Nâng cao vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với sự nghiệp CHN, HĐH ở tỉnh Bắc ninh - Pdf 12

Lời mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ
quá độ tiến lên CNXH ở nớc ta. Tất cả các ngành, các địa phơng đều phải tập
trung vào sự nghiệp đó. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là không thể
tách rời vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò tổ chức quản lý của chính quyền
Nhà nớc.
Tỉnh Bắc Ninh có vị trí thuận lợi về địa lý, nằm trong vùng tam giác kinh
tế quan trọng nối các trung tâm kinh tế, văn hoá, du lịch, thơng mại lớn giữa Nà
Nội Hải Phòng Quảng Ninh và nhiều tỉnh phía Bắc
Theo nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVII đã xác định:
Khai thác và phát huy hơn nữa tiềm năng, thế mạnh của địa phơng, huy
động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tăng cờng sức mạnh đoàn kết toàn
dân, đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm tăng trởng kinh tế với tốc độ cao và bền vững
hơn. Phấn đấu đến năm 2015 là tỉnh phát triển khá trong cả nớc, v cơ bản trở
thành tỉnh công nghiệp theo hớng hiện đại, tạo tiền đề đến năm 2020 là một
trong những tỉnh dẫn đầu trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Để đạt đợc mục tiêu trên đòi hỏi phải có sự phấn đấu của toàn đảng, toàn
dân, trong đó đặc biệt phải phát huy vai trò của chính quyền địa phơng. Trong
thời gian qua dới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền địa phơng đã có vai trò
tích cực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tuy nhiên cũng còn
nhiều vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết nhằm nâng cao vai trò của
chính quyền địa phơng để thực hiện mục tiêu Đại hội Đảng bộ đề ra. Với tinh
thần đó, để góp phần nhỏ bé của mình vào vấn đề đó tôi chọn đề tài:
Nâng cao vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với sự nghiệp CNH,
HĐH ở tỉnh Bắc Ninh".
2. Tình hình nghiên cứu.
1
Xung quanh vấn đề CNH HĐH, vai trò của chính quyền cấp tỉnh đã có
những công trình nghiên cứu có liên quan với những hình thức, mức độ khác

- Làm rõ vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.
2
- Phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra về vai trò của chính quyền
cấp tỉnh đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh.
- Đề ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của chính quyền cấp tỉnh
đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là vai trò của chính quyền
cấp tỉnh đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên đìa bàn tỉnh Bắc
Ninh.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu:
Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, T tởng Hồ Chí
Minh và quan điểm của Đảng ta về vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với sự
nghiệp CNH, HĐH đất nớc.
Luận văn sử dụng phơng pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử, phơng pháp lôgíc lịch sử, phơng pháp tiếp cận hệ
thống, phơng pháp trừu tợng hoá, phơng pháp điều tra, khảo sát thực tiễn, phân
tích xử lý số liệu.v.v
6. Đóng góp của luận văn.
- Luận văn làm rõ vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với sự nghiệp
CNH, HĐH.
- Góp phần làm rõ thực trạng về vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với
công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở tỉnh Bắc Ninh.
- Bớc đầu đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh.
7. Kết cấu luận văn:
Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục danh mục tài liệu tham khảo luận văn
gồm 3 chơng:
Chơng 1: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và vai trò của chính quyền cấp

nớc ta từ một nớc nông nghiệp dựa trên sức lao động thủ công là chính quá độ
lên CNXH.
Sự nghiệp CNH cũng đồng thời là quá trình mở rộng quan hệ kinh tế quốc
tế.
4
Nh vậy, sự nghiệp CNH vừa là quá trình kinh tế - kỹ thuật, vừa là quá trình
kinh tế - xã hội. Việc thực hiện thành công CNH sẽ xây dựng đợc một nền kinh
tế công nghiệp có trình độ phát triển cao, khoa học công nghệ tiên tiến, cơ cấu
kinh tế hợp lý. Điều đó dẫn đến sự biến đổi về cơ cấu xã hội - dân c rất khác so
với nền kinh tế nông nghiệp. Đó là xuất hiện nhiều khu công nghiệp lớn, nhiều
thành phố lớn, ngời dân sống rất tập trung, trong đó dân c công nghiệp và lc
lng lao động trong công nghiệp chiếm đa số; có cơ cấu giai cấp rất khác so
với trớc; trình độ của ngời lao động cũng nh dân trí và chất lợng cuộc sống của
nhân dân nâng cao; làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm của ngời dân.
Qua đó có thể hiểu khái quát CNH là quá trình xây dựng một nền công
nghiệp tiên tiến, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho công cuộc xây dựng và phát
triển đất nớc, nhằm chuyển một xã hội nông nghiệp với lao động thủ công là
chủ yếu sang một xã hội công nghiệp với lao động bằng máy móc với công
nghệ, phơng tiện và phơng pháp hiện đại trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã
hội, tạo ra năng suất lao động và nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội cao.
CNH có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội:
- Đây là quá trình phát triển lực lợng sản xuất, tăng năng suất lao động,
nâng cao chất lợng sản phẩm, do đó làm tăng tính cạnh tranh của hàng hoá trên
thị trờng, góp phần rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các nớc đang phát triển
với các nớc phát triển.
- Làm củng cố và tăng cờng vai trò kinh tế của Nhà nớc, nâng cao khả năng
tích luỹ của nền kinh tế, từ đó thúc đẩy nhanh tăng trởng và phát triển kinh tế,
tạo công ăn việc làm, khuyến khích sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi cá
nhân.
- Tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đủ

tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công
nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao". Quan niệm này nói lên phạm vi và
vai trò đặc biệt quan trọng của CNH, HĐH trong phát triển kinh tế xã hội, gắn
liền đợc hai phạm trù, không thể tách rời là CNH và HĐH. Có thể thấy rằng,
6
quan niệm về CNH này phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và bối cảnh
thế giới ngày nay. Đó là nhấn mạnh hơn yếu tố khoa học - công nghệ bằng việc
gắn CNH với HĐH "để đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công
nghiệp".
1.1.2. Tính tất yếu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sự
nghiệp xây dựng CNXH ở nớc ta.
Xuất phát từ lý luận hình thái kinh tế xã hội cho thấy xã hội loài ngời
đã phát triển trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội nối tiếp nhau. C.Mác đã
đi đến khẳng định: Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá
trình lịch sử tự nhiên.
Hình thái kinh tế xã hội là một hệ thống, trong đó các mặt không
ngừng tác động qua lại lẫn nhau tạo thành các quy luật vận động, phát triển
khách quan của xã hội. Chính sự tác động của các quy luật khách quan đó mà
các hình thái kinh tế xã hội vận động phát triển từ thấp đến cao.
Từ đó cho thấy, tất cả các nớc để đi tới một hình thái kinh tế - xã hội phát
triển cao thì cũng đều xuất phát từ những nền kinh tế lạc hậu, thấp kém đi lên,
cũng lần lợt trải qua những hình thái kinh tế kế tiếp nhau từ thấp đến cao. Trong
đó, Việt Nam cũng nh tất cả các nớc, cũng từ một nền kinh tế lạc hậu đi lên.
Nớc ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế phổ biến sản xuất nhỏ,
lao động thủ công là phổ biến. Chính vì vậy, chúng ta phải tiến hành CNH,
HĐH. Trong thời đại ngày nay, CNH phải gắn liền với HĐH. CNH, HĐH ở nớc
ta là nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Đó là nhiệm
vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta.
Từ khi bớc vào thời kỳ đổi mới năm 1986 cùng với việc từng bớc phát triển
nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, giải phóng các lực lợng sản

CNH phải gắn liền với HĐH. Sở dĩ nh vậy là vì trên thế giới đang diễn
ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, một số nớc phát triển đã bắt
đầu chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, nên phải tranh thủ ứng
8
dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, tiếp cận kinh
tế tri thức để hiện đại hóa những ngành, những khâu, những lĩnh vực có điều
kiện nhảy vọt.
CNH nhằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. CNH là tất yếu với
tất cả các nớc chậm phát triển nhng với mỗi nớc, mục tiêu và tính chất của công
nghiệp hóa có thể khác nhau. ở nớc ta, CNH nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật cho chủ nghĩa xã hội, tăng cờng sức mạnh để bảo vệ nền độc lập dân tộc.
CNH trong điều kiện cơ chế thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc. Điều này
làm cho công nghiệp hóa trong giai đoạn hiện nay khác với công nghiệp hóa
trong thời kỳ trớc đổi mới. Trong cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung -
hành chính, bao cấp, CNH đợc thực hiện theo kế hoạch, theo mệnh lệnh của Nhà
nớc. Trong cơ chế kinh tế hiện nay, Nhà nớc vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng
trong quá trình CNH . nhng CNH không xuất phát từ chủ quan của Nhà nớc, nó
đòi hỏi phải vận dụng các quy luật khách quan mà trớc hết là các quy luật thị tr-
ờng.
CNH,HĐH nền kinh tế quốc dân trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, vì thế
mở cửa nền kinh tế, phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế là tất yếu đối với nớc
ta.
Mục tiêu tổng quát của sự nghiệp CNH của nớc ta đợc Đảng Cộng sản
Việt Nam xác định tại Đại hội lần thứ VIII và tiếp tục đợc khẳng định tại Đại
hội lần thứ IX, Đại hội X là: Đa nớc ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng
cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm
2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp theo hớng hiện đại.
ở đây, nớc công nghiệp cần đợc hiểu là một nớc có nền kinh tế mà
trong đó lao động công nghiệp trở thành phổ biến trong các ngành và các lĩnh
vực của nền kinh tế. Tỷ trọng công nghiệp của nền kinh tế cả về GDP cả về lực

có nhiều thời cơ và cũng có nhiếu nguy cơ, vừa tạo ra vận hội mới, vừa cản trở,
thách thức nền kinh tế của chúng ta, đan xen với nhau, tác động lẫn nhau. Vì
vậy, nớc ta phải chủ động sáng tạo nắm lấy thời cơ, phát huy những thuận lợi để
10
đẩy nhanh quá trình CNH tạo ra thế và lực mới để đa nền kinh tế tăng trởng,
phát triển bền vững.
1.1.3. Nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sự nghiệp xây
dựng CNXH ở nớc ta.
Thứ nhất, phát triển lực lợng sản xuất cơ sở vật chất kỹ thuật của
CNXH trên cơ sở thực hiện cơ khí hoá nền sản xuất xã hội và áp dụng những
thành tựu khoa học công nghệ hiện đại.
Qúa trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trớc hết là quá trình cải biến lao
động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng máy móc, tức là phải cơ khí hóa
nền kinh tế quốc dân. Đó là bớc chuyển đổi rất căn bản từ nền kinh tế nông
nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp.
Đi liền với cơ khí là hiện đại hóa và tự động hóa sản xuất từng bớc và
trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đòi hỏi phải xây dựng và phát triển mạnh
mẽ các ngành công nghiệp, trong đó chủ yếu là ngành chế tạo t liệu sản xuất. Sự
phát triển của các ngành chế tạo ra t liệu sản xuất là cơ sở để cải tạo, phát triển
nền kinh tế quốc dân , phát triển khu vực nông - lâm - ng nghiệp. Sự phân tích
trên cho ta thấy đối tợng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tất cả ngành kinh tế
quốc dân nhng trớc hết và quan trọng nhất là ngành công nghiệp sản xuất t liệu
sản xuất.
Mục tiêu của CNH, HĐH còn là sử dụng kỹ thuật, công nghệ ngày càng
tiên tiến hiện đại nhằm đạt năng suất lao động xã hôi cao.Tất cả những điều đó
chỉ có thể đợc thực hiện trên cơ sở một nền khoa học - công nghệ phát triển đến
một trình độ nhất định.
Hiện nay nền khoa học của thế giới đang có sự phát triển mạnh mẽ, khoa
học đang trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp; khi mà công nghệ đang trở thành
nhân tố quyết định chát lợng sản phẩm, chi phí sản xuất... tức là đến khả năng

Thứ hai, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hớng hiện đại hoá hợp lý và
hiệu quả cao
12
Qúa trình CNH, HĐH cũng là quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Cơ
cấu của nền kinh tế quốc dân là cấu tạo hay cấu trúc của nền kinh tế bao gồm
các ngành kinh tế, các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế... và mối quan hệ
hữu cơ giữa chúng. Trong cơ cấu của nền kinh tế, cơ cấu các ngành kinh tế là
quan trọng nhất, quyết định các hình thức cơ cấu kinh tế khác. Cơ cấu kinh tế
hợp lý là điều kiện để nền kinh tế tăng trởng, phát triển. Vì vậy CNH, HĐH đòi
hỏi phải xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại.
Cơ cấu kinh tế không ngừng vận động, biến đổi do sự vận động, biến
đổi của lực lợng sản xuất. Xu hớng chuyển dịch cơ cơ cấu kinh tế đợc coi là hợp
lý, tiến bộ là tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng, đặc biệt là tỷ trọng khu
vực dịch vụ ngày càng tăng; tỷ trọng khu vực nông, lâm, ng nghiệp và khai
khoáng ngày càng giảm trong tổng giá trị sản phẩm xã hội.
Qúa trình hình thành và phát triển các ngành kinh tế, nhất là những
ngành có hàm lợng khoa học cao; sự xuất hiện các vùng sản xuất chuyên canh
tập trung... không chỉ là biểu hiện của sự phát triển của lực lợng sản xuất, phát
triển cơ sở vật chất - kỹ thuật trong tiến trình CNH, HĐH mà còn làm cho cơ
cấu kinh tế thay đổi tiến độ.
Cơ cấu kinh tế hợp lý trong một nền kinh tế thị trờng hiện đại đòi hỏi
công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ phát triển mạnh mẽ, hợp lý và đồng bộ..
Mạng lới dịch vụ với t cách là một ngành kinh tế phát triển mới có thể phục vụ
tốt cho sự phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp và nông nghiệp.
Đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn. Phát triển
toàn diện, nông, lâm, ng nghiệp gần với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy
sản nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng đa dạng của nông, lâm, ng nghiệp,
bảo đảm vững chắc yêu cầu an toàn lơng thực cho xã hội; tạo nguồn nguyên liệu
có khối lợng lớn, chất lợng cao, giá thành hạ, đủ tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu của
công nghiệp chế biến; tăng giá trị và khối lợng hàng xuất khẩu; tăng thêm việc

tranh thủ công nghệ mũi nhọn tiên tiến vừa tận dụng đợc nguồn lao động dồi
dào, vùa cho phép rút ngán khoảng cách lạc hậu, vừa phù hợp với nguồn vốn có
hạn ở trong nớc; lấy quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu, có tính đến quy mô lớn nhng
14
phải là quy mô hợp lý và có điều kiện; giữ đợc tốc độ tăng trởng hợp lý tạo ra sự
cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực kinh tế và các vùng trong nền kinh tế...
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nớc ta trong những năm trớc mắt cần thực hiện
theo định hớng chung sau đây: chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu t dựa trên
cơ sở phát huy các thế mạnh và các lợi thế so sánh của đất nớc, tăng sức cạnh
tranh, gắn với nhu cầu thị trờng trong nớc và ngoài nớc, nhu cầu đời sống nhân
dân và quốc phòng, an ninh. Tạo thêm sức mua của thị trờng trong nớc và mở
rộng thị trờng ngoài nớc, đẩy mạnh xuất khẩu.
Thứ ba, Thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp theo định hớng xã hội chủ
nghĩa.
CNH ở nớc ta nhằm mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do đó, CNH
không chỉ là phát triển lực lợng sản xuất, mà còn là quá trình thiết lập, củng cố
và hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của
lực lợng sản xuất, bất cứ sự thay đổi nào của quan hệ sản xuất, nhất là quan hệ
sở hữu về t liệu sản xuất, cũng đều là kết quả tất yếu của lực lợng sản xuất.
CNH, HĐH không chỉ là phát triển mạnh lực lợng sản xuất, khơi dậy và khai
thác mọi tiềm năng kinh tế, mọi nguồn lực để thúc đẩy tăng trởng kinh tế và tùy
theo trình độ phát triển của lực lợng sản xuất mà quan hệ sản xuất sẽ từng bớc đ-
ợc cải biến cho phù hợp.
Trình độ xã hội hóa cao của lực lợng sản xuất hiện đại tất yếu đòi hỏi
phải xác lập chế độ công hữu về những t liệu sản xuất chủ yếu. Vì vậy, khi cơ sở
vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội đợc xây dựng xong về căn bản thì chế
độ công hữu sẽ chiếm u thế tuyệt đối. Nhng để đạt tới trình độ đó phải trải qua
quá trình phát triển kinh tế - xã hội lâu dài trong đó quan hệ sản xuất đợc cải
biến dần từ thấp đến cao theo trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. Tiêu

thấy lâu dài, chỉ thấy cục bộ mà không thấy toàn cục. Điều đó dẫn đén sự
nghiệp CNH, HĐH rất khó thành công.
16
- Tạo ra cơ sở để huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả nhằm đẩy
nhanh CNH, HĐH. Trong thực tế, phần lớn các sai lầm về đầu t, về nghiên cứu
triển khai công nghệ, phát triển các nguồn lực đều có nguồn gốc từ chỗ thiếu
vắng hoặc sai lệch trong việc xác định chiến lợc CNH, HĐH.
Với vai trò nh vậy, việc xác định chiến lợc CNH, HĐH rất quan trọng.. Xác
định chiến lợc CNH, HĐH đúng đắn giúp ta định hớng, bớc đi đúng đắn, phát
huy và sử dụng các nguồn lực trong và ngoài nớc có hiệu quả nhất, qua đó thúc
đẩy nhanh đợc tiến trình CNH, HĐH.
1.2.1.2. Những yêu cầu của việc xây dựng chiến lợc CNH, HĐH.
Thứ nhất, xác định chiến lợc CNH, HĐH phải phù hợp với điều kiện trong
tỉnh.
Để thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đòi hỏi phải xác định rõ
CNH, HĐH bằng những nguồn lực nào? Nh đã biết, các yếu tố quyết định đến
thành bại của CNH, HĐH mỗi tỉnh về cơ bản bao gồm: nguồn vốn, nguồn nhân
lực và tiềm lực khoa học - công nghệ, trong đó nguồn nhân lực trong tỉnh là yếu
tố quyết định nhất. Nguồn nhân lực đó sẽ quyết định phơng hớng, nội dung, bớc
đi và biện pháp CNH, HĐH; quyết định lựa chọn các yếu tố đầu vào, các nguồn
lực khác để thực hiện; quyết định việc tổ chức và thực hiện sự nghiệp CNH,
HĐH. Bởi vì, trong sự nghiệp CNH, HĐH nếu không có đội ngũ đông đảo
những ngời công nhân lành nghề, những nhà khoa học tài năng, những nhà
doanh nghiệp năng động, những nhà lãnh đạo, qun lý tận tuỵ, biết nhìn xa
trông rộng thì sự nghiệp CNH, HĐH khó có thể thành công. Điều đó đòi hỏi
phải nâng cao trình độ nguồn nhân lực trong nớc, đáp ứng đợc yêu cầu sự nghiệp
CNH, HĐH.
Đối với nguồn vốn đầu t cho sự nghiệp CNH, HĐH cũng vậy. Các nguồn
đầu t bên ngoài đóng vai trò quan trọng, thậm chí có ý nghĩa quyết định đến
mức độ nào đó trong những giai đoạn đầu của CNH, HĐH, đặc biệt đối với

lực bên ngoài nh vốn, công nghệ, thị trờng để thực hiện CNH, HĐH.
18
Sự nghiệp CNH, HĐH phải dựa vào nguồn lực trong tỉnh là chính, điều đó
không có nghĩa là không cần đến nguồn lực bên ngoài. Nguồn lực bên ngoài sẽ
bổ sung và khắc phục đợc tình trạng khan hiếm nguồn lực trong tỉnh. Các dòng
chảy vốn, công nghệ trong từng giai đoạn cụ thể bị phụ thuộc vào điều kiện
tình hình chính trị, kinh tế - xã hội.
Hiện nay, khi thế giới đã chuyển sang xu thế hội nhập thì càng tạo điều
kiện và thúc đẩy "mở cửa", phát triển quan hệ kinh tế, thơng mại giữa các tỉnh,
tạo điều kiện để tham gia đầy đủ hơn vào hệ thống phân công lao động trong n-
ớc. Bởi vậy một tỉnh tách mình khỏi cả nớc, tự ép mình vào con đờng tự lực cánh
sinh thực hiện CNH, HĐH hậu quả chắc chắn sẽ là tụt hậu xa hơn. Khi một tỉnh
không tham gia vào các định chế tài chính quốc gia nh ngân hàng nhà nớc của
quỹ tiền tệ quốc gia thì tỉnh đó khó có thể vay vốn của họ để CNH, HĐH. Về
mặt thơng mại, càng khó hơn, nếu phần lớn các tỉnh cam kết với nhau thực hiện
các quan hệ thơng mại theo nguyên tắc tự do hoá, thì một tỉnh đứng ngoài những
cam kết đó khó có thể len chân vào thị trờng tự do đó đợc. Trong một thế giới
toàn cầu hoá một quốc gia hội nhập tình trạng cô lập sẽ dẫn tới tụt hậu xa hơn và
sự tụt hậu trong tình trạng cô lập sẽ là một nguy cơ tai hại nhất. Thực tế cho
thấy, những tỉnh còn nghèo chính là những tỉnh ở xa trung tâm chính trị, kinh tế,
văn hoá của đất nớc.
Trong thời kỳ hiện đại, cấp tỉnh xác định chiến lợc CNH, HĐH phù hợp
điều kiện quốc gia, huy động và sử dụng tốt đợc nguồn lực bên ngoài, tận dụng
đợc phân công lao động quốc gia thì tỉnh đó sẽ đẩy nhanh đợc sự nghiệp CNH,
HĐH cũng nh phát triển kinh tế xã hội.
Thứ ba, đảm bảo tính kế thừa và liên tục của chiến lợc CNH, HĐH.
Để xác định chiến lợc CNH, HĐH đúng đắn đòi hỏi phải tuân theo quy luật
trên. Bởi, mỗi chiến lợc chỉ phù hợp với một giai đoạn của sự nghiệp CNH,
HĐH. Khi điều kiện trong nớc và trong tỉnh thay đổi, đòi hỏi chiến lợc cũng
phải thay đổi cho phù hợp, điều đó không có nghĩa là, chiến lợc CNH, HĐH sau

20
Trong điều kiện đó, các tỉnh tiến hành CNH, HĐH bớc đi để phát triển
khoa học - công nghệ để thực hiện quá trình đẩy nhanh CNH, HĐH. Một mặt
thực hiện bớc đi tuần tự trong phát triển công nghệ. Đó là, chuyển từ thủ công
lên bán cơ khí rồi lên cơ khí. Mặt khác, áp dụng những thành tựu của cách mạng
khoa học - công nghệ để thực hiện quá trình "đi tắt, nhảy vọt" trong phát triển
khoa học - công nghệ. Đó là từ thủ công lên thẳng cơ khí, từ đó thực hiện sự
nghiệp HĐH là bán tự động và tự động hoá nền kinh tế.
Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức, bớc đi tuần tự của
CNH vẫn có thể nhanh hơn các nớc đi trớc. Bớc đi này vẫn có thể rút ngắn đợc
nếu biết dựa vào những tiến bộ của cách mạng khoa học - công nghệ. Điều này
đòi hỏi trong chiến lợc phát triển khoa học - công nghệ của từng ngành, từng
lĩnh vực phải có bớc đi đúng và phải có sự lựa chọn công nghệ phù hợp.
Mặt khác, để đi tắt trong phát triển khoa học - công nghệ cần lựa chọn một
số ngành mũi nhọn để tập trung đầu t, tạo sự đột phá mạnh mẽ cho việc rút ngắn
CNH, HĐH. Một vấn đề quan trọng là chọn "ngành mũi nhọn" để đầu t. Nguyên
tắc để chọn ngành kinh tế "mũi nhọn" trong điều kiện nền kinh tế thị trờng là
phải lấy tính hiệu quả làm cơ bản nhất. Những ngành đợc lựa chọn để đầu t phải
là những ngành có tác động cao đến sự phát triển của nhiều ngành. Nói cách
khác, sự phát triển khoa học - công nghệ của ngành "mũi nhọn" sẽ kéo theo sự
phát triển của nhiều ngành liên quan.
Hai là, xác định giải pháp, bớc đi cho việc xây dựng một cơ cấu kinh tế
theo hớng hiện đại hợp lý.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế -
xã hội. Đó là, góp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế, phân phối lại tổng sản phẩm
xã hội và thu nhập quốc dân. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng là quá
trình sắp xếp lại tỷ trọng các ngành, đảm bảo cho mọi thành phần kinh tế phát
huy đợc năng lực của mình, thực hiện đợc hiệu quả nói chung. Mặt khác, quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đó sẽ phân bố lại lãnh thổ, đô thị hoá nông
thôn, tạo ra sự phát triển bình đẳng giữa các vùng, đồng thời qua đó đẩy nhanh

và thành phần kinh tế chỉ có thể thực hiện đợc chuyển dịch đúng đắn trên phạm
22
vi không gian lãnh thổ và trên phạm vi cả nớc. Mặt khác, việc phân bố không
gian lãnh thổ một cách hợp lý, có ý nghĩa quan trọng thúc đây phát triển các
ngành và các thành phần kinh tế trên lãnh thổ.
Trong điều kiện hiện nay, để đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo h-
ớng CNH, HĐH phải quán triệt một số quan điểm sau:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi mục đích, có định hớng, dựa
trên cơ sở phân tích đầy đủ căn cứ lý luận và thực tiễn cùng với việc áp dụng
đồng bộ các giải pháp cần thiết để chuyển cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang
trạng thái khác.
- Hiện nay, khi kinh tế tri thức và toàn cầu hoá trở thành một xu thế thì cơ
cấu kinh tế phải là cơ cấu kinh tế mở. Đó là cơ cấu kinh tế có tính năng động,
linh hoạt cao, có khả năng thích ứng nhanh với các biến động của kinh tế quốc
tế, ứng phó một cách có hiệu quả với các chấn động bên ngoài. Cơ cấu kinh tế
đó có khả năng tận dụng tối u các nguồn lực bên trong, bên ngoài cho sự phát
triển bền vững của nền kinh tế và tiếp nhận đợc những giá trị của kinh tế tri
thức, của quá trình toàn cầu hoá cũng nh những nền văn hoá tiêu biểu của các
tỉnh.
Với quan điểm đó, nguyên tắc của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong
điều kiện hiện nay là: trớc hết là phải tận dụng tối đa lợi thế so sánh, nâng cao
dần khả năng cạnh tranh của các ngành hàng phù hợp với tiến trình hội nhập.
Thứ hai, cần phải lựa chọn hớng điều chỉnh cơ cấu kinh tế sao cho nắm bắt đợc
cơ hội, phát huy đợc vai trò của kinh tế tri thức, trớc hết là công nghệ thông tin,
tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập và đẩy nhanh tốc đọ tăng trởng.
Từ những vấn đề đặt ra trên đây, có thể đa ra tính quy luật cho việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế trong sự nghiệp CNH, HĐH trong điều kiện hiện nay:
Hiện nay, ở các nớc ĐPT cơ cấu kinh tế là nông nghiệp - công nghiệp -
dịch vụ. Xu hớng chuyển dịch của cơ cấu ngành trong sự nghiệp CNH, HĐH ở
các nớc này là từ nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ lên công nghiệp - nông

phẩm nông - công nghiệp ngày càng giảm tơng ứng thì xu hớng chuyển dịch cơ
cấu thành phần kinh tế không diễn ra một chiều. Lịch sử phát triển đã chứng
24
minh rằng, có thời kỳ tỷ trọng thành phần kinh tế Nhà nớc trong nền kinh tế
tăng lên (nh những năm 40 đến cuối những năm 80 của thế kỷ 20), nhng cũng
có thời kỳ có xu hớng giảm xuống (cùng với quá trình chuyển các doanh nghiệp
Nhà nớc thành các doanh nghiệp t nhân hay đa dạng hoá các doanh nghiệp Nhà
nớc). Xu hớng vận động đó tuỳ thuộc vào yêu cầu phát triển kinh tế của mỗi n-
ớc. Nhng trong cơ cấu thành phần kinh tế, thành phần kinh tế Nhà nớc bao giờ
cũng phải đảm bảo xây dựng cơ sở hạ tầng, những công trình công cộng, tạo điều
kiện cho các thành phần kinh tế phát triển.
Sự nghiệp CNH, HĐH làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Điều đó tất yếu
phải tiến hành lại phân công lao động xã hội trên phạm vi các tỉnh, cũng nh từng
ngành, từng cơ sở. Sự phân công lại lao động xã hội trong sự nghiệp CNH, HĐH
về phơng hớng lâu dài cần phải tuân theo các tính quy luật sau đây:
- Tỷ lệ và số tuyệt đối lao động nông nghiệp giảm xuống, tỷ lệ và số tuyệt
đối lao động công nghiệp tăng lên.
- Tỷ lệ lao động trí óc ngày càng tăng và chiếm phần lớn trong tổng lao
động xã hội.
- Tốc độ tăng lao động trong các ngành phi sản xuất vật chất (dịch vụ) tăng
nhanh hơn tốc độ lao động trong các ngành sản xuất vật chất.
Nhìn chung, trong những năm trớc mắt, việc phân công lại lao động xã hội
cần đợc tiến hành trên tất cả các địa bàn. Tiến hành sắp xếp, phân bố lại tại chỗ
hoặc chuyển một bộ phận từ nơi này sang nơi khác để xây dựng các vùng kinh
tế mới, khu công nghiệp mới Tuy nhiên, đặc biệt chú trọng u tiên cho việc sắp
xếp, điều chỉnh tại chỗ vì điều đó cho phép từng địa phơng, từng đơn vị cơ sở tự
khai thác hết tiềm năng, những thế mạnh sẵn có, đồng thời từng bớc hình thành
các cụm kinh tế - kỹ thuật - dịch vụ ở nông thôn cũng nh thành thị.
1.2.2. Tạo ra môi trờng kinh tế - xã hội thuận lợi để thực hiện
CNH,HĐH trên địa bàn tỉnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status