện toàn bộ máy quản lý; tăng cường chỉ đạo thanh tra, kiểm tra. Bộ Giáo
dục-đào tạo đ phn bổ cng cc địa phương, các Bộ ngành, tham mưu để Quốc Hội ban
hành 2 nghị quyết số 40/2000/NQ-QH và 41/2000/NQ-QH (khoá X); Chính phủ đ
ban hnh 8 Nghị định và nhiều văn bản của các cơ quan quản lý của các địa phương;
đồng thời các nhà trường đ năng động, sáng tạo và đ tổ chức thực hiện cc chủ trương
của Đảng, Nhà nước và sự chỉ đạo của ngành, tham mưu cho cấp ủy Đảng và Chính
quyền xây dựng các chính sách cho cán bộ, giáo viên và học sinh phù hợp với điều
kiện kinh tế- x hội của cc địa phương. Nhiều chính sách, chủ trương mới của ngành
có hiệu lực áp dụng như: Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học mới ban hành theo
Quyết định số 14/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 4/5/2007, Quy chế tổ chức và hoạt động
của Trung tâm ngoại ngữ, tin học được ban hành kèm theo Quyết định 31/2007/QĐ-
BGD&ĐT ngày 4/6/2007 sẽ đi vào triển khai thực hiện. Những khởi động căn bản và

chưa nắm vững những thay đổi của chương trình v sch gio khoa, chưa chú ý đến những
thay đổi về mục tiêu, về nội dung và phương pháp dạy học để có những điều chỉnh phù
hợp, vì vậy tính định hướng hoạt động chuyên môn rất thấp. Việc phân luồng học sinh
sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông chậm triển khai, chưa có giải
pháp đủ mạnh và đồng bộ để thu hút thế hệ trẻ theo học các trường dạy nghề và trung
học chuyên nghiệp.
Ba là, đội ngũ gio vin cịn nhiều bất cập về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Tỉ lệ
giáo viên trên lớp tính chung cả nước đ tăng lên nhưng cịn thấp so với qui định. Ở bậc
đại học phần đông giảng viên đ cao tuổi (tại những trường đại học có uy tín 70-80%
giảng viên tuổi cao), nguy cơ hẩng hụt đội ngũ đ được cảnh báo từ lâu nhưng chưa có
giải pháp khắc phục. Vấn đề cần giải quyết là nguồn tuyển giáo viên không thiếu nhưng
định biên chưa hợp lý.
Đội ngũ giáo viên không đồng bộ về cơ cấu, nhất là giáo viên trung học cơ sở và
trung học phổ thông (cịn thiếu gio vin cc mơn Sinh vật, Kỹ thuật, Gio dục cơng dn, Gio

dục quốc phịng-an ninh, Nhạc, Họa, Thể dục). Tuy số gio vin đạt chuẩn đào tạo tăng
lên, nhưng trình độ Tin học và Ngoại ngữ của phần đông giáo viên cịn yếu, phương
pháp giảng dạy cịn cũ kỹ, tình trạng p đặt trong việc tiếp thu kiến thức vẫn chưa chấm
dứt. Có trường hợp gíáo viên chỉ chú ý đến việc hoàn thành nội dung dạy học, bất chấp
hiệu quả tiếp thu của học sinh. Việc đổi mới phương pháp dạy học mang tính hình thức
hoặc soạn bi, giải bi theo khuơn mẫu. Tình trạng dạy cho xong đ v đang trở thành một
căn bệnh nan y trong đội ngũ giáo viên. Vấn đề tự học, tự rèn để nâng cao năng lực dạy
học chỉ mang tính hình thức. Nhiều gio vin do khơng nắm vững mối quan hệ hữu cơ
giữa hoạt động dạy học và giáo dục nhân cách học sinh nên chỉ chú trọng vào việc “dạy
chữ” mà xem nhẹ việc “dạy người”, do vậy, mọi đổi mới về phương pháp dạy học đ trở
nn vơ nghĩa khi không ít học sinh động cơ học tập không đúng. Một bộ phận giáo viên
chưa toàn tâm toàn ý phục vụ sự nghiệp giáo dục-đào tạo. Chất lượng đội ngũ gio vin cc
cấp, bậc học ở vng dn tộc cịn yếu. Một số trường đại học đ mở rộng qui mơ qu khả năng
đào tạo, khiến các giáo viên phải dạy nhiều giờ, không cịn thời gian tự học, tự bồi
dưỡng, tham gia nghiên cứu và kiến thức khoa học công nghệ. Số giảng viên có chức

Theo từ điển tiếng việt giáo viên là “Những người làm nghề dạy học” [24, tr.516].
Nếu hiểu như vậy đất nước ta là đất nước của nghề dạy học, vì ở nước ta cứ biết chữ là
có thể đi dạy học, điều này thường thấy và rất phổ biến ở thời kỳ sau Cách mạng Tháng
Tám 1945. Với quan niệm “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, đã làm thầy giáo là được tất cả
mọi người kính trọng. Sau cách mạng tháng Tám, nền giáo dục của nước Việt Nam độc
lập ra đời. Nền giáo dục đó đòi hỏi có đội ngũ thầy giáo đáp ứng được nhiệm vụ diệt
giặc dốt - một trong những loại giặc nguy hiểm không kém giặc đói và giặc ngoại xâm.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị mở chiến dịch “chống nạn mù chữ”, vì “nạn dốt" là một
trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta. Một dân tộc
dốt là một dân tộc yếu”.
Vì vậy, người chưa biết chữ phải coi học tập là quyền lợi và nghĩa vụ của mình,
người biết chữ có nghĩa vụ phải dạy người chưa biết chữ. Một trong nnững việc phải
thực hiện cấp tốc trong lúc này là xoá nạn mù chữ cho toàn dân, Nha Bình dân học vụ
đã cấp tốc được thành lập. Trong thư gửi anh chị em giáo viên Bình dân học vụ, Bác
viết "Một phần tương lai dân tộc nằm trong sự cố gắng của anh chị em Cái vinh dự đó thì

tượng đồng bia đá nào cũng không bằng tôi mong đồng bào ra sức giúp đỡ anh chị em
làm việc”. Thực hiện chủ trương của Bác Hồ, người thầy giáo trong giai đoạn này là những
người làm công tác xóa mù chữ cho nhân dân để từng bước nâng cao dân trí phục vụ đắc
lực cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc, xây dựng và phát triển đất nước.
Tiếp đến nền giáo dục tiến dần từ mục tiêu nâng cao dân trí là chủ yếu sang mục
tiêu đào tạo nhân lực, nhân tài cho đất nước. Người thầy giáo giai đoạn này không chỉ
đơn thuần là người biết chữ đi dạy người không biết chữ mà phải là một đội ngũ những
người có trình độ, có năng lực, có phương pháp sư phạm, tiến hành dạy học trong một
tổ chức chặt chẽ theo một chương trình, kế hoạch, mục tiêu cụ thể. Vì vậy, để làm rõ
hơn khái niệm giáo viên là “Những người làm nghề dạy học” đồng thời qui định địa vị
pháp lý của giáo viên, tại điều 70 của Luật Giáo dục nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam đã đưa ra định nghĩa pháp lý đầy đủ về giáo viên: “Nhà giáo là những người
làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác" [34, tr.56].
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục

phận của nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông là những người trực tiếp tham
gia vào quá trình giáo dục ở các trường Trung học phổ thông, những người đạt chuẩn
đào tạo theo qui định và chủ yếu được đào tạo tại các trường Đại học sư phạm. Ở cấp
Trung học phổ thông, mục tiêu giáo dục của giáo viên là giúp học sinh hoàn thành học
vấn phổ thông, có những hiểu biết căn bản về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện
phát huy năng lực cá nhân, có khả năng tiếp cận nghề nghiệp và thích nghi với môi
trường không ít khó khăn, thách thức. Vì vậy, để thực hiện được mục tiêu giáo dục đối với
đối tượng nhạy cảm này, đòi hỏi giáo viên ở các trường Trung học phổ thông phải là những
người có trí lực phát triển tốt, có kiến thức khoa học chuyên ngành vững chắc, có sự hiểu
biết không chỉ ở phạm vi giảng dạy mà đòi hỏi phải có lượng kiến thức, tư duy sáng tạo.
Có được như vậy mới có thể thực hiện được chức năng hướng nghiệp, hướng nghề cho
học sinh. Điều 77 của Luật Giáo dục (năm 2005) đã ghi rõ về chuẩn đào tạo của giáo viên
cấp Trung học phổ thông như sau: “Có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm hoặc bằng tốt
nghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên Trung học
phổ thông [34, tr.59].

Thứ hai, đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông vừa là nhà sư phạm có phương
pháp vừa là nhà khoa học và cũng có trình độ chính trị nhất định. Hoạt động của giáo
viên là vừa giảng dạy vừa giáo dục. Giáo viên Trung học phổ thông vừa giảng dạy các
môn, vừa dựa trên tài liệu nghiên cứu để dẫn dắt học sinh tiếp cận thế giới quan duy vật,
với những vấn đề mà cả xã hội quan tâm, về lòng tự hào truyền thống quí báu của dân
tộc, quê hương, hướng các em cách ứng xử, giao tiếp trong cuộc sống. Muốn làm được
như vậy thì bản thân giáo viên không chỉ nắm chắc tri thức khoa học mà mình giảng dạy
và kiến thức liên quan, không chỉ hiểu rõ những qui luật của quá trình giáo dục và đối
tượng giáo dục mà họ còn phải có nghệ thuật sư phạm, có sự hiểu biết và niềm tin vào
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào đường lối đúng đắn của Đảng, có
phẩm chất, năng lực của một nhà sư phạm, có phương pháp, vững vàng về chính trị.
Thứ ba, giáo viên ở các trường Trung học phổ thông là những người cần và phải

Với vai trò như vậy, nghề dạy học của giáo viên là “nghề cao quí nhất trong các nghề
cao quý”, "kỹ sư tâm hồn".
Kế thừa truyền thống đó của dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy rõ vai trò và vị
trí của người thầy qua chính những năm đi dạy học và bằng cả chặng đường bôn ba khắp
năm châu bốn biển vừa tự học, vừa tìm đường cứu nước. Người căn dặn: “Trách nhiệm
nặng nề và vẻ vang của người thầy là: Chăm lo dạy dỗ cho con em của nhân dân thành
người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà”
[31, tr.36]. Đồng chí Phạm Văn Đồng cũng từng nhấn mạnh: “Người thầy giáo là chiến
sĩ tiên phong trong việc truyền bá cái mới” [14, tr.89].
Đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông, lực lượng trực tiếp thực hiện mục tiêu
giáo dục cấp trung học phổ thông, góp phần từng bước nâng cao trình độ dân trí, phát
hiện và bồi dưỡng nhân tài, đào tạo một nguồn nhân lực đủ điều kiện đáp ứng được yêu
cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong quá trình hội nhập và phát triển
của đất nước. Từ những nội dung nêu ở trên thì vai trò của đội ngũ giáo viên trung học
phổ thông trong đổi mới giáo dục được thực hiện trên các mặt sau đây.
Một, trang bị cho học sinh những tri thức cơ bản về thế giới quan, tư tưởng chính
trị, pháp luật, đạo đức, góp phần và hình thành phát triển nhân cách, lối sống cách ứng
xử có văn hóa để trở thành con người có đạo đức, có tấm lòng nhân ái. Ở các trường
trung học phổ thông đội ngũ giáo viên thông qua các môn học, trực tiếp là các môn

Trích đoạn Nâng cao vai trò của đội ngũ giáo viên trung học phổ thông trong đổi mới phương pháp giáo dục, phải quán triệt quan điểm coi trọng vai trò chủ động, Nâng cao vai trò của đội ngũ trung học phổ thông trong đổi mới giáo dục gắn liền với sự phấn đấu của mỗi giáo viên thành tấm gương sáng cho học sinh Nâng cao nhận thức của các bậc cha mẹ học sinh về giáo viên và vai trò của đội ngũ giáo viên trong đổi mới giáo dục trung học phổ thông Nâng cao nhận thức của chính bản thân đội ngũ giáo viên trung học phổ thông Đổi mới công tác bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status