LUẬN VĂN:
Nâng cao vai trò của đội ngũ nhà giáo trong
quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở các
trường THPT tỉnh Thái Bình hiện nay
Mở đầu
tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động. ở cấp học này, đội ngũ nhà giáo có vai trò rất
quan trọng trong việc đào tạo học sinh thành nguồn nhân lực có tri thức, có năng lực và
phẩm chất, có đủ điều kiện để tiếp cận bậc GD-ĐT cao hơn hoặc lao động ở một ngành
nghề cụ thể khi chưa có khả năng học tiếp. Nhưng hiện nay trong các trường THPT, “đội
ngũ nhà giáo vừa thiếu lại vừa thừa, một bộ phận nhỏ nhà giáo chưa đạt chuẩn đào tạo,
một số thiếu năng lực giảng dạy và tinh thần trách nhiệm. Đáng lo ngại là tác động tiêu
cực của cơ chế thị trường đã làm xói mòn phẩm chất của một số nhà giáo gây ảnh hưởng
xấu đến uy tín người thầy trong xã hội” [4, tr.21]. Điều đó làm hạn chế việc thực hiện vai
trò đào tạo nguồn nhân lực của đội ngũ nhà giáo, là một trong những nguyên nhân chủ
yếu dẫn tới thực trạng: nhiều học sinh kiến thức lệch lạc, thiếu hiểu biết các vấn đề chính
trị - xã hội, một bộ phận học sinh suy thoái về đạo đức, lối sống; phần lớn học sinh sau
khi tốt nghiệp THPT thiếu khả năng tự tìm kiếm việc làm, chưa vững vàng trước những
biến đổi phức tạp của cuộc sống. Chất lượng đào tạo ở cấp học này chưa thực sự đáp ứng
được mục tiêu đặt ra. Đặc biệt, vào thời điểm hiện nay dấu hiệu một cuộc khủng hoảng
GD-ĐT đã đến mức khiến xã hội phải lên tiếng.
Là người đã từng trực tiếp tham gia công tác giáo dục ở một trường THPT thuộc tỉnh
Thái Bình, mong muốn qua việc khảo sát vai trò của đội ngũ nhà giáo ở một tỉnh để có
thể phát hiện những tiềm năng đang tiềm tàng, khơi dậy năng lực sáng tạo, nhiệt tình
cống hiến của đội ngũ nhà giáo trong công tác giáo dục thế hệ công dân mới của đất
nước, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá trình
đào tạo nguồn nhân lực ở các trường THPT tỉnh Thái Bình hiện nay” .
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, nhận thức được tầm quan trọng của GD-ĐT và vai trò của đội
ngũ nhà giáo đối với việc phát triển nguồn nhân lực nên ở nước ta đã có một số công
trình nghiên cứu khoa học đề cập tới các khía cạnh khác nhau của vấn đề nhà giáo và vai
trò của đội ngũ nhà giáo:
Những công trình có tính chất định hướng cho việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa
GD-ĐT với việc phát triển nguồn nhân lực và đội ngũ nhà giáo trong mối quan hệ đó
như: “Con người Việt Nam, mục tiêu và động lực phát triển KT-XH” mã số KX.07 do
GS.TS Phạm Minh Hạc chủ biên với nhiều vấn đề được phân tích trong đó có các vấn
tạo nguồn nhân lực ở các trường THPT tỉnh Thái Bình, từ đó đưa ra giải pháp chủ yếu
nhằm nâng cao vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở các
trường THPT của tỉnh.
Nhiệm vụ: Luận văn có 3 nhiệm vụ cụ thể sau:
Làm rõ những khái niệm: đội ngũ nhà giáo, nguồn nhân lực, học sinh THPT, từ đó phân
tích đặc điểm, vai trò của đội ngũ nhà giáo với tư cách là chủ thể quan trọng trong quá
trình đào tạo nguồn nhân lực ở các trường THPT.
Đánh giá đúng thực trạng vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá trình đào tạo nguồn nhân
lực ở các trường THPT tại tỉnh Thái Bình hiện nay.
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá trình đào tạo
nguồn nhân lực ở các trường THPT tỉnh Thái Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Nghiên cứu đội ngũ nhà giáo dưới góc độ chính trị - xã hội thể hiện trong
quá trình đào tạo nguồn nhân lực.
- Phạm vi: Vai trò của đội ngũ này trong thời kỳ đổi mới nhất là trong những năm gần
đây.
- Địa bàn nghiên cứu: Các trường THPT tỉnh Thái Bình.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá
trình đào tạo nguồn nhân lực từ lực lượng học sinh THPT.
* Cơ sở thực tiễn:
Luận văn nghiên cứu toàn bộ hoạt động của đội ngũ nhà giáo ở các trường THPT tỉnh
Thái Bình hiện nay trong mối quan hệ với quá trình đào tạo nguồn nhân lực.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử kết hợp
với phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, kế thừa, logic và lịch sử, thống kê, điều tra
xã hội học…, gắn lý luận với thực tiễn chính trị - xã hội của vấn đề.
- một đơn vị tế bào tạo nên nguồn nhân lực, là đối tượng cần được đầu tư, được giáo dục
và được đào tạo. Có thể hiểu nguồn nhân lực ở một số nội dung sau:
Thứ nhất, nói tới nguồn nhân lực là nói tới con người hiện thực và chất lượng phát triển
của con người gắn liền với bản chất xã hội.
Các nhà triết học mácxít đã khẳng định: con người hiện thực là một chỉnh thể sinh học -
xã hội, nhưng yếu tố xã hội mới là bản chất đích thực của con người. Kết hợp hai mặt
sinh học và xã hội, con người có một năng lực tiềm ẩn (tiềm năng), khi được sử dụng và
gặp môi trường thuận lợi thì tiềm năng ấy được phát huy, lúc đó con người trở thành
động lực cho sự phát triển KT-XH. Môi trường đó chính là hoạt động lao động - hoạt
động bản chất nhất của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho cuộc sống:
“Lao động là điều kiện cơ bản, đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế đến
một mức mà trên một nghĩa nào đó chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân
con người”[26, tr.641]. Và, mặc dù: “Bản thân chúng ta, với cả xương thịt, máu mủ và
đầu óc, chúng ta là thuộc về tự nhiên, chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên”[26, tr.665]
nhưng nhờ có lao động mà: “Người là giống vật duy nhất có thể bằng lao động mà thoát
khỏi trạng thái thuần túy là loài vật” [26, tr.673]. Lao động mang ý nghĩa nhân bản sâu xa
bởi trong lao động con người đã làm biến đổi tự nhiên, biến đổi cả bản thân mình và đã
làm nên lịch sử của cả xã hội loài người. Điều đó cho thấy, nếu con người là sản phẩm
của hoàn cảnh lịch sử - xã hội thì đặc trưng bản chất nhất của nguồn nhân lực là sự phản
ánh trình độ phát triển, mức độ hoàn thiện con người trong từng thời kỳ lịch sử nhất định.
Chính các hoạt động nhận thức thực tiễn của con người đã làm hoàn thiện nhân cách,
trình độ, trí tuệ và thể lực của con người, giúp con người thực hiện các chức năng xã hội
của mình. Vì vậy, khi đào tạo nguồn nhân lực cần phải phát triển cả mặt sinh học (sức
khỏe, nuôi dưỡng, vệ sinh, môi trường ) và mặt xã hội (kiến thức, kỹ năng, đạo đức, lối
sống ) cho con người. Đây là điều kiện để tạo ra những khả năng, tiềm năng của nguồn
nhân lực đồng thời cũng là cơ sở để có giải pháp phát huy vai trò của nguồn nhân lực.
Thứ hai, nói tới nguồn nhân lực là nói tới con người trong tư cách cá nhân và cá thể tồn
tại, hoạt động, sống và tự biểu hiện đời sống của mình trong mối liên hệ với những người
khác, với cả cộng đồng, chịu ảnh hưởng cũng như sự tác động của các quan hệ xã hội và
con người, của từng cá nhân và của cả cộng đồng dân tộc [34, tr.56].
Từ cơ sở đó có thể quan niệm rằng: Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng của con
người trong một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương đã được chuẩn bị ở mức
độ nào đó, có khả năng huy động vào quá trình phát triển KT-XH của đất nước hoặc một
vùng, một địa phương cụ thể. Nguồn nhân lực là nơi cung cấp sức lao động cho xã hội, là
bộ phận quan trọng nhất của dân số, của các nguồn lực, có khả năng tạo ra các giá trị vật
chất và tinh thần cho xã hội. Cấu trúc nguồn nhân lực của một quốc gia gồm những người
nằm trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có hay không
làm việc. ở Việt Nam, theo Luật lao động, nam tuổi từ 15-60; nữ tuổi từ 15-55, có khả
năng lao động đều thuộc nguồn nhân lực.
1.1.1.2. Phát triển nguồn nhân lực và vai trò của nó đối với sự phát triển xã hội
Để phát triển KT-XH cần có nhiều nguồn lực, trong đó nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết
định sự phát triển, vì con người vừa là một nguồn lực, vừa là chủ thể của các nguồn lực
khác. Con người bằng lao động sáng tạo đã phát hiện ra ngày càng nhiều nguồn lực trong
tự nhiên và từ nguồn lực tự nhiên tạo thành những nguồn lực mới, làm tăng lên những
khả năng có thể có của đất nước, của dân tộc cho sự phát triển. Mặt khác do đặc tính lao
động sáng tạo của con người mà nguồn nhân lực trở nên sinh động và không cạn kiệt,
hơn nữa nguồn nhân lực có khả năng phát triển, tái sinh và tự nhân mình lên gấp bội. Vì
vậy, để đảm bảo cho sự phát triển bền vững thì cần phải quan tâm bồi dưỡng, phát triển
nguồn nhân lực cả về trí tuệ, năng lực, thể lực và đạo đức.
Cách đây hơn 150 năm, Mác đã đề cập tới phát triển con người toàn diện, lấy đó làm cơ
sở cho sự phát triển xã hội CSCN. Ông cho rằng sự phát triển LLSX xã hội trước hết là:
“Phát triển sự phong phú của bản chất con người, như là một mục tiêu tự thân”[28,
tr.168]. Theo Mác-Ăngghen, cuộc đấu tranh của những người cộng sản chống lại trật tự
tư sản chính là nhằm mục đích “tạo ra hoàn cảnh có tính người” để “phát triển những
năng lực phẩm chất người”. Kết quả của cuộc đấu tranh đó là sự xuất hiện một liên hợp,
trong đó “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi
người”. Nguồn nhân lực vừa là một yếu tố của sản xuất, của tăng trưởng kinh tế, vừa là
mục tiêu của sự phát triển, “phát triển nguồn nhân lực chính là hoạt động đầu tư, là quá
hiện nay. Việc tạo ra nguồn nhân lực để xây dựng xã hội là sự nghiệp của nhiều “binh
chủng”, trong đó ngành GD-ĐT đóng vai trò quyết định.
1.1.1.3. Giáo dục - đào tạo là nhân tố có ý nghĩa quyết định chất lượng nguồn nhân
lực
Nguồn nhân lực được phát triển bằng nhiều con đường khác nhau, song GD-ĐT là con
đường có hiệu quả nhất. GD-ĐT là hoạt động đặc biệt chỉ có trong xã hội loài người, đó
là hoạt động có tổ chức của xã hội nhằm bồi dưỡng và phát triển các phẩm chất và năng
lực cho con người cả về tư tưởng, đạo đức, khoa học, sức khỏe và nghề nghiệp. Ngay từ
khi CNXH còn là học thuyết, Mác-Ăngghen đã đánh giá cao vai trò của sự nghiệp giáo
dục, các ông cho rằng giáo dục là nhiệm vụ cần thiết, bắt buộc đối với mọi người. Trong
tác phẩm “Nguyên lý của CNCS” Mác-Ăngghen đã nói tới chế độ giáo dục trong một xã
hội tổ chức theo nguyên tắc CSCN là “giáo dục công cộng, không mất tiền cho tất cả trẻ
em”, giáo dục toàn diện cả “trí dục, thể dục” và “kỹ thuật bách khoa”. Các ông nhấn
mạnh: sự nghiệp xây dựng xã hội mới trong đó cùng với phát triển kinh tế còn phải xây
dựng văn hóa, đào tạo con người, vì thế cần phải chú ý đến nhiệm vụ giáo dục, coi đó là
biện pháp hàng đầu để đào tạo con người mới với tư cách là chủ thể sáng tạo có ý thức
của xã hội mới. Lênin đã vận dụng quan điểm của Mác-Ăngghen để phát triển giáo dục ở
nước Nga ngay sau Cách mạng Tháng Mười. Trong lúc nước Nga còn đang rất khó khăn,
nghèo về kinh tế, lạc hậu về văn hóa, …Lênin đã nhận thấy việc nâng cao trình độ văn
hóa, giáo dục và kỹ thuật là vô cùng cần thiết để thoát khỏi tối tăm, nghèo nàn, bệnh tật.
Ông nhấn mạnh: lúc này Nhà nước Xô Viết phải coi phát triển giáo dục là một nhiệm vụ
trọng tâm; tất cả mọi người, đặc biệt là thanh niên phải có nhiệm vụ “học tập” vì nếu
không xây dựng được một nền học vấn hiện đại thì “CNCS cũng chỉ là một nguyện vọng
mà thôi”[23, tr.175]. Những luận điểm của Mác-Ăngghen và Lênin cùng những kinh
nghiệm thực tiễn về tầm quan trọng của giáo dục trong quá trình đào tạo con người mới
để xây dựng xã hội mới đến nay vẫn còn nguyên giá trị và tiếp tục soi sáng cho các dân
tộc muốn có sự phát triển nhanh và bền vững.
Việt Nam là một dân tộc hiếu học, trọng tri thức, trọng học vấn. Từ ngàn xưa ông cha ta
đã đúc kết nên bài học lịch sử: để xây dựng xã tắc vững bền, để quốc gia cường thịnh thì
và tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất cho xã hội. Với ý nghĩa đó Đảng ta chỉ rõ: GD-
ĐT nguồn nhân lực là một một khâu chủ yếu trong toàn bộ quá trình phát triển nguồn lực
của đất nước. Trên nền tảng học vấn phổ thông về tự nhiên, xã hội và nhân cách…, GD-
ĐT nguồn nhân lực phải hướng tới việc hình thành, phát triển kiến thức, kỹ năng lao
động phù hợp với cách thức tổ chức, phân công lao động xã hội theo từng giai đoạn phát
triển, trong các lĩnh vực hoạt động và điều kiện cụ thể.
Những quan niệm trên là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về một bộ phận quan trọng
của nguồn nhân lực, đó là học sinh THPT - đối tượng tác động và cũng là sản phẩm lao
động của đội ngũ nhà giáo ở các trường THPT.
1.1.2. Học sinh trung học phổ thông - nguồn nhân lực đang được đào tạo
1.1.2.1. Một số đặc điểm của học sinh trung học phổ thông
Theo điều 4 Luật Giáo dục (2005), giáo dục THPT là một bộ phận hữu cơ của giáo dục
phổ thông, nằm trong cấu trúc chung của hệ thống giáo dục quốc dân. Căn cứ vào điều 83
Luật Giáo dục (2005), những người đang học tập tại các cơ sở giáo dục phổ thông (gồm
bậc tiểu học và bậc trung học, trong bậc trung học có 2 cấp là cấp THCS và cấp THPT)
và giáo dục nghề nghiệp (gồm các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề) được
gọi là học sinh.
Kết hợp điều 4 và điều 83, có thể hiểu học sinh THPT là những người đang theo học ở
cấp THPT, cấp học kế tiếp sau cấp THCS và “được thực hiện trong ba năm học, từ lớp 10
đến lớp 12. Học sinh vào học lớp 10 phải có bằng tốt nghiệp THCS, có tuổi là mười lăm
”[21, tr.20]. Điều lệ trường trung học (2000) cũng quy định rõ tuổi của học sinh THPT
“là 15 đến 19”[14, tr.26].
Theo quy định của luật Lao động nước ta, với lứa tuổi trên học sinh THPT là lực lượng
nằm trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và là bộ phận quan trọng của nguồn
nhân lực. Đây là lứa tuổi có sự phát triển phức tạp cả về mặt sinh học và mặt xã hội, là
thời kỳ học sinh bước vào giai đoạn cuối của quá trình chuẩn bị nền tảng cho sự tham gia
của họ vào hoạt động nghề nghiệp và các dạng lao động xã hội. Xem xét nguồn nhân lực
trên cả hai phương diện cá thể và xã hội thì học sinh THPT với tư cách là một bộ phận
của nguồn nhân lực cũng được xem xét trên hai phương diện đó với những đặc điểm tâm
giữa lượng thông tin lớn về kinh tế, chính trị, xã hội… với tiềm năng tiếp nhận, xử lý,
chọn lọc những thông tin đó; giữa khối lượng lớn những tri thức phải học ở giai đoạn
cuối của các trường phổ thông với những nhu cầu hoạt động của tuổi trẻ; giữa tính phong
phú, đa dạng của nghề nghiệp xã hội, của tri thức với quỹ thời gian và điều kiện học tập
có hạn của học sinh…Quá trình giải quyết những mâu thuẫn đó khiến cho học sinh THPT
phát triển mạnh mẽ về các mặt, nhất là về tình cảm đạo đức, thẩm mỹ, nhu cầu giao tiếp
và xu hướng nghề nghiệp. Đây là thời kỳ của sự hình thành, ổn định về tính cách để
chuẩn bị cho các em tiến dần tới vị trí xã hội của một người công dân đích thực trong giai
đoạn tiếp theo. Điểm nổi bật trong nhân cách của học sinh THPT là sự tự ý thức, tự
khẳng định mình về mặt sinh học, biết nhìn nhận và suy nghĩ về hành vi của mình so với
chuẩn mực của tập thể, biết đánh giá cái đúng sai trong hành vi của mình và những cá
nhân khác. Tuy nhiên sự đánh giá đó thường bị thiên lệch, hoặc đề cao quá mức bản thân
dẫn tới sự kiêu căng, hoặc lý tưởng hóa người khác một cách quá mức dẫn tới mặc cảm
tự ty với chính mình. Làm cho các em biết người biết ta một cách khách quan là cả một
quá trình đòi hỏi nghệ thuật sư phạm của đội ngũ nhà giáo. ở học sinh THPT, nhu cầu
được sống trong một tập thể mạnh, có uy tín tốt đã tạo cho hoạt động giao tiếp của các
em mang tính xã hội rõ nét, các em đã biết được lợi ích của những việc mình làm, biết tự
điều chỉnh khi xảy ra xung khắc trong giao tiếp. Cùng với giao tiếp, đời sống tình cảm
của các em ngày càng phong phú, nó không chỉ dừng lại ở những sở thích sinh hoạt
thường nhật mà còn được xây dựng trên những mục đích lâu dài như phấn đấu trong học
tập và tu dưỡng, trong các phong trào tập thể… Trong quan hệ với người lớn tuổi, các em
tự tin hơn, các em không chỉ biết đòi hỏi người lớn phải ưu ái những quyền lợi của cá
nhân mà còn thấy được trách nhiệm của bản thân trước gia đình, dòng họ, làng xóm. Tình
cảm nam nữ cũng được nảy sinh ở giai đoạn này. Có thể thấy mỗi nhân cách là một thế
giới riêng, đặc biệt là trong vấn đề tình cảm, do đó việc nhận biết, bồi dưỡng hoặc khắc
phục những biểu hiện sai lệch trong đời sống tình cảm của các em là công việc hết sức
nhạy cảm, đòi hỏi sự tỷ mỷ, cần mẫn và tấm lòng nhân ái bao dung của các nhà giáo
trong mọi tình huống giáo dục.
Học sinh THPT là nguồn nhân lực đang bước qua lứa tuổi vị thành niên để trở thành một
“rường cột của nước nhà”, là “mùa xuân của nhân loại”. Là những thanh niên, lực lượng
giàu tiềm năng phát triển, học sinh THPT chính là nguồn tài sản vô giá của đất nước hôm
nay và mai sau.
Trước đây trong lý luận về con người, chủ nghĩa Mác-Lênin rất quan tâm đến thanh niên, đánh
giá cao vai trò của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng thế giới. C.Mác đã hình dung thấy
“tương lai của cả loài người phụ thuộc vào thế hệ công nhân đang lớn”, còn Lênin đã chỉ rõ vai
trò của thanh niên khi ông khẳng định nhiệm vụ của nhà trường là “phải đào tạo được một thế
hệ có khả năng thực hiện vĩnh viễn CNCS”[22, tr.9]. Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, vai trò
của thanh niên trong đó có học sinh THPT luôn gắn với vận mệnh của dân tộc. Sẽ không thể
giải phóng được dân tộc khỏi cuộc sống nô lệ nếu không thức tỉnh được thế hệ trẻ. Người viết:
“Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất nếu đám thanh niên già cỗi của Người
không sớm hồi sinh”[32, tr.173]. Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của
nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Người khẳng định “công học tập của các cháu” sẽ góp
“một phần lớn” để đem lại tương lai tươi sáng cho dân tộc. Người xác định rõ vai trò của thế
hệ trẻ là “chủ nhân tương lai của đất nước” bởi vì “nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một
phần lớn là do thanh niên”[39, tr.185].
Ngày nay, Đảng ta đánh giá rất cao vai trò của thế hệ trẻ trong đó có học sinh THPT.
Đảng ta đã khẳng định, họ là những người giữ “vai trò xung kích trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc”[12, tr.126], họ chính là nguồn nhân lực đầy tiềm năng đáp ứng
được yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, phát triển kinh
tế tri thức, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Vai trò đó được khẳng định bởi những
yếu tố sau:
Một là, với tư cách là một bộ phận hợp thành nguồn nhân lực, học sinh THPT đang học
tập, tiếp thu tri thức, rèn luyện phẩm chất đạo đức để sau này tham gia vào các lực lượng
lao động xã hội, góp phần quyết định “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không,
dân tộc Việt nam có bước tới đài vinh quang hay không”[34, tr.33].
Hai là, học sinh THPT phần lớn là những Đoàn viên Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,
họ có sức khỏe, có tri thức, là cánh tay đắc lực “là đội dự bị tin cậy của Đảng, thường
xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Đảng, kế thừa sự nghiệp vẻ vang của Đảng và Hồ Chủ
tiên và không hàm nghĩa giới tính. Theo từ điển Tiếng Việt, nhà giáo là “Những người
làm nghề dạy học”[57, tr.516]. Nếu hiểu như vậy thì có thể nói rằng đất nước ta là đất
nước của nghề dạy học, vì ở nước ta cứ biết chữ là có thể đi dạy học, điều này thường
thấy và rất phổ biến ở thời kỳ phong kiến và thời kỳ Pháp thuộc. Thời phong kiến, những
người làm nghề dạy học gọi là thầy giáo (Về danh hiệu được gọi là “thầy đồ” – thời nhà
Lê gọi tắt là “sinh đồ”, thời nhà Nguyễn là “tú tài”). Đây là những người rất được coi
trọng, được xếp ở vị trí rất cao, vị trí thứ hai trong ba bậc “quân, sư, phụ”, trước cả cha
mẹ. Nhiều gia đình nghề dạy học là một nghề truyền thống: cả ông cháu, cha con đều nối
nghiệp làm thầy, có người thi đỗ cao nhưng không chịu làm quan chỉ nhất quyết làm thầy
giáo, có người làm quan rồi cũng rời bỏ quan trường để lui về dạy học. Với quan niệm
“nhất tự vi sư, bán tự vi sư” đã làm thầy giáo, tự nhiên là được tất cả mọi người trong
làng xóm kính trọng, kể cả những thầy giáo không có danh tiếng hoặc đức hạnh không
cao.
Sau Cách mạng tháng Tám, nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập ra đời. Nền giáo
dục đó đòi hỏi phải có đội ngũ thầy giáo đáp ứng được nhiệm vụ “diệt giặc dốt”- một
trong những loại giặc nguy hiểm không kém “giặc đói” và “giặc ngoại xâm”. Hưởng ứng
lời kêu gọi toàn dân tham gia “chống nạn thất học” của Hồ Chủ Tịch, người chưa biết
chữ phải coi học tập là quyền lợi và nghĩa vụ của mình, người biết chữ có nghĩa vụ phải
dạy người chưa biết chữ. Các lớp bình dân học vụ, các trường lớp bổ túc văn hóa, các
trường lớp sư phạm kháng chiến được tổ chức, thu hút được hàng triệu trẻ em, người lớn
đi học, hàng vạn người biết chữ tham gia dạy học. Người thầy giáo trong giai đoạn này là
những người làm công tác xóa mù chữ cho nhân dân để từng bước nâng cao dân trí phục
vụ đắc lực cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc, xây dựng và phát triển đất nước.
Vừa tiến hành chiến dịch chống mù chữ, Đảng và Nhà nước chủ trương phát triển giáo
dục phổ thông, trung học chuyên nghiệp và đại học. Chủ trương cải cách nền giáo dục
thành nền giáo dục phát triển những năng lực sẵn có của thế hệ trẻ, đào tạo thế hệ trẻ
thành nguồn nhân lực có trình độ, thành những người công dân hữu ích cho đất nước.
Nền giáo dục đã tiến dần từ mục tiêu nâng cao dân trí là chủ yếu sang mục tiêu đào tạo
nhân lực, nhân tài cho đất nước. Người thầy giáo giai đoạn này không chỉ đơn thuần là
nhận biết và phân biệt về quy mô, các hình thức tồn tại, vận động, biến đổi, cơ chế sắp
xếp trong một tổ chức nhất định và ở những thời điểm cụ thể. Cả hai khái niệm đều là
phương tiện giúp chúng ta nhận định, đánh giá tương đối toàn diện và chính xác vai trò
của “Nhà giáo” với cả tính cách cá nhân và cộng đồng để từ đó có những giải pháp nâng
cao vai trò của lực lượng này trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực.
1.1.2.2. Nhà giáo trong các trường trung học phổ thông, một số đặc điểm và yêu cầu
Thời cổ đại, mỗi nhà giáo vừa tự xác định mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục,
vừa trực tiếp lựa chọn người học và truyền thụ nội dung giáo dục cho học trò của mình.
Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội nói chung và giáo dục nói riêng những chức
năng đó không còn tập trung ở một nhà giáo, mặc dù chỉ mang tính tương đối nhưng sự
phân công chức năng này đã được phân hóa và hình thành ở ba nhóm chức năng: có
những nhà giáo đảm nhiệm chức năng nghiên cứu những vấn đề mục tiêu, nội dung,
phương pháp (ta gọi là nhà giáo nghiên cứu giáo dục); có những nhà giáo đảm nhiệm
công việc truyền thụ những nội dung giáo dục cho người học sau khi những nội dung đó
đã được cơ quan quản lý có thẩm quyền quyết định (ta gọi là nhà giáo dạy học); có những
nhà giáo chuyên hay chủ yếu làm việc ở những cơ quan quản lý giáo dục (ta gọi là nhà
giáo quản lý). Trong các trường THPT, nhà giáo đảm nhiệm cả ba chức năng trên chỉ là
số ít, còn số đông các nhà giáo chủ yếu đảm nhiệm việc dạy học, vì thế trong luận văn,
chúng tôi chủ yếu bàn về “đội ngũ nhà giáo dạy học” ở các trường THPT.
Giáo dục phổ thông là một bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân, và là một bộ phận
quan trọng của hệ thống đào tạo nhân lực. Mục tiêu của giáo dục phổ thông: “giúp học
sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản,
phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người
Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp
tục học lên, hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [21,
tr.21].
Cấp THPT là một bộ phận hữu cơ của giáo dục phổ thông, là cầu nối giữa cấp tiểu học,
THCS với bậc đại học. Đây là cấp học làm cho hệ thống GD-ĐT nước ta mang tính chỉnh
thể, hệ thống và liên thông. Bởi lẽ:
Là một bộ phận của đội ngũ nhà giáo Việt Nam nên đội ngũ nhà giáo THPT cũng có đầy
đủ những phẩm chất, nhân cách của nhà giáo Việt Nam, đồng thời xuất phát từ yêu cầu
giáo dục và đối tượng giáo dục của cấp THPT, đội ngũ nhà giáo ở cấp học này có một số
điểm đáng lưu ý sau đây:
Một là, đội ngũ nhà giáo THPT là những người trực tiếp tham gia vào quá trình giáo dục
ở các trường THPT, những người đạt chuẩn đào tạo theo quy định và chủ yếu được đào
tạo tại các trường đại học sư phạm trong nước.
Là nhà giáo thì ở cấp học nào, bậc học nào cũng phải đạt chuẩn đào tạo theo quy định,
điều này được căn cứ vào mục tiêu giáo dục và đặc điểm đối tượng tác động của nhà giáo
ở từng cấp học, bậc học. ở cấp THPT, mục tiêu giáo dục của nhà giáo là giúp cho học
sinh hoàn thiện học vấn phổ thông, có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và
hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân, có đủ tiềm năng di chuyển nghề
nghiệp và dễ dàng thích nghi với đời sống hiện đại đầy năng động và thách thức. Đối
tượng tác động của nhà giáo trong các trường THPT là một nguồn nhân lực đang ở giai
đoạn bộc lộ và phát triển những năng lực về thể lực, trí lực và nhân cách, đó là những học
sinh “không còn là trẻ con nhưng cũng chưa phải là người lớn”, rất ham hiểu biết, muốn
thử sức nhưng lại dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh. Lao động của nhà giáo liên
quan trực tiếp đến việc khai thác và phát huy năng lực nội sinh của từng cá nhân. Vì vậy, để
thực hiện được mục tiêu giáo dục với đối tượng nhạy cảm trên, để quá trình lao động đạt
được hiệu quả đòi hỏi nhà giáo ở cấp học này phải là những người có trí lực phát triển tốt, có
kiến thức khoa học chuyên ngành vững chắc, có sự hiểu biết không chỉ bó hẹp trong khuôn
khổ những gì mình giảng dạy, mà còn phải có trình độ “kỹ thuật bách khoa” hiểu rõ những
loại hình lao động khác nhau thì mới có thể thực hiện được chức năng hướng nghề, hướng
nghiệp cho học sinh. Chỉ có các trường đại học mà chủ chốt là trường đại học sư phạm mới
đủ điều kiện và khả năng đào tạo đội ngũ nhà giáo cấp THPT. Hơn nữa chỉ có tốt nghiệp các
trường ĐHSP thì đội ngũ nhà giáo này mới có đủ điều kiện để hiểu rõ đối tượng tác động,
xác định rõ mục tiêu giáo dục và có khả năng bằng những thiết kế khoa học, những tác động
sư phạm hợp quy luật để tác động vào học sinh, làm biến đổi học sinh theo mục tiêu đào tạo
của cấp THPT đồng thời tạo điều kiện cho học sinh phát huy được năng lực của mình với tư
Ba là, nhà giáo ở các trường THPT là những người cần và phải có khả năng tổ chức các
hoạt động xã hội, là những người có tâm hồn tươi trẻ, ân cần chu đáo, có sức hấp dẫn,
đầy khát vọng đẹp đẽ và sôi nổi cho dù nhà giáo đó là những giáo viên mới vào nghề hay
đã công tác lâu năm trong nghề.
Có lẽ đây là nét nổi bật của nhà giáo THPT so với nhà giáo ở các cấp học, bậc học khác.
Điều này xuất phát từ chính đặc điểm tâm lý lứa tuổi của đối tượng mà nhà giáo THPT
trực tiếp đào tạo, đó là những học sinh THPT. Các em là những thanh niên đang ở giai
đoạn trưởng thành về mặt thể lực, tâm lý đã mang nhiều nét của người lớn nhưng vần còn
có một vài đặc điểm của tuổi thiếu niên thậm chí cả của tuổi ấu thơ. Tất cả những phẩm
chất đó thể hiện ở khả năng tri giác rõ ràng, ở những rung cảm mãnh liệt, ở tính tích cực
mạnh mẽ và ở ngọn lửa nhiệt tình sôi nổi của tuổi trẻ. Nhà giáo THPT cần biết quý trọng
những phẩm chất này, không dập tắt ngọn lửa nhiệt tình của tuổi trẻ, ủng hộ ý thức mạnh
dạn dám nghĩ, dám làm của các em. Chính sự sôi nổi nhiệt tình, và những khát vọng đẹp
đẽ của tuổi trẻ đã thẩm thấu vào suy nghĩ, tình cảm và hành động của nhà giáo khiến cho
họ trở nên gần gũi, thân thiết với học sinh vừa như người cha, người mẹ, người anh,
người chị lại vừa như người bạn tâm giao để từ đó bằng năng lực sư phạm của mình
thông qua các hoạt động học tập, giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao hướng các
em vào con đường đúng đắn. Chỉ có những nhà giáo giàu tâm huyết và tài năng mới có
thể làm được điều đó, mới đóng góp hiệu quả cho sự phát triển và đào tạo một nguồn
nhân lực với những con người có đủ phẩm chất, năng lực tạo ra mọi giá trị cho cuộc sống
hôm nay và mai sau.
Tóm lại, đội ngũ nhà giáo THPT là những người có hiểu biết khá sâu rộng về xã hội, về
con người và có kinh nghiệm cuộc sống phong phú. Với trình độ chuyên môn theo quy
định của Luật Giáo dục, với phẩm chất chính trị vững vàng và nhân cách nhà giáo, họ
chính là lực lượng quan trọng góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục ở cấp THPT và đào
tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc trong giai đoạn hiện nay.
1.2.2. Vai trò của đội ngũ nhà giáo ở các trường trung học phổ thông trong quá
trình đào tạo nguồn nhân lực
Khi nói về vai trò của nhà giáo, Lênin nhấn mạnh: “Đội quân giáo sư phải tự đặt cho