LUẬN VĂN:
Nâng cao vai trò của đội ngũ nhà giáo trong
quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở các trường
THPT tỉnh Thái Bình hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 21, đất nước ta đang bước vào một thời kỳ
phát triển mới: thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị trường định hướng
XHCN, hướng tới kinh tế tri thức và mở rộng hội nhập quốc tế với nhiều thuận lợi và
khó khăn, thử thách phải vượt qua. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó, Đại hội Đảng
trong các trường THPT, “đội ngũ nhà giáo vừa thiếu lại vừa thừa, một bộ phận nhỏ
nhà giáo chưa đạt chuẩn đào tạo, một số thiếu năng lực giảng dạy và tinh thần trách
nhiệm. Đáng lo ngại là tác động tiêu cực của cơ chế thị trường đã làm xói mòn phẩm
chất của một số nhà giáo gây ảnh hưởng xấu đến uy tín người thầy trong xã hội” [4,
tr.21]. Điều đó làm hạn chế việc thực hiện vai trò đào tạo nguồn nhân lực của đội ngũ
nhà giáo, là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thực trạng: nhiều học sinh
kiến thức lệch lạc, thiếu hiểu biết các vấn đề chính trị - xã hội, một bộ phận học sinh
suy thoái về đạo đức, lối sống; phần lớn học sinh sau khi tốt nghiệp THPT thiếu khả
năng tự tìm kiếm việc làm, chưa vững vàng trước những biến đổi phức tạp của cuộc
sống. Chất lượng đào tạo ở cấp học này chưa thực sự đáp ứng được mục tiêu đặt ra.
Đặc biệt, vào thời điểm hiện nay dấu hiệu một cuộc khủng hoảng GD-ĐT đã đến mức
khiến xã hội phải lên tiếng.
Là người đã từng trực tiếp tham gia công tác giáo dục ở một trường THPT
thuộc tỉnh Thái Bình, mong muốn qua việc khảo sát vai trò của đội ngũ nhà giáo ở một
tỉnh để có thể phát hiện những tiềm năng đang tiềm tàng, khơi dậy năng lực sáng tạo,
nhiệt tình cống hiến của đội ngũ nhà giáo trong công tác giáo dục thế hệ công dân mới
của đất nước, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao vai trò của đội ngũ nhà giáo
trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở các trường THPT tỉnh Thái Bình hiện
nay” .
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, nhận thức được tầm quan trọng của GD-ĐT và vai
trò của đội ngũ nhà giáo đối với việc phát triển nguồn nhân lực nên ở nước ta đã có
một số công trình nghiên cứu khoa học đề cập tới các khía cạnh khác nhau của vấn đề
nhà giáo và vai trò của đội ngũ nhà giáo:
Những công trình có tính chất định hướng cho việc nghiên cứu về mối quan
hệ giữa GD-ĐT với việc phát triển nguồn nhân lực và đội ngũ nhà giáo trong mối
quan hệ đó như: “Con người Việt Nam, mục tiêu và động lực phát triển KT-XH”
mã số KX.07 do GS.TS Phạm Minh Hạc chủ biên với nhiều vấn đề được phân tích
trong đó có các vấn đề phát triển GD-ĐT, bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân
Mục đích: Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về nguồn nhân lực và vai trò
của đội ngũ nhà giáo, luận văn làm rõ thực trạng vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá
trình đào tạo nguồn nhân lực ở các trường THPT tỉnh Thái Bình, từ đó đưa ra giải
pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá trình đào tạo
nguồn nhân lực ở các trường THPT của tỉnh.
Nhiệm vụ: Luận văn có 3 nhiệm vụ cụ thể sau:
Làm rõ những khái niệm: đội ngũ nhà giáo, nguồn nhân lực, học sinh THPT, từ
đó phân tích đặc điểm, vai trò của đội ngũ nhà giáo với tư cách là chủ thể quan trọng
trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở các trường THPT.
Đánh giá đúng thực trạng vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá trình đào tạo
nguồn nhân lực ở các trường THPT tại tỉnh Thái Bình hiện nay.
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá trình
đào tạo nguồn nhân lực ở các trường THPT tỉnh Thái Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Nghiên cứu đội ngũ nhà giáo dưới góc độ chính trị - xã hội thể
hiện trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực.
- Phạm vi: Vai trò của đội ngũ này trong thời kỳ đổi mới nhất là trong những
năm gần đây.
- Địa bàn nghiên cứu: Các trường THPT tỉnh Thái Bình.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vai trò của đội ngũ nhà giáo trong
quá trình đào tạo nguồn nhân lực từ lực lượng học sinh THPT.
* Cơ sở thực tiễn:
Luận văn nghiên cứu toàn bộ hoạt động của đội ngũ nhà giáo ở các trường
THPT tỉnh Thái Bình hiện nay trong mối quan hệ với quá trình đào tạo nguồn nhân
lực.
* Phương pháp nghiên cứu:
đất nước. Nhiều quốc gia đã xây dựng cho mình chiến lược phát triển nguồn nhân lực
và coi đó là vấn đề cốt lõi cho sự phát triển.
Khi nói đến “nguồn nhân lực” tức là muốn nói đến một tài sản quý, vốn quý có
khả năng sinh sôi nảy nở và có thể đem ra sử dụng. Tài sản quý, vốn quý đó gắn liền
với con người - một đơn vị tế bào tạo nên nguồn nhân lực, là đối tượng cần được đầu
tư, được giáo dục và được đào tạo. Có thể hiểu nguồn nhân lực ở một số nội dung sau:
Thứ nhất, nói tới nguồn nhân lực là nói tới con người hiện thực và chất lượng
phát triển của con người gắn liền với bản chất xã hội.
Các nhà triết học mácxít đã khẳng định: con người hiện thực là một chỉnh thể
sinh học - xã hội, nhưng yếu tố xã hội mới là bản chất đích thực của con người. Kết
hợp hai mặt sinh học và xã hội, con người có một năng lực tiềm ẩn (tiềm năng), khi
được sử dụng và gặp môi trường thuận lợi thì tiềm năng ấy được phát huy, lúc đó con
người trở thành động lực cho sự phát triển KT-XH. Môi trường đó chính là hoạt động
lao động - hoạt động bản chất nhất của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ
cho cuộc sống: “Lao động là điều kiện cơ bản, đầu tiên của toàn bộ đời sống loài
người và như thế đến một mức mà trên một nghĩa nào đó chúng ta phải nói: lao động
đã sáng tạo ra bản thân con người”[26, tr.641]. Và, mặc dù: “Bản thân chúng ta, với cả
xương thịt, máu mủ và đầu óc, chúng ta là thuộc về tự nhiên, chúng ta nằm trong lòng
giới tự nhiên”[26, tr.665] nhưng nhờ có lao động mà: “Người là giống vật duy nhất có
thể bằng lao động mà thoát khỏi trạng thái thuần túy là loài vật” [26, tr.673]. Lao động
mang ý nghĩa nhân bản sâu xa bởi trong lao động con người đã làm biến đổi tự nhiên,
biến đổi cả bản thân mình và đã làm nên lịch sử của cả xã hội loài người. Điều đó cho
thấy, nếu con người là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử - xã hội thì đặc trưng bản chất
nhất của nguồn nhân lực là sự phản ánh trình độ phát triển, mức độ hoàn thiện con
người trong từng thời kỳ lịch sử nhất định. Chính các hoạt động nhận thức thực tiễn
của con người đã làm hoàn thiện nhân cách, trình độ, trí tuệ và thể lực của con người,
giúp con người thực hiện các chức năng xã hội của mình. Vì vậy, khi đào tạo nguồn
nhân lực cần phải phát triển cả mặt sinh học (sức khỏe, nuôi dưỡng, vệ sinh, môi
trường ) và mặt xã hội (kiến thức, kỹ năng, đạo đức, lối sống ) cho con người. Đây là
nghiên cứu và khẳng định, con người là những cá nhân cụ thể, vừa tồn tại với tư cách
cá nhân với những nhu cầu, khát vọng và năng lực tiềm tàng lại vừa tồn tại với tư cách
là những thành viên của gia đình, của cộng đồng dân tộc. Bằng năng lực và trách
nhiệm đối với xã hội, con người có vai trò to lớn, quyết định tới thành công của cách
mạng, tiến bộ của xã hội, tiền đồ của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Người viết:
“Vô luận việc gì đều do con người làm ra”[32, tr.113]. Rằng “Phải bồi dưỡng, đào tạo
và phát huy năng lực của con người, của từng cá nhân và của cả cộng đồng dân tộc
[34, tr.56].
Từ cơ sở đó có thể quan niệm rằng: Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng
của con người trong một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương đã được chuẩn
bị ở mức độ nào đó, có khả năng huy động vào quá trình phát triển KT-XH của đất
nước hoặc một vùng, một địa phương cụ thể. Nguồn nhân lực là nơi cung cấp sức lao
động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, của các nguồn lực, có khả
năng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Cấu trúc nguồn nhân lực của
một quốc gia gồm những người nằm trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động,
không kể đến trạng thái có hay không làm việc. ở Việt Nam, theo Luật lao động, nam
tuổi từ 15-60; nữ tuổi từ 15-55, có khả năng lao động đều thuộc nguồn nhân lực.
1.1.1.2. Phát triển nguồn nhân lực và vai trò của nó đối với sự phát triển xã
hội
Để phát triển KT-XH cần có nhiều nguồn lực, trong đó nguồn nhân lực có ý
nghĩa quyết định sự phát triển, vì con người vừa là một nguồn lực, vừa là chủ thể của
các nguồn lực khác. Con người bằng lao động sáng tạo đã phát hiện ra ngày càng
nhiều nguồn lực trong tự nhiên và từ nguồn lực tự nhiên tạo thành những nguồn lực
mới, làm tăng lên những khả năng có thể có của đất nước, của dân tộc cho sự phát
triển. Mặt khác do đặc tính lao động sáng tạo của con người mà nguồn nhân lực trở
nên sinh động và không cạn kiệt, hơn nữa nguồn nhân lực có khả năng phát triển, tái
sinh và tự nhân mình lên gấp bội. Vì vậy, để đảm bảo cho sự phát triển bền vững thì
cần phải quan tâm bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực cả về trí tuệ, năng lực, thể lực
và đạo đức.
nhất của nền văn minh hiện đại vì “người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản sau
khi làm giàu trí tuệ của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân
loại đã tạo ra”[22, tr.8]. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, để xây dựng thành công
CNXH thì phải có những con người XHCN, đó là những con người vừa “hồng vừa
chuyên”, “vừa có đức vừa có tài”, những con người phát triển toàn diện cả về nhận
thức, tình cảm và ý chí, những con người yêu nước, yêu chủ nghĩa quốc tế vô sản.
Những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận
của Đảng CSVN trong vấn đề đào tạo một nguồn nhân lực với những con người cường
tráng về thể chất, trong sáng về tinh thần, có trí tuệ, phẩm chất đạo đức và nhân cách
đáp ứng được sự nghiệp cách mạng của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Việc tạo ra
nguồn nhân lực để xây dựng xã hội là sự nghiệp của nhiều “binh chủng”, trong đó
ngành GD-ĐT đóng vai trò quyết định.
1.1.1.3. Giáo dục - đào tạo là nhân tố có ý nghĩa quyết định chất lượng
nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực được phát triển bằng nhiều con đường khác nhau, song GD-ĐT
là con đường có hiệu quả nhất. GD-ĐT là hoạt động đặc biệt chỉ có trong xã hội loài
người, đó là hoạt động có tổ chức của xã hội nhằm bồi dưỡng và phát triển các phẩm
chất và năng lực cho con người cả về tư tưởng, đạo đức, khoa học, sức khỏe và nghề
nghiệp. Ngay từ khi CNXH còn là học thuyết, Mác-Ăngghen đã đánh giá cao vai trò
của sự nghiệp giáo dục, các ông cho rằng giáo dục là nhiệm vụ cần thiết, bắt buộc đối
với mọi người. Trong tác phẩm “Nguyên lý của CNCS” Mác-Ăngghen đã nói tới chế
độ giáo dục trong một xã hội tổ chức theo nguyên tắc CSCN là “giáo dục công cộng,
không mất tiền cho tất cả trẻ em”, giáo dục toàn diện cả “trí dục, thể dục” và “kỹ thuật
bách khoa”. Các ông nhấn mạnh: sự nghiệp xây dựng xã hội mới trong đó cùng với
phát triển kinh tế còn phải xây dựng văn hóa, đào tạo con người, vì thế cần phải chú ý
đến nhiệm vụ giáo dục, coi đó là biện pháp hàng đầu để đào tạo con người mới với tư
cách là chủ thể sáng tạo có ý thức của xã hội mới. Lênin đã vận dụng quan điểm của
Mác-Ăngghen để phát triển giáo dục ở nước Nga ngay sau Cách mạng Tháng Mười.
Trong lúc nước Nga còn đang rất khó khăn, nghèo về kinh tế, lạc hậu về văn hóa,
triển của đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH, cần tạo chuyển biến cơ bản và toàn diện
về giáo dục”[12, tr.201], vì “Phát triển GD-ĐT là một trong những động lực quan
trọng của sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố
cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”[12, tr.108]. Với
phương châm “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, Đảng ta nhấn mạnh: một quốc gia
phát triển cần có một nền kinh tế phát triển, một nền kinh tế có sức mạnh để phát triển
cần phải tạo ra được một nguồn nhân lực với một trình độ trí tuệ ngang tầm thời đại và
một nguồn chất xám cũng như nhân lực kỹ thuật đủ để luôn đổi mới sản xuất, nâng cao
năng suất lao động, phát triển các hoạt động dịch vụ, hoạt động văn hóa, tinh thần, tất
cả những điều này đều phụ thuộc vào GD-ĐT. Hơn nữa GD-ĐT đóng vai trò chủ đạo
trong việc hình thành con người lao động mới - người công dân Việt Nam có lý tưởng
XHCN, có lòng tự hào dân tộc, có khả năng tiếp thu những tiến bộ của KH&CN và
tinh hoa văn hóa của nhân loại, có khả năng lao động và tạo ra ngày càng nhiều của cải
vật chất cho xã hội. Với ý nghĩa đó Đảng ta chỉ rõ: GD-ĐT nguồn nhân lực là một một
khâu chủ yếu trong toàn bộ quá trình phát triển nguồn lực của đất nước. Trên nền tảng
học vấn phổ thông về tự nhiên, xã hội và nhân cách…, GD-ĐT nguồn nhân lực phải
hướng tới việc hình thành, phát triển kiến thức, kỹ năng lao động phù hợp với cách
thức tổ chức, phân công lao động xã hội theo từng giai đoạn phát triển, trong các lĩnh
vực hoạt động và điều kiện cụ thể.
Những quan niệm trên là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về một bộ phận
quan trọng của nguồn nhân lực, đó là học sinh THPT - đối tượng tác động và cũng là
sản phẩm lao động của đội ngũ nhà giáo ở các trường THPT.
1.1.2. Học sinh trung học phổ thông - nguồn nhân lực đang được đào tạo
1.1.2.1. Một số đặc điểm của học sinh trung học phổ thông
Theo điều 4 Luật Giáo dục (2005), giáo dục THPT là một bộ phận hữu cơ của
giáo dục phổ thông, nằm trong cấu trúc chung của hệ thống giáo dục quốc dân. Căn cứ
vào điều 83 Luật Giáo dục (2005), những người đang học tập tại các cơ sở giáo dục
phổ thông (gồm bậc tiểu học và bậc trung học, trong bậc trung học có 2 cấp là cấp
THCS và cấp THPT) và giáo dục nghề nghiệp (gồm các trường trung học chuyên
tâm lý, học sinh THPT thích cái mới, thích khám phá, sáng tạo, giàu óc tưởng tượng,
nhiều ước mơ, hoài bão, có nhu cầu tìm hiểu, nhu cầu tình bạn, tình yêu…Những đặc
điểm này đã tác động rất mạnh đến sự hình thành tư tưởng của các em, khi các em xác
định được niềm tin, lý tưởng thì các em có thể xả thân vì lý tưởng và phấn đấu với
niềm lạc quan, với sức sống mạnh mẽ để đạt được niềm tin và lý tưởng đó. ở các em
không có tính bảo thủ, trì trệ, dễ thích ứng với đường lối đổi mới, rất quan tâm đến
tương lai nên cũng rất quan tâm đến những vấn đề lớn của đất nước, của thời cuộc.
Đây là điều kiện để học sinh THPT xác định được phương hướng tiến thân, lập nghiệp
và xây dựng sự nghiệp cho mình.
Với tư cách là nguồn nhân lực trẻ, đang được chuẩn bị để thực hiện chức năng
của một công dân có học vấn, được quyền tham gia vào các hoạt động lao động, học
tập và các mối quan hệ xã hội, nhân cách của học sinh THPT được hình thành trong
quá trình xã hội hóa và giải quyết các mâu thuẫn. Đó là mâu thuẫn giữa sự phát triển
mạnh mẽ về thể lực, trí lực và những mơ ước nhiều chiều với khả năng thực hiện
những mơ ước đó theo định hướng xác định phù hợp với năng lực và điều kiện vốn có
của bản thân, của gia đình; giữa lượng thông tin lớn về kinh tế, chính trị, xã hội… với
tiềm năng tiếp nhận, xử lý, chọn lọc những thông tin đó; giữa khối lượng lớn những tri
thức phải học ở giai đoạn cuối của các trường phổ thông với những nhu cầu hoạt động
của tuổi trẻ; giữa tính phong phú, đa dạng của nghề nghiệp xã hội, của tri thức với quỹ
thời gian và điều kiện học tập có hạn của học sinh…Quá trình giải quyết những mâu
thuẫn đó khiến cho học sinh THPT phát triển mạnh mẽ về các mặt, nhất là về tình cảm
đạo đức, thẩm mỹ, nhu cầu giao tiếp và xu hướng nghề nghiệp. Đây là thời kỳ của sự
hình thành, ổn định về tính cách để chuẩn bị cho các em tiến dần tới vị trí xã hội của
một người công dân đích thực trong giai đoạn tiếp theo. Điểm nổi bật trong nhân cách
của học sinh THPT là sự tự ý thức, tự khẳng định mình về mặt sinh học, biết nhìn nhận
và suy nghĩ về hành vi của mình so với chuẩn mực của tập thể, biết đánh giá cái đúng
sai trong hành vi của mình và những cá nhân khác. Tuy nhiên sự đánh giá đó thường
bị thiên lệch, hoặc đề cao quá mức bản thân dẫn tới sự kiêu căng, hoặc lý tưởng hóa
người khác một cách quá mức dẫn tới mặc cảm tự ty với chính mình. Làm cho các em
THPT phải trải qua là những điều kiện khách quan ràng buộc các em vào hoạt động học
tập. Như vậy, hoạt động của học sinh THPT là quá trình nhằm đạt tới mục đích hoàn thiện
kiến thức phổ thông, chuẩn bị cho việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp ở mức
cao hơn. Điều này đòi hỏi ở các em tính tự lập, chủ động, hoạt động lý trí của bản thân và
cách nhìn đúng đắn hơn những giá trị xã hội và những gì vốn có của cá nhân. Do đó, đội
ngũ nhà giáo cần hiểu rõ hoạt động đặc trưng của học sinh ở cấp học này để có thể định
hướng cho hoạt động đó theo mục tiêu đã xác định.
Từ những phân tích trên có thể hiểu: học sinh THPT là lứa tuổi chuyển tiếp từ
trẻ em sang người lớn, đó là lứa tuổi nở rộ sức mạnh thể chất, tinh thần và trí tuệ, lứa
tuổi với những hoạt động đặc trưng để hình thành nhân cách và phẩm chất của một
công dân, hình thành thế giới quan và lý tưởng, là lứa tuổi luôn luôn tự tìm hiểu bản
thân mình và tìm hiểu người khác, lứa tuổi tự khẳng định và tìm cách xác định vị trí,
vai trò của mình trong xã hội.
1.1.2.2. Vai trò của học sinh trung học phổ thông
Nếu con người là nguồn lực quý giá nhất của sự phát triển xã hội thì học sinh
THPT là bộ phận kế cận nguồn lực ấy. Sinh lực của một dân tộc, một quốc gia thể hiện
ở chính lực lượng này, trong tương lai các em sẽ là lực lượng có khả năng “dời non lấp
biển”, là “rường cột của nước nhà”, là “mùa xuân của nhân loại”. Là những thanh
niên, lực lượng giàu tiềm năng phát triển, học sinh THPT chính là nguồn tài sản vô giá
của đất nước hôm nay và mai sau.
Trước đây trong lý luận về con người, chủ nghĩa Mác-Lênin rất quan tâm đến thanh
niên, đánh giá cao vai trò của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng thế giới. C.Mác đã hình
dung thấy “tương lai của cả loài người phụ thuộc vào thế hệ công nhân đang lớn”, còn
Lênin đã chỉ rõ vai trò của thanh niên khi ông khẳng định nhiệm vụ của nhà trường là “phải
đào tạo được một thế hệ có khả năng thực hiện vĩnh viễn CNCS”[22, tr.9]. Trong tư tưởng
của Hồ Chí Minh, vai trò của thanh niên trong đó có học sinh THPT luôn gắn với vận mệnh
của dân tộc. Sẽ không thể giải phóng được dân tộc khỏi cuộc sống nô lệ nếu không thức
tỉnh được thế hệ trẻ. Người viết: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất
nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”[32, tr.173]. Trong thư gửi học
xã hội phát triển.
Tóm lại, học sinh THPT với độ tuổi phát triển mạnh mẽ về thể chất, trí tuệ và
tâm hồn, họ là lực lượng có khả năng nhận thức nhanh, trí nhớ tốt, độ nhạy cảm cao để
tiếp nhận những tri thức khoa học cơ bản, liên tục, hệ thống từ nhiều nguồn khác nhau.
Họ là một bộ phận của nguồn nhân lực, có vai trò quan trọng đối với tương lai của
nước nhà, được GD-ĐT theo yêu cầu của quá trình đào tạo nguồn nhân lực, họ sẽ trở
thành những con người toàn diện, có tài, có đức, có sức khỏe, có năng lực, thẩm mỹ và
nghề nghiệp, là nguồn nhân lực đảm bảo cho sự thành công của công cuộc đổi mới đất
nước hiện nay.
1.2. Vai trò của đội ngũ nhà giáo trong việc đào tạo nguồn nhân lực ở các
trường trung học phổ thông
1.2.1. Nhà giáo và đội ngũ nhà giáo trong các trường trung học phổ thông
1.2.1.1. Nhà giáo và đội ngũ nhà giáo
Giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội, đã xuất hiện và tồn tại cùng với
sự xuất hiện và tồn tại của xã hội loài người. Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là chuẩn bị
cho thế hệ trẻ đi vào cuộc sống trên cơ sở tiếp thu, kế thừa và phát triển những kinh
nghiệm, tri thức mà nhân loại đã tích lũy được. Nhiệm vụ đặc biệt đó từ thời cổ đại
đến nay đã trở thành một chức năng chuyên biệt và được giao cho các nhà giáo.
Trong đời sống tinh thần của dân tộc ta, nhà giáo là một chức danh xã hội được
xếp đầu tiên và không hàm nghĩa giới tính. Theo từ điển Tiếng Việt, nhà giáo là
“Những người làm nghề dạy học”[57, tr.516]. Nếu hiểu như vậy thì có thể nói rằng đất
nước ta là đất nước của nghề dạy học, vì ở nước ta cứ biết chữ là có thể đi dạy học,
điều này thường thấy và rất phổ biến ở thời kỳ phong kiến và thời kỳ Pháp thuộc. Thời
phong kiến, những người làm nghề dạy học gọi là thầy giáo (Về danh hiệu được gọi là
“thầy đồ” – thời nhà Lê gọi tắt là “sinh đồ”, thời nhà Nguyễn là “tú tài”). Đây là những
người rất được coi trọng, được xếp ở vị trí rất cao, vị trí thứ hai trong ba bậc “quân, sư,
phụ”, trước cả cha mẹ. Nhiều gia đình nghề dạy học là một nghề truyền thống: cả ông
cháu, cha con đều nối nghiệp làm thầy, có người thi đỗ cao nhưng không chịu làm
quan chỉ nhất quyết làm thầy giáo, có người làm quan rồi cũng rời bỏ quan trường để
nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác” [21, tr.56].
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục
trong hệ thống giáo dục nói chung được gọi là nhà giáo. Những nhà giáo ở bậc đại học
được gọi là giảng viên, những nhà giáo ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục nghề
nghiệp, giáo dục phổ thông trong đó có giáo dục THPT được gọi là giáo viên. Như
vậy, thầy giáo, giảng viên hay giáo viên chính là nhà giáo (từ đây trong luận văn
những thuật ngữ tương đương trên được dùng với nghĩa như nhau).
Về “ Đội ngũ nhà giáo”, thuật ngữ “đội ngũ” được hiểu chung nhất là tập hợp
một số đông người cùng đặc điểm, chức năng hoặc nghề nghiệp được tổ chức thành
một lực lượng xã hội. Do đó, đội ngũ nhà giáo là tập hợp những người làm nghề dạy
học hay những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo
dục khác, được tổ chức thành lực lượng và hoạt động theo mục đích của ngành GD-
ĐT đề ra.
Hai khái niệm “Nhà giáo” và “Đội ngũ nhà giáo” có mối liên hệ với nhau
nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Trước hết cả hai khái niệm đều phản ánh những
mặt, những khía cạnh liên quan đến cùng một đối tượng là những người làm nghề dạy
học. Song, khái niệm “Nhà giáo” phản ánh mối liên hệ và thuộc tính bản chất, phổ
biến của những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường với tính
cách là những cá nhân nói chung, từ đó giúp chúng ta phân biệt được một người nào
đó trong xã hội có phải là nhà giáo hay không. Còn khái niệm “Đội ngũ nhà giáo”
phản ánh mối liên hệ, thuộc tính bản chất, phổ biến về sức mạnh, vai trò của nhà giáo
với tính cách là cộng đồng được tổ chức thành lực lượng để thực hiện các hoạt động có
mục đích. Khái niệm này giúp chúng ta nhận biết và phân biệt về quy mô, các hình
thức tồn tại, vận động, biến đổi, cơ chế sắp xếp trong một tổ chức nhất định và ở
những thời điểm cụ thể. Cả hai khái niệm đều là phương tiện giúp chúng ta nhận định,
đánh giá tương đối toàn diện và chính xác vai trò của “Nhà giáo” với cả tính cách cá
nhân và cộng đồng để từ đó có những giải pháp nâng cao vai trò của lực lượng này
trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực.
1.1.2.2. Nhà giáo trong các trường trung học phổ thông, một số đặc điểm và
tiểu học, có học vấn ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật
và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, thì mục tiêu của cấp THPT là giúp
cho học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn
thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và
hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng
phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào
cuộc sống lao động [21, tr.21-22].
Như vậy, THPT là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông, là thời đoạn xác
định chất lượng, hiệu quả của giáo dục phổ thông và góp phần quyết định đến chất
lượng của giáo dục đại học sau này. Từ cấp học này sẽ cho ra đời một lực lượng lao
động có văn hóa, có điều kiện học hỏi nâng cao tay nghề và cũng là cơ sở để lựa chọn
và đào tạo đội ngũ trí thức cho đất nước. Chất lượng và hiệu quả của giáo dục THPT
sẽ là trình độ đích thực của nền dân trí, là tiềm năng của nguồn nhân lực nước ta. Lực
lượng chủ chốt góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu của giáo dục THPT chính là đội
ngũ nhà giáo ở các trường THPT. ở nước ta, đội ngũ nhà giáo THPT được đào tạo để
làm công tác giảng dạy, giáo dục cho các em học sinh lớp 10, 11, 12, với nhiệm vụ
truyền thụ tri thức và uốn nắn học sinh theo những chuẩn mực đạo đức tiến bộ, đội
ngũ nhà giáo có tác động nhất định (có khi là quyết định) tới tương lai của các em: sự
lựa chọn công việc, tạo động cơ phấn đấu, khắc sâu trong các em ý thức thực hiện các
nghĩa vụ trong cuộc sống, giúp các em tiếp tục học lên hoặc bước vào cuộc sống lao
động.
Từ sự phân tích trên có thể đưa ra nhận định: Đội ngũ nhà giáo THPT là một bộ phận
của đội ngũ nhà giáo Việt Nam, đó là những người làm công tác giảng dạy, giáo dục ở các
trường THPT, có chức năng chủ yếu là trực tiếp truyền bá tri thức văn hóa, rèn luyện nhân
cách cho học sinh THPT nhằm chuẩn bị cho các em đi tiếp tục học tập ở cấp đại học, cao
đẳng hoặc đi vào cuộc sống lao động sản xuất, cuộc sống xã hội, làm nghĩa vụ công dân với
tư cách là bộ phận của nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong giai
đoạn hiện nay.