LUẬN VĂN:
Phát huy vai trò giáo dục pháp luật của
chính quyền cấp xã cho đồng bào Khơme
ở tỉnh Trà Vinh hiện nay
Mở ĐầU
1. Lý do chọn đề tài
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là một nhiệm vụ rất nặng nề, khó
khăn, phức tạp, song vấn đề quan trọng không kém đó là làm như thế nào để đưa
pháp luật vào cuộc sống, để pháp luật được mọi người tôn trọng và chấp hành đầy
đủ. Trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ thảo luận dự thảo luật Hôn nhân gia
của Đảng. Trong những năm tới, cần tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện thật
tốt công tác này để góp phần chuyển biến căn bản về ý thức tôn trọng pháp
luật và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân [2].
Cấp xã là một cấp trong hệ thống hành chính Nhà nước Việt Nam, là nơi trực
tiếp thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước và nhiệm vụ của chính quyền cấp trên giao, chăm lo mọi sinh hoạt và đời sống
của nhân dân, là cấp chính quyền gần dân nhất, là cầu nối giữa nhân dân với Đảng
và Nhà nước.
Chính quyền cấp xã đã góp phần không nhỏ trong việc trực tiếp phổ biến,
giáo dục pháp luật cho người dân. Tuy nhiên, hoạt động tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật ở cấp xã được tiến hành một cách thụ động, sơ sài, nội dung,
hình thức chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra.
Trà Vinh, là một trong những tỉnh nghèo của nước ta, với khoảng 30% dân
số của tỉnh là người dân tộc Khơme, công tác giáo dục pháp luật nói chung và công
tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt động của chính quyền cấp xã nói riêng được
các cấp uỷ đảng và chính quyền quan tâm, nội dung, hình thức, phương pháp thực
hiện được đổi mới do vậy, cũng đã thu được một số kết quả đáng khích lệ. Tuy
nhiên trên thực tế, trong thời gian qua tại tỉnh Trà Vinh, vẫn còn một bộ phận nhân
dân trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số là người Khơme trình độ hiểu biết pháp
luật còn hạn chế, vi phạm pháp luật còn xảy ra nhiều, thậm chí có nơi còn phổ biến.
Vai trò giáo dục pháp luật của chính quyền cấp xã cho các tầng lớp nhân dân chưa
được chú trọng, đặc biệt là giáo dục pháp luật cho người dân tộc Khơme.
Là một cán bộ công tác tại trường Chính trị tỉnh Trà Vinh tôi nhận thấy công
tác giáo dục pháp luật cho đồng bào Khơme của chính quyền cấp xã ở Trà Vinh
hiện nay là vấn đề cần quan tâm, nghiên cứu nên tôi chọn đề tài: “Phát huy vai trò
giáo dục pháp luật của chính quyền cấp xã cho đồng bào Khơme ở tỉnh Trà
Vinh hiện nay”. Đây là một đề tài rất cần thiết, có ý nghĩa về mặt lý luận và thực
tiễn đối với tỉnh có đông đồng bào Khơme sinh sống như Trà Vinh hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
thức pháp luật và giáo dục ở Việt Nam, luận án PTS Luật học của tác giả Nguyễn
Đình Lộc (bảo vệ ở Liên Xô), 1997; Giáo dục ý thức pháp luật với việc tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa, luận án PTS Luật học của tác giả Trần Ngọc Đường
(bảo vệ ở Liên Xô), 1998; Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam,
luận án PTS Luật học của tác giả Dương Thị Thanh Mai, 1996; Giáo dục pháp luật
trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật)
ở nước ta hiện nay, luận án PTS Luật học của tác giải Đinh Xuân Thảo, 1996; Giáo
dục pháp luật cho người Khơ-me Nam Bộ (qua thực tiễn tỉnh An Giang), Luận văn
Thạc sĩ Luật học của Lê Văn Bền, Hà Nội, 1998 và một số luận văn Thạc sĩ Luật
học của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và các cơ sở đào tạo khác cũng
đề cập đến vai trò của chính quyền cấp xã và chủ đề giáo dục pháp luật.
Ngoài ra còn có nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, giảng dạy hay các cán
bộ, công chức làm việc trong các tổ chức, cơ quan Nhà nước được công bố trên
các phương tiện thông tin đại chúng.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu khoa học, các bài viết của tập thể và
cá nhân đã góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính quyền
cấp xã và giáo dục pháp luật. Song cho đến nay chưa có công trình, luận văn, luận
án, đề tài khoa học nào nghiên cứu, đi sâu về phát huy vai trò của chính quyền cấp
xã trong hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật cho đồng bào Khơme. Tuy nhiên,
các công trình, luận văn đã nghiên cứu tạo điều kiện cho tác giả tham khảo, kế thừa
để tiếp tục nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng vai trò của chính quyền cấp xã
trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật để đề ra được những phương hướng và
giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của chính quyền cấp xã trong hoạt động
phổ biến, giáo dục pháp luật trong thời gian tới. Việc nghiên cứu đề tài được đặt
trong bối cảnh cụ thể của Trà Vinh một tỉnh có nhiều công dân Khơme sinh sống và
là nơi tác giả công tác.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn
Luận văn làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn vai trò của chính quyền cấp xã
của chính quyền cấp xã ở Trà Vinh trong thời gian qua. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất
một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của chính quyền cấp xã trong phổ biến
giáo dục pháp luật cho đồng bào Khơme ở Trà Vinh.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần vào việc nhận thức rõ tính đặc thù và thực trạng phổ biến,
giáo dục pháp luật của chính quyền cấp xã ở Trà Vinh cho đồng bào Khơme, các
giải pháp do luận văn đề xuất có khả năng ứng dụng trong thực tế nhằm phát huy
hơn nữa vai trò của chính quyền cấp xã trong giáo dục pháp luật cho nhân dân nói
chung và cho đồng bào Khơme nói riêng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn gồm 3
chương, 6 tiết.
Chương 1
Cơ sở lý luận về vai trò giáo dục pháp luật
của chính quyền cấp xã cho đồng bào KhơMe 1.1. Cơ sở lý luận về Vai trò giáo dục pháp luật của chính quyền cấp xã
1.1.1. Quan niệm về chính quyền cấp xã
Trong lịch sử hình thành, từ Nhà nước cát cứ đến Nhà nước thống nhất, việc
phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính để thực hiện hoạt động quản lý, điều
hành, cai trị luôn là vấn đề có tính tất yếu khách quan của các quốc gia trên thế giới.
Ngay từ thế kỷ thứ X, với chính quyền tự trị đầu tiên, người Việt đã lấy làng xã
truyền thống của mình làm đơn vị hành chính cơ sở của Nhà nước [31, tr.9-12].
Với nguồn gốc từ công xã nông thôn chuyển thành, làng, xã là hình ảnh thu
nhỏ của xã hội với đầy đủ các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội nơi mà sinh
hoạt xã hội diễn ra hàng ngày. Trải qua các thời kỳ lịch sử phát triển, đơn vị hành
chính nhỏ nhất này vẫn giữ được vai trò quan trọng tổ chức bộ máy hành chính Nhà
nước đang từng bước được củng cố và hoàn thiện.
Hiến pháp quy định xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là đơn vị hành
ích của nhân dân.
- Chính quyền cấp xã là cơ quan trực tiếp tổ chức, chăm lo mọi mặt đời sống
của nhân dân, giải quyết các nhu cầu phát sinh ở cơ sở. Chính quyền cấp xã giữ vai
trò vô cùng to lớn trong đời sống xã hội, hoạt động của chính quyền cấp xã gắn liền
với hoạt động sinh hoạt của nhân dân. Từ thực tế của một số địa phương như ở Thái
Bình, Gia Lai, Đắk Lắk trong thời gian qua cho thấy chính quyền cấp xã phải
thường xuyên đi sâu, đi sát để nắm bắt nguyện vọng của nhân dân, để không xảy ra
tình trạng nội bộ mâu thuẫn, bị kẻ xấu lợi dụng gây chia rẽ làm mất đoàn kết trong
nhân dân, phá vỡ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, làm giảm sút uy
tín của Đảng với nhân dân.
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, một số yếu tố đã tác động tiêu
cực đến đời sống ở nhiều nơi, nhưng làng, xã là nơi còn lưu giữ những giá trị văn
hoá, truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của các dân tộc Việt Nam. Do đó,
chính quyền cấp xã giữ vai trò nòng cốt trong công tác giáo dục, tuyên truyền, giữ
gìn và phát triển các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp, giàu bản sắc dân tộc, xây
dựng đời sống văn hoá mới và thắt chặt tình đoàn kết trong nhân dân.
Vậy để hiểu về chính quyền cấp xã trước hết phải tìm hiểu chính quyền là gì?
Chính quyền nói chung: được hiểu là bộ máy điều khiển quản lý công việc
hành chính Nhà nước với các phương pháp quản lý hoạt động mang tính chất quyền
lực Nhà nước. Còn chính quyền cấp xã là cấp thực hiện bao gồm Hội đồng nhân
dân và Uỷ ban nhân dân, trong đó Hội đồng nhân dân “là cơ quan quyền lực Nhà
nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân
dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương
và cơ quan Nhà nước cấp trên”[32, tr.7-8] còn Uỷ ban nhân dân “do Hội đồng nhân
dân bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan Hành chính Nhà
nước ở địa phương chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan
Nhà nước cấp trên" [32, tr.9].
Qua sự phân tích trên, có thể rút ra quan niệm về chính quyền cấp xã như
sau:
hành pháp luật.
- Thứ ba, trong cơ cấu tổ chức của mình, chính quyền cấp xã chỉ bao gồm cơ
quan quyền lực Nhà nước là Hội đồng nhân dân, cơ quan đại diện cho ý chí và
nguyện vọng của nhân dân địa phương và Uỷ ban nhân dân là cơ quan chấp hành
đồng thời là cơ quan hành chính Nhà nước địa phương.
- Thứ tư, trên địa bàn dân cư, không chỉ có sự quản lý tổ chức của chính
quyền cấp xã mà còn có hoạt động mang tính chất tự quản của cộng đồng dân cư.
Ngoài ra hoạt động quản lý hành chính Nhà nước của chính quyền cấp xã còn chịu
sự tác động của các mối quan hệ như huyết thống, dòng tộc, phong tục, tập quán
của từng địa phương. Chính quyền cấp xã là cơ quan thực hiện chức năng quản
lý hành chính Nhà nước, là cơ quan đưa đường lối chính sách vào cuộc sống,
nhưng căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương để có biện pháp, phương pháp
thích hợp. Niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước là thước đo hiệu quả công
việc của chính quyền cấp xã, cấp sát dân, gần dân nhất.
-Thứ năm, “Tuy cùng là cấp cơ sở nhưng phường so với xã và thị trấn có
những điểm khác nhau về cơ sở hạ tầng, cơ sở kinh tế - kỹ thuật, kết cấu dân cư,
trình độ dân trí” [16, tr.18]. Cùng là cấp chính quyền cơ sở nhưng tổ chức bộ máy,
chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn cũng
khác so với phường. Chính quyền xã, thị trấn quản lý toàn bộ các hoạt động sản
xuất, đời sống trên địa bàn dân cư cũng như xã thị trấn, phường còn có chức năng
quản lý đô thị như quản lý thực hiện quy hoạch, quản lý đất đai, nhà ở, vệ sinh môi
trường và trật tự đô thị.
* Tổ chức bộ máy của chính quyền cấp xã
Từ thế kỷ X, tổ chức xã đã trở thành đơn vị hành chính cơ bản trong hệ
thống tổ chức hành chính Việt Nam. Phát triển theo sự phát triển của đất nước dù
tên gọi có thay đổi theo từng triều đại phong kiến khác nhau, nhưng vai trò, chức
năng của xã vẫn không thay đổi.
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nhận thấy tầm quan trọng và vai
trò to lớn của chính quyền địa phương nên ngay khi mới thành lập, Chính phủ lâm
công khai, trong trường hợp cần thiết có thể họp kín theo đề nghị của chủ toạ kỳ họp
hoặc của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp. Để phát huy hơn nữa quyền làm chủ
của nhân dân, tăng cường hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân, thường trực
Hội đồng nhân dân được thành lập ở 3 cấp tỉnh, huyện, xã theo quy định của Hiến
pháp 1992 và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 2003.
Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được bầu cử căn cứ theo quy
định của Luật bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân. Đối với cấp xã có từ 25 - 35 đại
biểu, tuỳ theo vị trí địa lý, quy mô dân số, điều kiện kinh tế xã hội của từng vùng
của địa phương.
-Tổ chức Uỷ ban nhân dân cấp xã:
“Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra là cơ quan chấp hành của
Hội đồng nhân dân” [49, tr.247]. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyết định các vấn
đề quan trọng tại địa phương nhưng do hoạt động không thường xuyên nên các vấn
đề như kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch ngân sách địa phương chỉ có
thể thực hiện được thông qua Uỷ ban nhân dân.
Uỷ ban nhân dân hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có nhiệm kỳ
theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân là năm năm. Thành viên của Uỷ ban nhân
dân cấp xã có từ 3 - 5 thành viên gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các uỷ viên. Chủ
tịch xã là người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở cơ sở chịu trách nhiệm về
toàn bộ hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã trước Hội đồng nhân dân xã và trước Uỷ
ban nhân dân cấp trên trực tiếp. Theo quy định tại điều 8 của Luật tổ chức Hội đồng
nhân dân và Uỷ ban nhân dân, hoạt động của Uỷ ban nhân dân được thực hiện
thông qua các phiên họp, các hoạt động của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, các bộ phận
chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân xã. Phiên họp của Uỷ ban nhân dân được tổ
chức 01 lần/tháng, đây là hình thức hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của Uỷ
ban nhân dân vì phần lớn nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân được thực hiện tại phiên
họp này. Uỷ ban nhân dân xã có các bộ phận chuyên môn, giúp việc cho uỷ ban
như: công an - quân sự, văn phòng - thống kê, địa chính - xây dựng, tài chính - kế
toán, tư pháp - hộ tịch, văn hoá - xã hội.
quả tối ưu các nguồn lợi về đất đai của xã; xây dựng và quản lý các công trình công
cộng, đường giao thông, trường học, trạm y tế theo các quy định của pháp luật; huy
động sự đóng góp của các tổ chức cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết
cấu hạ tầng trên cơ sở dân chủ, tự nguyện; hướng dẫn khuyến khích, tạo điều kiện
để phát triển các ngành nghề truyền thống của địa phương, đồng thời với việc hướng
dẫn ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất; chuyển đổi cơ cấu cây
trồng, vật nuôi trong sản xuất theo quy hoạch chung.
Chính quyền cấp xã quản lý nhà nước về kinh tế ở cơ sở bằng việc sử dụng
quyền lực nhà nước bảo đảm cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân sản xuất kinh
doanh, dịch vụ của các thành phần kinh tế phát triển theo đúng pháp luật. Chính
quyền cấp xã tạo mọi điều kiện để các chủ thể phát huy hết khả năng của mình
trong phát triển kinh tế cũng như làm tròn nghĩa vụ của Nhà nước.
- Trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục, xã hội và đời sống. Thực hiện chủ trương
của Đảng và Nhà nước trong việc nâng cao chất lượng văn hoá thông tin, đẩy mạnh
văn hoá quần chúng, xây dựng và sử dụng có hiệu quả các thiết chế văn hoá như thư
viện, nhà sinh hoạt văn hoá của ấp, làng, bản, thôn các câu lạc bộ, hệ thống truyền
thanh cơ sở, kiểm soát chặt chẽ các loại sách, báo, phim ảnh, bài trừ các loại văn
hoá phẩm đồi trụy, các hủ tục lạc hậu, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, giáo dục
nhân dân xây dựng phong trào thể dục thể thao, rèn luyện nếp sống văn minh, gia
đình văn hoá mới. Chính quyền cấp xã phải xây dựng và thực hiện sự nghiệp giáo
dục ở cơ sở, tạo điều kiện để trẻ em trong độ tuổi đến trường; tổ chức các lớp bổ túc
văn hoá để xoá mù chữ cho những người trong độ tuổi; chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ
cho nhân dân, phát triển mạng lưới y tế cộng đồng.
Đối với công tác bảo trợ xã hội chính quyền cấp xã có kế hoạch tổ chức thực
hiện đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với thương binh, bệnh
binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng, người tàn tật, cô đơn, trẻ mồ
côi; thực hiện kế hoạch hoá gia đình, giải quyết việc làm cho người lao động; bảo vệ
quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật.
- Trong lĩnh vực tư pháp - hộ tịch: Chính quyền cấp xã thực hiện một số
phương trong phạm vi được phân cấp. Phát huy vai trò giám sát của hội đồng
nhân dân. Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền
đối với chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo [23, tr.127].
1.1.2. Vai trò của giáo dục pháp luật chính quyền cấp xã
*Quan niệm về giáo dục pháp luật:
Giáo dục pháp luật là vấn đề lý luận có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
khoa học giáo dục cũng như trong khoa học pháp lý ở nước ta. Giáo dục pháp luật
là khâu đầu tiên trong quá trình triển khai thực hiện pháp luật. Đây là một vấn đề cơ
bản không những đối với nước ta mà còn đối với các nước khác. Qua sách, báo, các
tài liệu hội thảo về công tác giáo dục pháp luật, một số tác giả nước ngoài đã khẳng
định: “Hoạt động tuyên truyền phổ biến, giáo dục, đào tạo pháp luật là những nhiệm
vụ nâng cao văn hoá pháp luật, ý thức pháp luật của nhân dân” [67, tr.335].
Pháp luật là phương tiện để Nhà nước quản lý xã hội và cũng là phương tiện
để mọi người tự bảo vệ mình nhưng so với giáo dục chính trị và giáo dục đạo đức
thì giáo dục pháp luật được hình thành và tiến hành trên thực tế muộn hơn. Chính vì
vậy, quan niệm về giáo dục pháp luật vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.
- Quan niệm thứ nhất cho rằng: Giáo dục pháp luật là một bộ phận của giáo
dục chính trị tư tưởng, đạo đức. Theo quan niệm này thì giáo dục pháp luật không
được xem là một hoạt động độc lập mà nó chỉ là một bộ phận của hoạt động giáo
dục chính trị và giáo dục đạo đức, thông qua đó ý thức pháp luật của nhân dân được
hình thành. Như vậy, nếu làm tốt công tác giáo dục chính trị và giáo dục đạo đức thì
sẽ có sự tôn trọng pháp luật của nhân dân. Nói cách khác, sự hình thành ý thức pháp
luật của công dân là hệ quả của quá trình giáo dục chính trị và giáo dục đạo đức.
- Quan niệm thứ hai cho rằng: Giáo dục pháp luật chỉ đơn thuần là hoạt động
phổ biến tuyên truyền hay giải thích pháp luật. Theo quan niệm này thì giáo dục pháp
luật là nhiệm vụ của các chủ thể tuyên truyền, giáo dục pháp luật.
- Quan niệm thứ ba cho rằng: Giáo dục pháp luật đồng nghĩa với việc dạy và
học pháp luật trong nhà trường. Với quan điểm này thì việc tuyên truyền pháp luật ở
ngoài phạm vi nhà trường thì không được xem là giáo dục pháp luật.
niệm này thì vai trò được hiểu đây là việc thực hiện những công việc của chủ thể cụ
thể đã tác động và ảnh hưởng đến sự vật, sự việc nào đó.
Từ quan niệm này và các quan niệm về chính quyền cấp xã, giáo dục pháp
luật, chúng ta có thể đưa ra quan niệm như sau:
Vai trò giáo dục pháp luật của chính quyền cấp xã chính là những tác dụng
và ảnh hưởng trong việc thực hiện mục tiêu nâng cao ý thức pháp luật cho nhân
dân thông qua các hoạt động có định hướng, có chủ định của chính quyền cấp xã.
Trước yêu cầu của công tác giáo dục pháp luật nhằm:
Phổ biến kịp thời, đầy đủ những nội dung pháp luật liên quan đến
cuộc sống của các tầng lớp nhân dân, tạo điều kiện để công dân sử dụng pháp
luật làm phương tiện, công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình,
của nhà nước và xã hội. Nâng cao ý thức tự giác, chủ động tìm hiểu chấp
hành pháp luật của cán bộ, nhân dân [42].
Vai trò của chính quyền cấp xã thể hiện như sau:
Thứ nhất, chính quyền cấp xã là chủ thể thực hiện các hoạt động giáo dục
pháp luật trong phạm vi địa bàn do cấp xã quản lý.
Hội đồng nhân dân đưa ra các Nghị quyết về phổ biến, giáo dục pháp luật,
trên cơ sở đó Uỷ ban nhân dân xây dựng thành các kế hoạch, chương trình cụ thể
theo quý, năm, hoặc từng giai đoạn nhất định, đưa Nghị quyết của Hội đồng nhân
dân thành hiện thực. Đồng thời, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải căn cứ vào chương
trình phổ biến giáo dục pháp luật chung của Chính phủ, tỉnh, huyện và theo yêu cầu
nhiệm vụ chính trị của địa phương để xây dựng kế hoạch tổ chức tuyên truyền, giáo
dục pháp luật khoa học và phù hợp cho các đối tượng cư trú trên địa bàn xã,
phường, thị trấn. Việc xây dựng các kế hoạch này bảo đảm cho hoạt động giáo dục
pháp luật có tính kế hoạch, được chỉ đạo, lãnh đạo thường xuyên, có hiệu quả. Với
vai trò là cơ quan hành chính Nhà nước ở cơ sở, với những kế hoạch này, chính
quyền cấp xã có điều kiện phân bổ thời gian hợp lý giữa các nhiệm vụ quản lý,
tránh được tính “tự phát” và tính “thời vụ”, tập trung được các điều kiện về mặt vật
chất, nhân sự để triển khai công tác giáo dục pháp luật hợp lý, đúng thời điểm.
- Các quy định về quyền và nghĩa vụ trong tổ chức, hoạt động của cơ quan,
tổ chức nhà nước.
- Nêu gương “người tốt, việc tốt” trong việc thực hiện pháp luật, qua đó vận
động nhân dân sống và làm việc theo pháp luật.
Về hình thức tuyên truyền giáo dục pháp luật.
Chính quyền cấp xã thường sử dụng các hình thức sau trong công tác phổ
biến tuyên truyền pháp luật:
- Tuyên truyền miệng.
- Tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng: hệ thống truyền
thanh cơ sở, tờ rơi, tủ sách pháp luật, panô, áp phích
- Tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động thực tiễn của đội
ngũ cán bộ công chức chính quyền cấp xã như công tác hộ tịch, công tác hoà giải,
công tác giải quyết khiếu nại tố cáo, công tác địa chính, văn hoá - xã hội, hoạt động
tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân
- Giáo dục pháp luật thông qua các lễ hội truyền thống, sinh hoạt văn hoá ở
vùng nông thôn, vùng cao, vùng sâu, vùng có đông đồng bào dân tộc ít người sinh
sống. Tổ chức phối hợp với các tổ chức đoàn thể quần chúng, những người có uy tín
trong cộng đồng dân cư, trưởng thôn, xóm, ấp, bản, khóm, tổ dân phố, để các quy
định pháp luật được tuyên truyền rộng rãi, đến nhân dân.
- Phối hợp với các trường học đóng trên địa bàn trong việc dạy và học
môn giáo dục công dân ở trong nhà trường, tổ chức, xây dựng, khuyến khích học
sinh tham gia phong trào bảo vệ trật tự pháp luật trong và ngoài trường học.
Việc đa dạng hoá nội dung, phương pháp, hình thức phổ biến, giáo dục pháp
luật giúp cho hoạt động giáo dục pháp luật của chính quyền lôi cuốn được nhiều
tầng lớp nhân dân tham gia trên tất cả các lĩnh vực của xã hội. Mặt khác, đa dạng
hoá phương pháp và nội dung giáo dục pháp luật của chính quyền cấp xã giúp cho
các đối tượng giáo dục pháp luật có điều kiện tiếp nhận thông tin pháp luật phù hợp
với độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tôn giáo, dân tộc
Thứ ba, chính quyền cấp xã chủ động phối hợp với các cá nhân, tổ chức
điểm, đồng thời cũng thấy được những mặt tồn tại, hạn chế, rút ra bài học kinh
nghiệm, từ đó có những phương hướng phù hợp nhằm làm cho công tác đạt hiệu quả
cao hơn. Qua kiểm tra, giám sát, chính quyền cấp xã đánh giá được những ưu điểm
trong việc phổ biến giáo dục pháp luật cũng như tìm ra những thiếu sót, bất cập
trong nội dung, phương pháp giáo dục pháp luật. Từ đó, có sự chỉ đạo cụ thể của
chính quyền cấp xã đối với đội ngũ cán bộ tuyên truyền pháp luật.
Kiểm tra việc thực hiện công tác giáo dục pháp luật là bảo đảm sự thành
công, hiệu quả của chương trình giáo dục pháp luật và thực hiện giáo dục pháp luật.
Việc xây dựng chương trình giáo dục pháp luật và thực hiện chương trình giáo dục
pháp luật phải gắn liền với hoạt động kiểm tra.
Hoạt động kiểm tra, giám sát có nhiệm vụ nắm tình hình và kết quả giáo dục
pháp luật một cách có hệ thống. Công tác kiểm tra, giám sát phải chú ý tới cả hai
mặt của việc thực hiện kế hoạch, chương trình giáo dục pháp luật. Một mặt tìm ra
các nguyên nhân của việc không thực hiện hoặc thực hiện chưa tốt các mục tiêu đã
đề ra, mặt khác cũng chú ý tới kết quả đã đạt được để tìm ra những ưu điểm, rút ra
những bài học kinh nghiệm trong việc giáo dục pháp luật của chính quyền cấp xã.
Việc kiểm tra, giám sát thực hiện các chương trình giáo dục pháp luật phải
được xây dựng thành kế hoạch đồng thời với việc xây dựng kế hoạch, chương trình
giáo dục pháp luật chung, trong đó xác định rõ cơ quan, cá nhân có trách nhiệm
kiểm tra và đối tượng bị kiểm tra. Việc kiểm tra, giám sát được tiến hành ngay từ
khi kế hoạch giáo dục pháp luật được thông qua và trong suốt thời gian thực hiện kế
hoạch. Công tác kiểm tra được tiến hành:
- Hội đồng nhân dân giám sát đối với Uỷ ban nhân dân trong việc thực hiện
Nghị quyết về công tác giáo dục pháp luật gồm: giám sát nội dung giáo dục pháp
luật có đáp ứng được yêu cầu của chương trình giáo dục chung của cả nước và của
địa phương; hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật do Uỷ ban nhân dân xây
dựng có phù hợp với đối tượng và đáp ứng được yêu cầu của tình hình thực tiễn của
địa phương hay không? Hội đồng nhân dân kiểm tra hiệu quả của công tác giáo dục
pháp luật của Uỷ ban nhân dân, thông qua hoạt động chất vấn Chủ tịch, phó Chủ
dục pháp luật được triển khai.