luận văn thạc sĩ Kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông trung học ở tỉnh Tiền Giang. - Pdf 13

kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức
cho học sinh phổ thông trung học
ở tỉnh tiền giang
H NI - 2009
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾT HỢP GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH PHỔ
THÔNG TRUNG HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
7
1.1. Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc và tính tất yếu kết hợp giáo
dục pháp luật và giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông
trung học ở Việt Nam hiện nay 7
1.2. Chủ thể, nội dung, hình thức và phương pháp kết hợp giáo dục
pháp luật và giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông trung
học ở Việt Nam hiện nay 28
1.3. Yêu cầu đối với việc kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo
đức cho học sinh phổ thông trung học ở Việt Nam hiện nay 41
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KẾT HỢP GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
PHỔ THÔNG TRUNG HỌC Ở TỈNH TIỀN GIANG TỪ
NĂM HỌC 2003 -2004 ĐẾN NĂM HỌC 2007-2008
48
2.1. Thực trạng kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức cho
học sinh phổ thông trung học ở tỉnh Tiền Giang từ năm học
2003 - 2004 đến năm học 2007 - 2008 48
2.2. Một số nhận xét, đánh giá chung 79
2.3. Giải pháp kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức cho
học sinh phổ thông trung học ở tỉnh Tiền Giang hiện nay 83

Học sinh nói chung, học sinh phổ thông trung học (PTTH) nói riêng là
lứa tuổi đang hình thành và phát triển nhân cách. Nếu được giáo dục đúng
hướng các em sẽ hình thành và phát triển những phẩm chất tích cực; ngược lại
sẽ trở nên dị dạng và méo mó về nhân cách. Ngày nay, trên cơ sở coi trọng
giáo dục kiến thức văn hóa, việc GDĐĐ, giáo dục ý thức công dân thông qua
GDPL và GDĐĐ ở trường phổ thông chính là một trong những phương thức
cơ bản nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo của Đảng và Nhà nước.
Kết hợp GDPL và GDĐĐ cho học sinh ở các trường phổ thông là một
trong những nội dung quan trọng trong chương trình giáo dục ở Việt Nam.
Cùng với những kiến thức văn hóa trên các lĩnh vực, những hiểu biết cơ bản
về pháp luật và các giá trị đạo đức mà các em được lĩnh hội trong quá trình
học tập, tu dưỡng là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo sự phát
triển toàn diện của thế hệ công dân tương lai của đất nước, là hành trang để
thế hệ trẻ bước vào đời.
Những năm qua, cùng với việc tuyên truyền, GDPL gắn với cuộc vận
động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cho mọi tầng
lớp nhân dân, việc GDPL kết hợp với GDĐĐ trong các trường phổ thông
cũng được quan tâm đổi mới cả về nội dung, hình thức, phương pháp, làm
cho hoạt động này có sự chuyển biến đáng kể về chất. Tuy nhiên, có một
thời gian khá dài, giáo dục chỉ mới chú trọng truyền thụ cho thế hệ trẻ
những kiến thức khoa học. Sự thiếu đồng bộ trong công tác giáo dục -
“thiên về dạy chữ, nhẹ về dạy người” đã dẫn đến hậu quả là tình trạng
xuống cấp về đạo đức, vi phạm pháp luật, tội phạm ở lớp trẻ xảy ra nghiêm
trọng, chiếm tỷ lệ cao trong tổng số người phạm pháp và đang có xu hướng
gia tăng. Do đó, trong tình hình hiện nay, kết hợp GDPL và GDĐĐ cho
người chưa thành niên nói chung, cho học sinh nói riêng được đặt ra như một
tất yếu khách quan.
Ở Tiền Giang những năm gần đây, GDPL cho học sinh nói chung, học
sinh PTTH nói riêng đã được quan tâm và tiến hành song song, kết hợp với
GDĐĐ và huy động được sự tham gia của nhiều lực lượng XH. Tuy nhiên, vì

luật và đạo đức trong quản lý xã hội, Luật văn thạc sĩ luật, Học viện Chính trị
- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
Hoàng Thị Kim Quế (2002), Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp
luật và đạo đức, Tạp chí nghiên cứu lập pháp.
Trần Nghị (2004), Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong tư
tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, Tạp chí Nhà nước và pháp luật.
- Nhóm đề tài nghiên cứu về GDPL dưới góc độ khái quát chung và
cho từng đối tượng cụ thể gồm có các công trình sau:
Trần Văn Trầm (2002), Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức trên
địa bàn tỉnh Bình Định- Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ luật, Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
Nguyễn Đình Đặng Lục (2005), Vai trò của pháp luật trong quá trình
hình thành nhân cách, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
Nguyễn Đình Đặng Lục (2008), Giáo dục pháp luật trong nhà trường,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
Trần Thị Sáu (2008), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
giáo dục pháp luật, Tạp chí nghiên cứu lập pháp.
- Nhóm đề tài nghiên cứu về GDĐĐ cho đối tượng cụ thể dưới góc độ
triết học gồm có:
Trần Minh Đoàn (2001), Giáo dục đạo đức cho thanh niên, học sinh
theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
Nguyễn Thị Thanh Hà (2007), Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
với việc xây dựng nhân cách đạo đức sinh viên Việt Nam hiện nay, Luận văn
thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
- Nhóm công trình nghiên cứu về vấn đề GDĐĐ nói chung và GDĐĐ
cho học sinh nói riêng được thể hiện trong tư tưởng Hồ Chí Minh gồm có:
Đỗ Thắng (2003), Phương châm, phương pháp giáo dục thế hệ trẻ
trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí giáo dục.
Võ Văn Nam (2004), Suy nghĩ từ những lời dạy của Bác đối với việc

- Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật và đạo đức; quan điểm, chủ trương của
Đảng về GDPL, GDĐĐ mới và những tri thức lý luận của các bộ môn khoa
học chuyên ngành khác liên quan như đạo đức học, tâm lý học, giáo dục học.
- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin, chủ yếu sử dụng phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn,
phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể. Ngoài ra luận văn còn sử dụng các
phương pháp của các bộ môn khoa học khác như phương pháp thống kê, điều
tra xã hội học. Hệ thống các phương pháp trên được sử dụng cụ thể như sau:
Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để giải quyết nhiệm vụ đặt
ra ở cả hai chương, trong đó Chương 1 chủ yếu vận dụng phương pháp phân
tích và tổng hợp; ở Chương 2, phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn,
phương pháp lịch sử cụ thể là phương pháp được sử dụng chủ yếu để đảm bảo
đánh giá thực trạng một cách khách quan và toàn diện.
Ngoài ra, các phương pháp thống kê, điều tra xã hội học (phiếu điều
tra, phỏng vấn trực tiếp) cũng được sử dụng để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu,
đảm bảo sự gắn kết và tính liên thông của toàn bộ nội dung luận văn.
6. Đóng góp mới của luận văn
Từ kết quả đạt được, luận văn có những điểm mới về mặt khoa học sau:
- Luận văn lần đầu tiên đưa ra những luận cứ khoa học để làm sáng tỏ
một cách hệ thống vấn đề kết hợp GDPL và GDĐĐ cho học sinh PTTH ở
Việt Nam hiện nay. Những kết quả nghiên cứu của đề tài là những bổ sung
vào lý luận pháp luật vấn đề kết hợp GDPL và GDĐĐ trong quản lý xã hội
nói chung, trong hoạt động giáo dục nói riêng, góp phần nâng cao nhận thức
lý luận về ý nghĩa, vai trò của sự kết hợp đó.
- Phân tích làm rõ những kết quả, hạn chế, nguyên nhân của những hạn
chế trong kết hợp GDPL và GDĐĐ cho học sinh PTTH ở Tiền Giang.
- Đề xuất và luận chứng một cách đồng bộ các giải pháp kết hợp có

của nó. Việc xác định đúng mục đích GDPL có ý nghĩa quan trọng vì trong đa
số các trường hợp, nội dung, hình thức, phương pháp GDPL phụ thuộc vào
mục đích của nó.
+ Mục đích nhận thức: GDPL góp phần hình thành, làm sâu sắc và
từng bước mở rộng tri thức pháp luật của công dân. Tri thức pháp luật có
vai trò quan trọng đối với việc hình thành tình cảm, lòng tin và thái độ
đúng đắn đối với pháp luật. Tri thức pháp luật giúp con người đánh giá,
kiểm tra, đối chiếu hành vi với các chuẩn mực pháp luật. Mục đích này đặc
biệt quan trọng trong điều kiện nước ta hiện nay, khi hiểu biết pháp luật
của công dân còn thấp, nhận thức về quyền và nghĩa vụ của công dân chưa
đầy đủ. Đây cũng là yêu cầu của việc hoàn thiện cơ chế quản lý xã hội
bằng pháp luật, xây dựng một xã hội văn minh, công bằng, dân chủ, bình
đẳng, kỷ cương và trật tự. “Tăng cường giáo dục pháp luật, nâng cao hiểu
biết và ý thức tôn trọng pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp
luật, bảo đảm pháp luật được thực thi một cách nghiêm minh, thống nhất,
công bằng” [14, tr.50].
+ Mục đích cảm xúc: GDPL nhằm hình thành tình cảm, lòng tin và
thái độ đúng đắn đối với pháp luật. Có tri thức pháp luật mà không có tình
cảm, sự tôn trọng và lòng tin đối với pháp luật thì con người rất dễ hành động
lệch khỏi chuẩn mực pháp luật. Ngược lại, lòng tin càng vững vàng thì hành
vi càng có khả năng đúng đắn, hợp pháp. Như vậy, tình cảm, thái độ đúng đắn
đối với pháp luật bao giờ cũng là sự biểu hiện và là thước đo lòng tin vào
pháp luật của mỗi người. Lòng tin vào tính công bằng của pháp luật sẽ hướng
dẫn hành vi hợp pháp. Nội hàm của mục đích cảm xúc là giáo dục tình cảm
công bằng, ý thức trách nhiệm, ý thức tuân thủ pháp luật ở mọi lúc, mọi nơi;
phê phán, lên án những biểu hiện coi thường pháp luật, các hành vi vi phạm
pháp luật đồng thời ủng hộ và tích cực tham gia bảo vệ sự nghiêm minh của
pháp luật.
+ Mục đích hành vi: GDPL hình thành động cơ, hành vi và thói quen
xử sự theo pháp luật. Có thể nói kết quả cuối cùng mà hoạt động GDPL

cũng như trong cuộc sống hằng ngày. GDPL làm cho mỗi người ý thức sâu
sắc quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình.
+ Cùng với giáo dục chính trị, tư tưởng, GDĐĐ, GDPL tạo ra những
khả năng và nhân tố thuận lợi cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý
nhà nước, thông qua việc củng cố ở những người làm công tác quản lý, ở mọi
công dân những phẩm chất tích cực trong ý thức cũng như hành vi pháp lý,
tạo ra ở họ khả năng phản ứng và không đồng tình, không tiếp nhận các hành
vi tiêu cực, chống đối pháp luật. Vì vậy, trong quá trình cải cách bộ máy nhà
nước, xây dựng nhà nước pháp quyền thì GDPL càng có ý nghĩa quan trọng.
+ GDPL chính là tăng cường khả năng tự bảo vệ của chủ thể
trước những tác động bất thường của cuộc sống. Sự hiểu biết sâu về
pháp luật là nhân tố đặc biệt quan trọng, giúp cho chủ thể nhân cách tự
ý thức được trách nhiệm pháp lý đối với hành vi của mình…Qua đó,
tạo cho chủ thể khả năng kiềm chế cao, biết lựa chọn phương thức ứng
xử thích hợp trước mọi tình huống xảy ra và tránh cho chủ thể nhân
cách bị rơi vào hoàn cảnh phạm tội không tự giác [28, tr.42- 43].
+ Đối với thế hệ trẻ, GDPL được tiến hành sớm sẽ giúp họ có những
nhận thức cơ bản về pháp luật, nâng cao khả năng tư duy pháp lý, tránh được
hành động bột phát, gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội. GDPL cho học sinh là
biện pháp tích cực để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật ở
người chưa thành niên. GDPL được tiến hành thường xuyên, sâu rộng là yếu
tố quan trọng góp phần hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ.
1.1.1.2. Về giáo dục đạo đức
- Khái niệm giáo dục đạo đức
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm hệ thống những quan
niệm về cái thiện, cái ác; cái tốt, cái xấu; về lương tâm, trách nhiệm; hạnh
phúc, lẽ sống; sự công bằng…và những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi,
ứng xử trong quan hệ giữa con người với nhau và với xã hội. Các chuẩn mực
và quy tắc đó được hình thành khách quan do nhu cầu cuộc sống và sự phát
triển của xã hội.

hướng tích cực ở mỗi chủ thể. Bồi dưỡng tình cảm đạo đức có một ý
nghĩa đặc biệt quan trọng trong xây dựng nhân cách đạo đức, xây dựng
con người mới. “Nói rèn luyện con người trước hết là nói giáo dục lòng
nhân ái cho con người, vì lòng thương người là đạo lý cuộc sống, là đạo
lý làm người” [18, tr.29].
Trong tình cảm đạo đức, niềm tin là cơ sở quan trọng để xây dựng một
nhân cách đạo đức tốt. Niềm tin là động lực quan trọng để thúc đẩy và quy
định hành động của mỗi người vì niềm tin là cơ sở đem lại cho chúng ta một
nhận thức, một tâm trạng tốt xấu, thiện, ác…trước khi hành động. Khi có
niềm tin trong sáng, con người hoạt động tích cực, hướng thiện hơn, tin tưởng
vào quyết định cho mỗi hành vi mà mình thực hiện. Niềm tin là điều mà nhân
cách đạo đức cần phải có để thực hiện một hành vi đạo đức.
+ GDĐĐ giúp con người biết lựa chọn và thực hiện hành vi ứng xử phù
hợp với các chuẩn mực đạo đức trong những tình huống cụ thể của cuộc sống.
Đạo đức khi đã trở thành chuẩn mực xã hội và quy tắc xử sự
chung, thông qua giáo dục, dư luận xã hội và niềm tin nội tâm, nó sẽ
điều chỉnh hành vi con người cho phù hợp với lợi ích của cộng
đồng, của xã hội. Sự điều chỉnh này nhiều khi còn mạnh mẽ và hiệu
quả hơn các phương tiện quản lý khác [44, tr.10].
Có thể nói kết quả cuối cùng mà hoạt động GDĐĐ hướng tới là thói
quen xử sự theo các chuẩn mực đạo đức đã được cộng đồng thừa nhận. Xét
đến cùng, các mục đích trên đều nhằm phục vụ cho mục đích hành vi. Thiếu
mục đích này thì hoạt động giáo dục, rèn luyện đạo đức trở nên vô nghĩa.
- Vai trò của giáo dục đạo đức
Hiện nay, GDĐĐ được nhiều nước coi là khâu quan trọng nhất tạo ra
bộ mặt nhân cách của thế hệ trẻ nói riêng, của con người thời kỳ văn minh
hậu công nghiệp nói chung. GDĐĐ là yếu tố cơ bản tạo ra tâm lực của cá
nhân và cùng với các quá trình giáo dục khác khai thác nguồn lực con người -
tài nguyên vô tận vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Có
thể đề cập vai trò cụ thể của GDĐĐ như sau:

đạo đức. Không có được những phẩm chất, giá trị đạo đức làm nền tảng, tài
năng sẽ rất khó phát triển hoặc phát triển một cách méo mó, lệch lạc, thậm chí
còn có thể trở thành tội ác, phản đạo đức. Khi mỗi người có được nhân cách
đạo đức tốt, lối ứng xử đúng mực do GDĐĐ mang lại, thì đó là cơ sở cho tài
năng phát triển. Một người có lòng yêu nước thiết tha, có lý tưởng, ước mơ,
hoài bão lớn, sống hòa mình với mọi người, họ sẽ là người cần cù trong học
tập, nghiên cứu khoa học, hăng hái trong lao động, nhiệt tình trong công tác,
có nhiều đóng góp cho xã hội.
+ GDĐĐ còn có vai trò quan trọng trong trường hợp pháp luật chưa
hoàn thiện, còn nhiều chỗ trống. Bởi vì, nhờ có đạo đức, người ta sẽ biết kiềm
chế, không lợi dụng khe hở của pháp luật để thực hiện những hành vi vi phạm
pháp luật hoặc hành vi tuy chưa phải là trái pháp luật (vì chưa có luật điều
chỉnh) nhưng không phù hợp với những chuẩn mực đạo đức.
1.1.1.3. Mối quan hệ giữa giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức
Về lý luận cũng như thực tiễn, GDPL và GDĐĐ luôn có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. Điều đó được quy định khách quan bởi mối quan hệ hữu
cơ giữa pháp luật và đạo đức. Trước khi nhà nước và pháp luật ra đời, xã hội
đã được điều chỉnh bằng các quy phạm đạo đức. Khi pháp luật trở thành
phương tiện chủ yếu để nhà nước quản lý xã hội, thì đạo đức vẫn giữ một vai
trò quan trọng và không thể thiếu trong điều chỉnh hành vi con người. Chỉ với
sự đảm bảo bằng quyền lực nhà nước thôi thì pháp luật khó đi vào cuộc sống.
Trước tiên không phải là cưỡng chế mà chính đạo đức và các quy phạm xã
hội khác giúp cho pháp luật không chỉ được thực hiện một cách nghiêm chỉnh
mà còn được thực hiện một cách tự giác, tự nguyện. Nhưng pháp luật không
chỉ dựa vào đạo đức để đi vào đời sống xã hội, pháp luật còn là một trong
những phương tiện để nhà nước đưa các quan điểm, quan niệm đạo đức của
giai cấp thống trị thành các quy phạm đạo đức chính thống trong xã hội - tức
chuyển hóa các quy phạm đạo đức thành quy phạm pháp luật. Các quy phạm
pháp luật tiến bộ đều có sự phù hợp với đạo đức. Pháp luật càng phù hợp với
đạo đức thì hiệu quả điều chỉnh càng cao. Pháp luật tiến bộ luôn hướng con

Như vậy, giữa pháp luật và đạo đức có sự thống nhất về mục tiêu, sự hỗ
trợ, tác động đồng thuận, từ đó nâng cao được hiệu quả giáo dục chung, làm
cho việc thực hiện pháp luật trở nên tự giác, tức là đáp ứng những yêu cầu của
các chuẩn mực đạo đức. Sự thống nhất đó đòi hỏi sự tác động tổng hợp của cả
hai dạng giáo dục này để bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau nhằm hình thành hành vi
không những hợp pháp mà còn hợp đạo đức.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc kết hợp giáo dục pháp luật
và giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông trung học
1.1.2.1. Khái niệm kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức
GDPL và GDĐĐ đều hướng con người đến việc thực hiện những hành
vi phù hợp với các chuẩn mực đã được xã hội thừa nhận trên cơ sở những tri
thức được lĩnh hội và tình cảm, niềm tin hình thành trong mỗi cá nhân. Tuy
nhiên, GDPL sẽ có hiệu quả hơn rất nhiều nếu nó được tiến hành trong một
môi trường xã hội lành mạnh, với những con người trọng đạo lý, tình nghĩa.
Ngược lại, GDĐĐ cũng sẽ có hiệu quả hơn nếu nó được tiến hành trong một
tổ chức có trật tự, kỷ cương, với những con người có ý thức về các quyền,
nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý, có sự hiểu biết về pháp luật. Kết hợp được
giữa GDPL và GDĐĐ do vậy sẽ nâng cao hơn rất nhiều hiệu quả giáo dục
chung đối với con người. Ở đây, sự kết hợp giữa GDPL và GDĐĐ được hiểu
là toàn bộ hoạt động thực tiễn được tiến hành theo nội dung, hình thức,
phương pháp và theo một cơ chế nhất định nhằm phát huy vai trò và trách
nhiệm của các chủ thể trong tác động hình thành ý thức pháp luật, nhân cách
đạo đức, hành vi, xử sự của con người, đáp ứng cao nhất yêu cầu của nhà
nước và đòi hỏi của xã hội.
1.1.2.2. Đặc điểm của kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo
đức cho học sinh phổ thông trung học
Theo quan niệm trên, kết hợp GDPL và GDĐĐ cho học sinh PTTH có
những đặc điểm chung và đặc điểm riêng sau:
- Thứ nhất: Đặc điểm chung của kết hợp GDPL và GDĐĐ
+ Kết hợp GDPL và GDĐĐ là hoạt động được tiến hành thường xuyên,

- Thứ hai: Đặc điểm riêng của kết hợp GDPL và GDĐĐ cho học sinh
PTTH
Kết hợp GDPL và GDĐĐ cho học sinh PTTH là một bộ phận của kết
hợp GDPL và GDĐĐ cho toàn xã hội, do đó nó cũng mang những đặc điểm
chung của hoạt động này. Tuy nhiên, do những đặc trưng riêng về đối tượng
giáo dục nên kết hợp GDPL và GDĐĐ học sinh PTTH có đặc thù riêng sau:
+ Về mục đích: kết hợp GDPL và GDĐĐ không chỉ nhằm hình thành ở
học sinh những hiểu biết về pháp luật, các chuẩn mực đạo đức mà quan trọng
hơn những hiểu biết đó giúp các em hình thành thái độ đúng đắn, lối ứng xử
phù hợp với những quy tắc, chuẩn mực của xã hội trong quan hệ với trường
lớp, với gia đình và với cộng đồng, biết dung hòa giữa lợi ích cá nhân với lợi
ích chung của tập thể, của xã hội.
+ Chủ thể kết hợp GDPL và GDĐĐ cho học sinh rất đa dạng, bao gồm:
nhà trường (các thầy cô giáo, tổ chức đoàn, các tổ chức khác trong trường
học); cha mẹ và các thành viên khác của gia đình; các ban, ngành, đoàn thể xã
hội. Mỗi chủ thể có vai trò, nhiệm vụ khác nhau khi tham gia vào quá trình
này, vừa thể hiện sự phân công rõ ràng vừa thể hiện sự phối hợp với nhau.
+ Đối tượng của kết hợp GDPL và GDĐĐ cho học sinh PTTH là các
em học sinh phần lớn trong độ tuổi từ 16 đến dưới 18 (đang học lớp 10 đến
lớp 12 các trường PTTH). Đây là lứa tuổi có nhiều biến đổi về tâm sinh lý
trong đó sự hiếu thắng, thích khám phá cái mới, thích làm theo thần tượng và
bốc đồng, dễ tổn thương là một trong những đặc điểm tâm lý nổi bật.
+ Học sinh PTTH là những người còn đang ngồi trên ghế nhà trường do
đó kết hợp GDPL và GDĐĐ chủ yếu được tiến hành song song với hoạt động
học tập văn hóa. Vì vậy, từ nội dung, hình thức cho đến phương pháp giáo
dục đòi hỏi phải có tính sư phạm. Tuy nhiên, khác với việc dạy và học các
môn khác, GDPL kết hợp với GDĐĐ không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ
kiến thức mà quan trọng hơn là kết quả giáo dục phải được thể hiện thành tình
cảm, niềm tin, hành động thực tế của học sinh và quá trình đó không chỉ bó
hẹp trong những giờ lên lớp mà còn được thể hiện thông qua tất cả hoạt động

GDPL kết hợp với GDĐĐ là công việc rất khó khăn, phức tạp. Trong quá
trình giáo dục này, học sinh tiếp nhận tác động từ nhiều phía: nhà trường, gia
đình, xã hội. Công tác giáo dục chỉ đạt hiệu quả khi các chủ thể tham gia vào
quá trình giáo dục có sự phân định rõ ràng về nghĩa vụ, trách nhiệm để tránh
sự chồng chéo và đùn đẩy trách nhiệm cho nhau; đồng thời phải phối hợp chặt
chẽ nhằm làm cho các tác động giáo dục đến đối tượng giáo dục được thực
hiện theo những yêu cầu thống nhất, tạo ra sự hỗ trợ, bổ sung lẫn nhau, phát
huy mặt mạnh, hạn chế mặt yếu của từng thiết chế. Mặt khác, sự phối hợp này
còn giúp cho mỗi chủ thể hiểu đầy đủ hơn về đối tượng giáo dục của mình, từ
đó lựa chọn biện pháp tác động phù hợp. Việc kết hợp giáo dục giữa nhà
trường, gia đình và xã hội từ lâu đã được xem là nguyên lý cơ bản của giáo
dục. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc kết hợp ba môi trường
này. Trong công tác giáo dục thế hệ trẻ, Người chỉ thị cho mọi nhà trường:
Phải liên hệ mật thiết với gia đình học trò bởi vì giáo dục trong
nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và
trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt
hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong
gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn [38, tr.101].
- Thứ năm: Xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh cho việc hình
thành và phát triển nhân cách. Môi trường giáo dục giữ vai trò rất quan trọng
trong giáo dục nói chung, GDPL kết hợp với GDĐĐ nói riêng vì môi trường
đó tác động đến quá trình giáo dục trước hết ở khía cạnh tâm lý, đạo đức. Đó
là quan hệ giữa người dạy với người học, với tập thể lớp, tổ chức Đoàn, hội,
với chính quyền, nhân dân địa phương…Những yếu tố này có ảnh hưởng
quan trọng đến tâm lý, tình cảm, thái độ, ý thức, hành vi của người học. Một
môi trường lành mạnh là một môi trường trong đó người học luôn cảm thấy
mình được yêu thương, tôn trọng, được đánh giá đúng; một môi trường mà
trong đó các tệ nạn xã hội và các hiện tượng tiêu cực khác không có điều kiện
tồn tại hoặc nếu có xuất hiện thì cũng nhanh chóng bị loại trừ.
1.1.3. Tính tất yếu kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status