Đại học Quốc gia Hà Nội
Trờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Phạm Thị Thu Hồng
Nâng cao vai trò của đội ngũ trí thức
tỉnh An Giang trong công cuộc đổi mới hiện nay
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Triết học Hà Nội -1999Đại học Quốc gia Hà Nội
Trờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Phạm Thị Thu Hồng
Khôi.
Các số liệu, kết quả nêu ra trong luận văn là trung
thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc
xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày 4 tháng 10 năm 1999
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thu Hồng
Bảng các ký hiệu viết tắt
ĐH: Đại học
CĐ: Cao đẳng
Nxb: Nhà xuất bản
TS: Tiến sĩ
Th.S: Thạc sĩ
Mục lục Trang
Mở đầu
1
Chơng 1. Trí thức và vai trò của trí thức nớc ta trong sự
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ,
tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội. Vì thế, lao động "chất xám" - lao
động sáng tạo khoa học của ngời trí thức, có vị trí quan trọng đặc biệt đối với sự
phát triển đi lên của mỗi quốc gia, dân tộc.
Công cuộc đổi mới ở nớc ta, sau hơn 10 năm, đã đạt đợc những thành
tựu to lớn đa đất nớc ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định
chính trị, cải thiện đời sống nhân dân, mở rộng quan hệ đối ngoại..., có thêm
nhiều thế và lực tiếp tục đi lên. Để đạt đợc những thành tựu này, có những nỗ
lực lớn lao của toàn dân. Trong đó, có sự góp phần xứng đáng của đội ngũ trí
thức nớc ta.
Khi đất nớc đang bớc vào giai đoạn mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, vai trò lao động sáng tạo của đội ngũ trí thức ngày càng đợc xã hội
ghi nhận, không chỉ trong phạm vi toàn quốc, mà còn ở cả các địa phơng.
An Giang là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, có những tiềm
năng to lớn về đất đai, nguồn lợi tự nhiên, đồng thời còn là mảnh đất có truyền
thống yêu nớc và cách mạng. Những năm qua, Đảng bộ nhân dân địa phơng,
trong đó có lực lợng trí thức, đã phát huy thế mạnh của mình và khắc phục
những khó khăn để từng bớc đi lên hoà nhập với sự phát triển của đất nớc.
Tuy nhiên, những thành tựu đạt đợc của An Giang mới chỉ là bớc đầu.
Giai đoạn tới của tỉnh đến năm 2010, là cả một sự nghiệp đã đợc xây dựng trong
đề án "Qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang thời kỳ 1996
- 2010" mà phơng hớng và nhiệm vụ cơ bản đợc Nghị quyết Đại hội tỉnh
Đảng bộ (lần VI), năm 1996, nêu ra. Để đa sự nghiệp đó đến thành công, phải
1
có sự cố gắng nhân dân lao động nói chung và của đội ngũ trí thức An Giang nói
riêng.
Cũng trớc tình hình đó, nhận thấy, trí thức An Giang, bên cạnh những u
điểm, đã bộc lộ không ít những tồn tại và hạn chế. Vì vậy, phát huy đợc vai trò
Ngoài ra có khá nhiều bài viết trên báo và tạp chí Trung ơng và cả ở tỉnh
An Giang bàn về trí thức và những vấn đề liên quan.
Các công trình và bài viết trên cha có điều kiện hoặc không có chủ đích
bàn riêng, nhất là ở một hình thức là luận văn trên ĐH về những vấn đề của trí
thức An Giang trong công cuộc đổi mới ở tỉnh hiện nay. Tuy nhiên, đây là những
tài liệu tham khảo quí giá giúp tác giả luận văn trong khi thực hiện đề tài của
mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Luận văn làm rõ thêm về đội ngũ trí thức An Giang và góp
phần tác động để lực lợng này thực hiện tốt hơn nữa vai trò quan trọng của mình
trong sự nghiệp đổi mới ở tỉnh.
- Để đạt đợc mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
Làm rõ những khái niệm cơ bản (trí thức, lao động sáng tạo của trí
thức, trí thức nớc ta...) làm cơ sở để trình bày những nội dung cụ thể tiếp
theo.
Trình bày và phân tích rõ thực trạng, cũng nh những đóng góp quan trọng
của trí thức An Giang đối với sự phát triển của tỉnh.
3
Xác định đợc phơng hớng, mục tiêu phát triển mới của tỉnh, đồng thời
là những nhiệm vụ mới tơng ứng của trí thức An Giang.
Sau nữa, tập trung nêu lên và phân tích những giải pháp chủ yếu nhằm tiếp
tục phát huy khả năng của trí thức An Giang vì sự thắng lợi của công cuộc đổi
mới tới đây ở tỉnh.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đội ngũ trí thức An Giang là sản phẩm của cả một quá trình lịch sử, nhng
ở đây luận văn chú ý hơn cả đến lực lợng này trong những năm đổi mới của đất
nớc, nhất là từ sau Đại hội VIII lại đây.
Trí thức An Giang, mà luận văn bàn đến, là cả một đội ngũ trí thức với
những con ngời sinh trởng ở An Giang hoặc những vùng khác trên đất nớc,
giai đoạn hiện nay.
Chơng 3: Bớc phát triển mới của tỉnh An Giang từ 1996 - 2010 và
những giải pháp chủ yếu để nâng cao hơn nữa vai trò đội ngũ trí thức của tỉnh.
5
Chơng 1
Trí thức và vai trò của trí thức
trong sự nghiệp đổi mới
1.1. Trí thức và lao động sáng tạo của trí thức
1.1.1. Khái niệm trí thức
Khái niệm "trí thức"đợc dùng ở nhiều nớc trên thế giới và có nguồn gốc
từ tiếng La tinh: Intelligentia (Intelligentia nghĩa là thông minh, có trí tuệ, hiểu
biết, có suy nghĩ). Khái niệm này, trở nên thông dụng từ những năm nửa sau thế
kỷ XIX, để chỉ những ngời có học thức, học vấn cao, chuyên lao động trí óc.
Tuy nhiên, tuỳ từng giai đoạn lịch sử cụ thể trong quá trình phát triển của
nhân loại, của mỗi quốc gia và dới những góc độ nghiên cứu khác nhau, mà có
nhiều định nghĩa về trí thức. Trong cuốn từ điển Triết học đã giải thích "Trí thức
là tập đoàn xã hội, gồm những ngời làm nghề lao động trí óc. Giới trí thức bao
gồm kỹ s, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật s, nghệ sĩ, thầy giáo và ngời làm
công tác khoa học và là một bộ phận viên chức" [4]. Từ điển Chủ nghĩa cộng sản
khoa học viết: "Trí thức là một nhóm xã hội bao gồm những ngời chuyên làm
nghề lao động trí óc phức tạp và có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao
động đó" [46, 15]. Lênin khi nói về trí thức, Ngời khái quát: "Trí thức là tất cả
những ngời có học thức, đại diện cho những ngời tự do nói chung, đại diện cho
lao động trí óc (brain worker nh ngời Anh vẫn nói) khác với những đại diện
cho lao động chân tay" [29].
Nhìn chung, trong nhiều định nghĩa đã cho thấy trí thức có một số đặc
trng cơ bản nh sau: Là một tầng lớp xã hội; lao động trí óc phức tạp; có học
vấn và chuyên môn cao; tạo ra những tri thức mới, tuyên truyền và ứng dụng
khoa học để đẩy nhanh sự phát triển của xã hội.
còn tham gia lao động sáng tạo (nghiên cứu khoa học, giảng dạy, tổng kết lý
luận, nghiên cứu ứng dụng khoa học...) thì đó chính là sự biểu hiện của xu hớng
"viên chức trí thức hoá", là sự xích lại gần nhau giữa các bộ phận lao động trong
xã hội hiện đại.
Trên thực tế, có một số ngời tuy không có bằng cấp cao, nhng nhờ chịu
khó học hỏi trong sách báo, trong thực tiễn lao động, có trí thông minh và tài
năng đặc biệt, nên đã có những phát minh khoa học, những tác phẩm văn học,
nghệ thuật có giá trị lớn. Những ngời đó xứng đáng là những trí thức thực thụ.
Trong nền sản xuất xã hội, tuỳ theo mối quan hệ của các giai tầng với các
t liệu sản xuất, vai trò tổ chức xã hội đối với lao động mà các giai cấp, các tầng
lớp xã hội có vị trí, vai trò khác nhau. Trí thức không có quan hệ riêng và trực
tiếp với sở hữu t liệu sản xuất. Cho nên, trí thức không phải là một giai cấp mà
là một tầng lớp xã hội. Mặc dù vậy, tầng lớp này không phải là "siêu giai cấp",
"đứng trên giai cấp", là "trọng tài của các giai cấp", mà chỉ là một tầng lớp luôn
"phụ thuộc" vào một giai cấp - giai cấp thống trị của nền sản xuất ấy. Vì thế
Lênin chỉ rõ: "Nếu không nhập cục với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là con số
không" [29]. Thực tế lịch sử cũng đã chứng minh rằng: trong các xã hội có giai
cấp, giai cấp thống trị luôn luôn chú trọng đến việc đào tạo, bồi dỡng, sử dụng
đội ngũ trí thức để phục vụ cho quyền thống trị, lợi ích thiết thực của giai cấp
mình; và bản thân tầng lớp trí thức chỉ có thể tồn tại, phát triển gắn liền với việc
phục vụ lợi ích cho giai cấp thống trị.
Trong chủ nghĩa xã hội, tầng lớp trí thức mới đợc hình thành gắn liền với
sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc. Đội ngũ ấy có trình độ chuyên môn cao,
đợc trang bị thế giới quan mác xít và phơng pháp luận khoa học, có khả năng
đóng góp to lớn cho phát triển khoa học của đất nớc và tiến bộ của nhân loại.
Dới sự lãnh đạo của Đảng, sự liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp
8
nông dân và tầng lớp trí thức là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc cho nhà nớc
xã hội chủ nghĩa và toàn bộ công cuộc xây dựng xã hội mới.
hội. Tính hữu ích là mục đích đạt tới của lao động sáng tạo mà ngời trí thức
mong muốn. Cái mới phải phục vụ nhu cầu phát triển ngày càng cao của đời sống
xã hội. Cái mới phải hớng tới "chân, thiện, mỹ" của nhân loại thì ngời trí thức
mới là ngời lao động chân chính.
Kết quả lao động sáng tạo khoa học phải đợc phổ biến để ứng dụng trong
thực tiễn, nhằm nâng cao chất lợng cuộc sống thì sản phẩm ấy mới có giá trị
đích thực. Thực tiễn vừa là cơ sở cho ngời trí thức nhận thức đối tợng, để có cái
mới trong sáng tạo. Ngợc lại, kết quả lao động sáng tạo quay trở lại phục vụ
thực tiễn làm cho đời sống xã hội ngày càng thêm phong phú. Vì vậy, cái mới
phải đợc phổ biến và ứng dụng vào thực tiễn nhằm phục vụ nhu cầu của con
ngời thì mới đạt tới giá trị xã hội.
Hai là, lao động sáng tạo đòi hỏi ngời trí thức phải có kiến thức khoa học
cơ bản, và kiến thức chuyên ngành sâu, đồng thời phải có phơng pháp t duy
khoa học thích hợp. Đây là những nhân tố có tính chất quyết định cho quá trình
lao động để giới trí thức tạo ra những tri thức mới có nội dung với mức độ cao về
khoa học. Kiến thức khoa học biểu hiện ở trình độ học vấn, còn phơng pháp
khoa học là phơng tiện để ngời trí thức đạt tới mục tiêu sáng tạo khoa học, mà
chủ yếu là nói đến kiểu t duy khoa học, t duy logíc. Có những phơng pháp có
tính phổ biến cho các ngành khoa học, có những phơng pháp đợc áp dụng
riêng cho từng ngành khoa học hoặc trong từng lĩnh vực khoa học khác nhau.
Phơng pháp là công cụ để sáng tạo khoa học; ngợc lại, trong quá trình sáng tạo
10
ngời trí thức cũng có thể phát minh ra những phơng pháp khoa học mới. Lúc
này, phơng pháp trở thành nội dung sáng tạo, thúc đẩy sáng tạo cao hơn.
Liên quan đến phơng pháp khoa học là khả năng dự báo tơng lai của trí
thức. Ngời trí thức dự báo tơng lai dựa trên cơ sở khoa học về qui luật vận
động của lịch sử để nhìn nhận quá trình phát triển sắp tới của xã hội. Sự phát
triển của xã hội vận động theo qui luật và phải trải qua các giai đoạn lịch sử nhất
định, theo chiều hớng đi lên dựa vào nhau, kế thừa nhau. Trong tiến trình phát
thực tế, học hỏi, tìm hiểu...), qua đó mà thổi bừng lên nhiệt huyết sáng tạo của
mình.
Bốn là, sản phẩm của lao động sáng tạo bảo đảm cái mới trên cơ sở mang
tính kế thừa nhng không lặp lại. Cái mới trong sáng tạo khoa học không phải là
những cái gì thật khác thờng, "lạ lẫm". Nó đợc phát kiến dựa trên những tri
thức mà nhân loại đã tạo ra. Những tri thức này làm nền cho quá trình sáng tạo,
lúc đó, tri thức cũ là cơ sở phơng pháp luận gián tiếp hoà vào tri thức mới. Sự kế
thừa đó làm cho tri thức của nhân loại nh một dòng chảy liên tục và nhận thức
của con ngời phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Cái mới mang
tính kế thừa nhng không lặp lại cái cũ. Do vậy những sản phẩm đa dạng của lao
động trí óc mang tính duy nhất: không ai giống ai, không công trình nào giống
công trình nào (dù cùng một chủ đề và của chính một tác giả).
Sau nữa, lao động sáng tạo của ngời trí thức mang tính độc lập cá nhân
cao. Khi đã có kế hoạch làm việc, khi đã nhận nhiệm vụ đợc giao..., thì hoạt
động chủ yếu của ngời trí thức là vận động t duy của mình để tìm ra cách tối
u nhằm đạt kết quả cao nhất. Thời gian làm việc của trí thức không "gò bó" vào
12
những lúc nhất định; và không gian làm việc cũng vậy, không hẳn là một nơi (có
thể ở cơ quan, ở nhà, ở nơi liên kết...) [30].
Trên đây là những đặc điểm cơ bản của lao động sáng tạo. Qua đó, một
mặt để phân biệt kiểu làm việc của ngời trí thức với hoạt động của các ngành xã
hội khác; mặt khác quan trọng hơn, để lu ý công tác lãnh đạo và quản lý trí thức
cần xác thực phù hợp để đem lại hiệu quả nhiều hơn cho lao động sáng tạo khoa
học của đội ngũ này.
1.2. Trí thức nớc ta trong sự nghiệp đổi mới
1.2.1. Thực trạng trí thức nớc ta
Do hoàn cảnh lịch sử và truyền thống dân tộc, đội ngũ trí thức nớc ta có
quá trình lịch sử hình thành và phát triển gắn liền với truyền thống dựng nớc và
giữ nớc, truyền thống hiếu học của cả dân tộc. Trong suốt 10 thế kỷ (1075 -
nớc hoặc ở Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa cũ). Phần ít hơn đợc đào tạo
trong các trờng ĐH ở miền Nam trớc ngày 30/4 và các nớc t bản chủ nghĩa.
Gần đây, nớc ta mở rộng giao lu quốc tế, số trí thức đợc đào tạo ở nớc
ngoài, nhất là các nớc t bản chủ nghĩa phát triển có xu hớng tăng nhanh. Một
số trí thức đợc đào tạo và sống nhiều năm ở n
ớc ngoài cũng đã về tham gia xây
dựng đất nớc.
Nguồn đào tạo trí thức từ nhiều thời kỳ, nhiều quốc gia có chế độ chính trị
- xã hội khác nhau, đa lại sự đa dạng trong đội ngũ, phong phú trong lao động
sáng tạo, nhng cũng đem lại những khó khăn nhất định trong sự hoà hợp chung
(về trình độ, phơng pháp sáng tạo, học thuật, tâm lý, nhận thức chính trị - xã
hội...).
14
Trong tổng số trí thức hiện có, khoảng hơn 120.000 có trình độ TS, PTS và
Th.S, chiếm tỉ lệ 11%. Trong các viện nghiên cứu, các trờng ĐH tỉ lệ này là
14%. Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nớc có những chính sách đào tạo trong nớc
nhằm tăng tỉ lệ cán bộ trình độ cao, nhng vẫn còn chậm. Yêu cầu của công
nghiệp hoá, hiện đại hoá rất cần có nhiều trí thức trình độ cao trên tất cả các lĩnh
vực khoa học, đó là một đòi hỏi khách quan. Hiện nay, nớc ta có trên 100 cơ sở
đào tạo trên ĐH. Những năm qua đã đào tạo đợc khá nhiều trí thức trình độ TS,
Th.S nhng nhìn về chất lợng thì còn hạn chế và cha đồng đều.
Trí thức nói chung, trí thức trình độ cao nói riêng, có sự phân bố không
đều giữa các ngành khoa học. Trí thức các ngành khoa học kỹ thuật số lợng khá
đông; trong khi đó, trí thức các ngành khoa học công nghệ cao, khoa học quản lý,
khoa học xã hội và nhân văn vẫn thiếu và còn nhiều hạn chế. Ta cha có những
nhà khoa học giỏi về quản lý, tài chính, ngân hàng... Đặc biệt, còn thiếu nhiều
cán bộ am hiểu kỹ thuật công nghệ cao, cán bộ nghiên cứu lý luận; cha có
những nhà khoa học tầm cỡ có khả năng chủ trì các công trình khoa học lớn để lý
giải một cách thuyết phục những vấn đề cơ bản của thời đại và con đờng đi lên
dân tộc anh em thì đã có 53 dân tộc ít ngời, chiếm tỉ lệ 13% dân c và 3/4 diện
tích cả nớc. Đây là khu vực có tiềm năng kinh tế lớn, có tầm quan trọng đặc biệt
bảo vệ an ninh, quốc phòng của Tổ quốc. Với số lợng trí thức ít ỏi nh hiện nay
thì phát triển kinh tế ở vùng dân tộc để theo kịp các khu vực khác quả là rất khó
khăn.
Nữ trí thức cũng còn ít so với tổng số trí thức đã đợc đào tạo. Trong tổng
số ngời có trình độ CĐ, ĐH nữ chiếm 38%, trong số ngời có trình độ trên ĐH,
16
nữ chiếm 15%. Trí thức nữ hoạt động đông nhất ở các ngành giáo dục, y tế, văn
nghệ... Đã có nhiều nhà khoa học nữ đóng góp lớn trong khoa học, nhiều ngời
đã làm tốt công tác lãnh đạo, chủ trì các công trình khoa học cấp Nhà nớc. Tuy
nhiên, trong hoạt động khoa học, nữ trí thức nớc ta còn gặp nhiều khó khăn từ
gia đình và xã hội. Nữ trí thức có trình độ cao vẫn còn ít và cha có những
chuyên gia giỏi có khả năng đảm đơng những dự án, những công trình nghiên
cứu khoa học lớn trong nớc cũng nh quốc tế.
Phần lớn trí thức nớc ta có tâm huyết với Đảng, với nhân dân, mong muốn
đem tài năng của mình phục vụ cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nớc. Ngày
nay, trí thức và lao động trí tuệ của họ đang biến đổi theo chiều hớng tích cực.
Họ năng động, sáng tạo, thực tế và hiệu quả hơn. Tuy vậy, trong xu thế phát triển
của thời đại, với chính sách mở rộng giao lu quốc tế của Đảng, một số trí thức
biểu hiện sự hụt hẫng về kiến thức và năng lực thực hành do đợc đào tạo từ
chuyên ngành hẹp, thiếu trình độ kiến thức chung, còn yếu về ngoại ngữ, tin học.
Nhiều trí thức thiếu những kiến thức sâu về khoa học và công nghệ hiện đại vì
cha có điều kiện tiếp cận với những thành tựu khoa học mới. Có những trí thức
thiếu hiểu biết thực tiễn, cha thoát khỏi tâm lý thụ động của thời kỳ bao cấp,
thiếu năng động trong cơ chế kinh tế mới. Trớc những biến động phức tạp của
thế giới, những khó khăn ở trong nớc, một số ít trí thức hoang mang, dao động,
giảm sút niềm tin vào chủ nghĩa xã hội [47].
Trí thức nớc ta đang có chiều hớng phát triển nhanh. Hiện nay đã có trên
những trí thức có trình độ cao, gắn bó với nghề nghiệp nhng điều kiện làm việc,
nghiên cứu khoa học, thiếu trang thiết bị, thiếu thông tin khoa học, thiếu kinh phí,
dẫn đến kết quả nghiên cứu, sáng tạo khoa học ch
a cao.
18
Một bộ phận trí thức khác rất cần thiết cho công cuộc xây dựng đất nớc là
trí thức Việt kiều. Với hơn 300.000 trong số hơn 2.500.000 ngời của động đồng
Việt Nam sống ở nớc ngoài, đang tiếp cận với khoa học kỹ thuật hiện đại, với
qui trình công nghệ mới. Đây là một nguồn "chất xám" lớn, rất cần cho công
cuộc xây dựng đất nớc, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Do vậy, Đảng và Nhà nớc cần phải hết sức quan tâm để có cơ chế, chính sách
phù hợp hơn nữa khuyến khích và tạo điều kiện cho trí thức Việt kiều có thể tham
gia vào công cuộc kiến thiết nớc nhà.
Nhìn chung, so với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nớc, đội
ngũ trí thức nớc ta còn nhiều bất cập, cả về số lợng, cơ cấu ngành nghề và trình
độ. Cho nên, đội ngũ trí thức nớc ta cha thật sự phát huy hết vai trò của mình
trong sự nghiệp đổi mới. Vì vậy, trong những năm qua Đảng đã có thêm nhiều
chính sách nhằm phát huy vai trò to lớn của trí thức nớc ta. Coi trọng và tin
tởng vào trí thức "đó là quan điểm nhất quán trớc sau nh một của Đảng ta"
[32, 13].
1.2.2. Vai trò của trí thức nớc ta trong sự nghiệp đổi mới
Nghị quyết Đại hội VII đã khẳng định: vai trò và vị trí quan trọng của tầng
lớp trí thức, khẳng định ý nghĩa chiến lợc của khối liên minh công nhân, nông
dân và trí thức trong sự nghiệp đổi mới đất nớc theo định hớng xã hội chủ
nghĩa. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII đã xác định mục tiêu trong những
năm tới của cách mạng Việt Nam là: Đa công cuộc đổi mới lên tầm cao mới,
đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà nhiệm vụ trung tâm là công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc vì mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công
bằng và văn minh, vững bớc đi lên chủ nghĩa xã hội.
20