(Luận văn thạc sĩ) mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức áp dụng trong lĩnh vực y tế ở nước ta hiện nay - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

SÁI THỊ THANH NGÂN

MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC
TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC ÁP DỤNG
TRONG LĨNH VỰC Y TẾ Ở NƢỚC TA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

SÁI THỊ THANH NGÂN

MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC
TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC ÁP DỤNG
TRONG LĨNH VỰC Y TẾ Ở NƢỚC TA HIỆN NAY

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số

: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

1.2.3.
1.3.
1.3.1.
1.3.2.
1.4.

1.4.1.
1.4.2.

1.4.3.

Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU...............................................................................................
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỐI QUAN
HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG XÂY DỰNG ĐỘI
NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC ÁP DỤNG LĨNH VỰC
Y TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY……………………………….
Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật trong lĩnh vực y tế và đạo đức
ngành y,mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực y
tế………………………………………………………………………….
Khái niệm và các thuộc tính của pháp luật trong lĩnh vực y tế………......
Khái niệm và đặc điểm của đạo đức và đạo đức y tế…………………….
Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực y tế…………......
Những vấn đề lý luận cơ bản về cán bộ, công chức, viên chức y tế……..
Khái niệm cán bộ, công chức, viên chức………………………………...
Những đặc điểm đặc thù của cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế.
Tiêu chí cơ bản để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức lĩnh
vực y tế…………………………………………………………………...

28
29
30

33
33

34

37


1.5.

2.1.

2.1.1.
2.1.2.
2.2.

2.3.
2.4.

2.4.1.
2.4.2.

3.1.
3.2.
3.2.1.
3.2.2.

Chƣơng 3: GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN MỐI QUAN
HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG XÂY DỰNG ĐỘI
NGŨ CBCCVC ÁP DỤNG LĨNH VỰC Y TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY……………………………………………………………………..
Một số quan điểm, nguyên tắc chung……………………………………
Kiến nghị những giải pháp chung………………………………………..
Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật...........................................
Đẩy mạnh cơng tác xây dựng và hồn thiện hệ thống pháp luật xã hội
chủ nghĩa trên cơ sở mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức....................
Nâng cao chất lượng công tác tổ chức và thực hiện pháp luật.................
Đổi mới, đa dạng hóa các hình thức giáo dục pháp luật, coi trọng giáo

37
39

42

42
42
46

53
56

58
58
68
70

72

Kiến nghị....................................................................................................
Kết luận chương 3......................................................................................
KẾT LUẬN...............................................................................................
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................

81
82
82
83
83
84
85
87
87
88
91
94
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT

Ký hiệu viết tắt

Từ viết tắt

1

BYT


Chỉ thị

7

ĐHQGHN

Đa ̣i ho ̣c quố c gia Hà Nô ̣i

8

HTGDQD

Hệ thống giáo dục quốc dân

9

KTXH

Kinh tế - Xã hội

10

NCKH

Nghiên cứu khoa học

11




Tiế n si ̃

17

TT

Thông tư

18

TW

Trung ương

19

UBTVQH

Ủy ban thường vụ quốc hội

20

XPHC

Xử phạt hành chính


DANH MỤC BẢNG BIỂU


Sinh thời, trong thư gửi Hội nghị cán bộ ngành y vào năm 1955, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã viết: “Lương y phải như từ mẫu”. Đó khơng chỉ là lời căn dặn của vị
Cha già dân tộc, mà cịn là sự trơng đợi, gửi gắm, những đòi hỏi của nhân dân về
phẩm chất, đạo đức đối với một công việc hết sức đặc thù, cao quý, nhưng đầy gian
lao, thử thách - nghề chăm sóc, cứu chữa người bệnh hay cịn được gọi là nghề y.
Y tế được gọi là nghề đặc thù vì khơng chỉ có những địi hỏi cao về chuyên
môn, nghiệp vụ, mà trên hết là những yêu cầu về y đức của cán bộ, công chức, viên
chức ngành y, bởi cơng việc của họ gắn chặt với tính mạng, sức khỏe của con
người, cũng như của cả cộng đồng.
Tuy vậy, trong những năm gần đây, dưới tác động tiêu cực của nền kinh tế thị
trường, sự yếu kém trong quản lý, thiếu hoàn thiện của hệ thống pháp luật, cũng như
những tác động tiêu cực khác đến từ xu thế thời đại và nhu cầu thực tiễn cuộc sống, y
đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức ngành y đã xuống đến
mức báo động, gây bức xúc trong dư luận. Ngày càng nhiều những biểu hiện vi phạm
đạo đức, vi phạm pháp luật của CBCCVC ngành y. Sự vô cảm với người bệnh, nhũng
nhiễu hạch sách, vịi vĩnh bệnh nhân, có lối sống hưởng thụ, thực dụng, chạy theo đồng
tiền,… được xem là căn bệnh nguy hiểm trong ngành y bởi thực trạng này đã kéo dài
và ngày càng trở nên trầm trọng, gây bức xúc trong nhân dân.
Y đức là cái gốc của văn hóa ngành y, vấn đề y đức liên quan đến nhiều khía
cạnh khác nhau của ngành y tế. Sự xuống cấp về y đức cũng giống như một căn
bệnh của ngành y, muốn chữa được nó thì cần phải chữa từ tận gốc rễ, từ căn
nguyên của căn bệnh và phải bằng biện pháp cụ thể. Vậy đâu là những phương tiện
chủ yếu điều chỉnh hành vi cũng như xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức viên chức
trong lãnh vực y tế.
Pháp luật và đạo đức đều là hai phương tiện quan trọng bậc nhất để điều
chỉnh hành vi của con người. Dù cho cả pháp luật và đạo đức đều có những hạn chế

1



2


Trên các tạp chí chuyên ngành như Nhà nước và pháp luật, Nghiên cứu lập
pháp, Luật học, Triết học... có khá nhiều cơng trình của các tác giả đề cập tới vấn đề
này. Tác giả Hồng Thị Kim Quế có hàng loạt bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa
pháp luật và đạo đức: Mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức với việc điều chỉnh
hành vi con người trong quản lý xã hội (Tạp chí Đại học Quốc gia, chuyên đề khoa
học xã hội, số 4/1997); Một số suy nghĩ về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức
trong hệ thống điều chỉnh xã hội (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7/1999); Một
số suy nghĩ về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức (Tạp chí Nhà nước và
pháp luật, số 3/2000); Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp pháp luật và đạo
đức (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8/2002); Vấn đề kết hợp quản lý xã hội bằng
pháp luật với giáo dục nâng cao đạo đức ở nước ta hiện nay (Tạp chí Triết học, số
12/2002); Những vấn đề hơm nay của pháp luật và đạo đức (Tạp chí Luật học số
7/2006)... Tác giả Trần Hậu Thành có bài viết Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp
luật (Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị, số 5/1998).
Mặc dù đều là những cơng trình nghiên cứu chun sâu về quan hệ giữa
pháp luật với đạo đức, tuy nhiên, với dung lượng hạn chế của một bài tạp chí, nên
nhìn chung các tác giả đều dừng lại ở việc phân tích một vài khía cạnh của vấn đề,
khơng có điều kiện để giải quyết tồn diện các khía cạnh của nó.
Cơng trình nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia của tiến sĩ Hoàng Thị
Kim Quế: "Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong quản lý xã hội ở nước ta
hiện nay" (Năm 2002). Cơng trình nghiên cứu khá tồn diện các vấn đề như vị trí,
vai trò, mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức trong quản lý xã hội; tính cấp thiết
khách quan của việc kết hợp pháp luật, đạo đức trong quản lý xã hội; việc kết hợp
giữa pháp luật với đạo đức trên thực tế trong một số lĩnh vực pháp luật cụ thể; trên
cơ sở đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện mối quan hệ giữa pháp
luật với đạo đức.
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Nam năm 2005, Đại học Luật Hà Nội: “

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ những vấ n đề lý luận về mối quan hệ
giữa pháp luật và đạo đức trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
áp dụng trong lĩnh vực y tế. Phân tích thực trạng y đức của đội ngũ cán bộ y tế trong

4


thời gian qua cũng như tìm những nguyên nhân của nó, nghiên cứu các văn bản quy
phạm pháp luật về ngành y, nghiên cứu thực trạng mối quan hệ giữa đạo đức và
pháp luật trong lĩnh vực y tế, nhất là trong xây dựng đội ngũ. Từ đó xây dựng
phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức trong lãnh vực y tế.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được được mục đích đó, tác giả luận văn xác định những nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về đạo đức ngành y, pháp luật lĩnh
vực y tế và mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực y tế.
- Làm rõ thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong xây dựng
đô ̣i ngũ cán bộ, công chức viên chức y tế ở Việt Nam hiện nay.
- Đưa ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện mối quan hệ giữa pháp luật và đạo
đức trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong lĩnh vực y tế.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu: Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức và mối
quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực y tế.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các vấn đề liên quan đến pháp luật trong
lĩnh vực y tế, đạo đức ngành y và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ công chức viên
chức trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.


6


Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC ÁP DỤNG TRONG LĨNH VỰC Y TẾ Ở NƢỚC
TA HIỆN NAY
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật, đạo đức trong lĩnh vực y tế, mối
quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực y tế ở nƣớc ta hiện nay
1.1.1 Khái niệm và các thuộc tính của pháp luật trong lĩnh vực y tế
1.1.1.1. Khái niệm pháp luật
Pháp luật y tế là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật của quốc gia,
vì vậy trước khi đi vào xác định khái niệm pháp luật y tế, tác giả xin trình bày một
số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật nói chung và lấy đó làm nền tảng, cơ sở để
xác định nội hàm của khái niệm pháp luật y tế.
Để tổ chức và quản lý các mặt khác nhau của đời sống xã hội, trong đó có
lĩnh vực y tế, Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý phải thường xuyên sử dụng
các công cụ quản lý tác động lên đối tượng quản lý. Pháp luật là một công cụ quan
trọng giúp Nhà nuớc quản lý các quan hệ xã hội đúng mục đích.
Trong q trình nghiên cứu, có rất nhiều tài liệu với các cách giải thích khác
nhau về khái niệm pháp luật, có thể kể đến một số khái niệm pháp luật như sau:
Theo quan điểm giáo trình lý luận nhà nuớc và pháp luật của Đại học Luật
Hà Nội năm 2003: “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử xự do nhà nước ban hành
và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội là nhân tố
điều chỉnh các quan hệ xã hội” [52, tr102].
Theo quan điểm giáo trình lý luận nhà nuớc và pháp luật của Khoa Luật - Đại học
Quốc Gia Hà Nội năm 2005: “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc
chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của nhà nước của giai cấp thống
trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của tồn xã hội, được đảm bảo thực hiện

Các thuộc tính cơ bản của pháp luật biểu hiện sức mạnh, ưu thế của pháp luật trong
hệ thống các công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội. Pháp luật trong lĩnh vực y tế là một
phần của hệ thống pháp luật Việt Nam do đó, nó cũng có các thuộc tính cơ bản sau:
Tính quy phạm phổ biến, bắt buộc chung, tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức,
tính được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước.

8


Ngồi các thuộc tính cơ bản, pháp luật trong lĩnh vực y tế cịn có những đặc
điểm sau:
- Pháp luật trong lĩnh vực y tế phải có tính hợp hiến, hợp pháp: Các văn bản
quy phạm pháp luật y tế được xây dựng dựa trên Hiến pháp, từ các quy định của các
Bộ Luật, đạo luật quy định về y tế. Việc xây dựng các văn bản pháp luật y tế phải
đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ trong bản thân hệ thống pháp luật của quốc gia.
Bản thân pháp luật y tế cũng có mối quan hệ đối với các ngành luật khác trong hệ
thống pháp luật Việt Nam.
- Pháp luật trong lĩnh vực y tế thể hiện sự tương quan giữa pháp luật về y tế
với sự phát triển của ngành y tế với sự phát triển kinh tế- xã hội đất nước, kể cả
trình độ, năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế. Do vậy, pháp luật trong lĩnh
vực y tế còn thể hiện mối quan hệ với pháp luật về y tế với các yếu tố kinh tế, chính
trị, đạo đức, truyền thống và các quy phạm xã hội khác. Pháp luật y tế không chỉ
điều phối các quan hệ xã hội đã định hình mà cịn phải có khả năng dự báo, tức là
điều chỉnh những quan hệ mới sẽ nảy sinh trong lĩnh vực y tế.
- Đặc thù về đối tượng điều chỉnh của pháp luật lĩnh vực y tế:
Các quan hệ phát sinh giữa cán bộ, công chức, viên chức và người lao động
làm việc tại các cơ sở y tế trong toàn quốc. Các quan hệ phát sinh giữa cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan đến các dịch vụ y tế, các chính sách về y tế…
Các quan hệ phát sinh trong việc thành lập, cải tiến cơ cấu bộ máy y tế, cải
tiến chế độ làm việc, hồn chỉnh các quan hệ cơng tác của các cơ quan nhà nước,

tính tình, cảm xúc vừa do bệnh và nhiều yếu tố khác của cả cuộc đời chi phối. Họ
hy vọng nhiều vào sự giúp đỡ của thầy thuốc. Họ tin tưởng rằng, trí tuệ, lịng nhân
đạo cao cả của người thầy thuốc sẽ cứu họ thoát khỏi sự đau đớn về thể xác, tinh
thần để trở về với gia đình, đơn vị công tác và xã hội. Ngược lại, người thầy thuốc
do chức năng, nhiệm vụ của nghề nghiệp mà đi sâu vào đời sống người bệnh từ thể
chất - tâm sinh lý một cách nhân đạo, sâu sắc. Do tính đặc thù của đối tượng nghề y,
nên một thiếu sót dù nhỏ cũng có thể gây ra hậu quả lớn. Xuất phát từ đặc điểm ấy,
xã hội luôn yêu cầu cao đối với người thầy thuốc: Phải có lịng nhân đạo, lương tâm
và trách nhiệm với người bệnh, phải có trình độ trong các vấn đề khác nhau của y
học, phải tận tụy với cơng việc, phải có các đức tính cao hơn các nghề khác là yêu
nghề, yêu con người. Vì vậy, pháp luật y tế phải có quy định về y đức. Nếu pháp
luật y tế khơng có quy định về y đức thì rất nguy hiểm, thậm chí bác sĩ có thể sẽ
đem cơ thể bệnh nhân ra làm thí nghiệm.

10


1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của đạo đức và đạo đức y tế
1.1.2.1. Khái niệm đạo đức
Ở phương Đông, Trung Quốc là nơi mà các nhà tư tưởng nói đến đạo đức nhiều
nhất, điển hình là Nho giáo. Trong tiếng Trung Quốc đạo đức có nghĩa là Đạo lý và
Đức hạnh là con đường đúng đắn (phép tắc) mà hành vi con người phải nghe theo.
Ở Phương Tây, đạo đức là vấn đề được thu hút bởi nhiều nhà tư tưởng. Cho
đến nay người ta vẫn coi Xôcrat [469- 399 tr.CN] là người đầu tiên đặt nền móng
cho khoa học đạo đức. Còn Arixtốt [384- 322 tr.CN] đã viết 10 bộ sách đạo đức
học, trong đó ơng quan tâm đến phẩm hạnh đạo đức con người. Nội dung phẩm
hạnh chính là biết định hướng, biết làm việc thiện.
Đạo đức là một khái niệm hết sức phức tạp, khái niệm này vừa hết sức phổ
biến trong dân gian, vừa đậm chất học thuật, bới vậy nó được hiểu theo nhiều cách
khác nhau trong những thời gian, không gian, đối tượng khác nhau.

những quy chuẩn đạo đức đúng đắn, đó là ý nghĩa đích thực của đạo làm thuốc và
cũng là bí quyết để xây dựng và phát triển nghề y. Ông viết: “Suy nghĩ thật sâu xa tôi
hiểu rằng thầy thuốc là bảo vệ sinh mạng cho con người, sống chết một tay mình
nắm, hoạ phúc một tay mình giữ. Thế thì đâu có thể kiến thức không đầy đủ, đức
hạnh không trọn vẹn, tâm hồn không rộng lớn, hành vi không thận trọng mà dám liều
lĩnh học địi cái nghề cao q đó chăng” [51, tr21]. Theo đó, có thể thấy rằng, Hải
Thượng Lãn Ông quan niệm bổn phận của người thầy thuốc không dừng lại ở một
đạo đức thông thường. Mà hơn thế, bổn phận của người thầy thuốc còn thể hiện ra
trong toàn bộ cac quan hệ đối với nghề nghiệp, từ khả năng nhận thức chuyên môn
tới quan niệm về mục đích nghề nghiệp và thái độ đối với người bệnh, với đồng
nghiệp, đặc biệt là bổn phận của người thầy thuốc trước sự cơ cực của người bệnh
nghèo, những người thiếu may mắn trong xã hội đương thời. Ông gọi đó là y đạo.
Kế thừa truyền thống y đức của ông cha ta, tiếp thu tinh hoa y đức nhân loại,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc trau dồi và rèn luyện y đức. Người đã
nhiều lần gửi thư và trực tiếp gặp, thăm các cơ sở y tế, bày tỏ quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta về phẩm chất của người thầy thuốc. Người đã tặng cán bộ, nhân
viên ngành y danh hiệu: “Thầy thuốc như mẹ hiền”. Danh hiệu đó vừa là sự đánh
giá cao của Người đối với những đóng góp của ngành y, vừa là một yêu cầu của
Người đối với mỗi cán bộ y tế về y đức [29, tr32].

12


Nói đến ngành y là nói đến y đức, y đạo, y thuật. Y đức là những phẩm chất
tốt đẹp, cao quý của những người làm nghề y, được thể hiện qua thái độ, tinh thần,
trách nhiệm, hết lòng thương yêu, chăm sóc người bệnh, coi sự đau đớn của người
bệnh như chính sự đau đớn của mình. Y đức khơng ở đâu xa, nó là thái độ, văn hóa
giao tiếp, ứng xử phục vụ người bệnh, cung cách phục vụ -cái mà người bệnh đang
rất cần. Do đó, ngành y tế, nhân dân và người bệnh rất cần đội ngũ cán bộ, cơng
chức, viên chức ngành y tế có đạo đức nghề nghiệp, nắm vững các quy định về

Sự hình thành phát triển, hoàn thành bản chất xã hội của đạo đức được quy
định bởi trình độ phát triển và hồn thiện của nhận thức xã hội con người. Nói cách
khác, nội dung khách quan của các quan niệm, quan điểm, các nguyên tắc, Các
chuẩn mực đạo đức chính là biểu hiện của trạng thái, một trình độ phát triển nhất
định của những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, của cơ sở kinh tế. Với tính
cách là sự phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức mang những đặc điểm sau:
Nguyên lý của y đức bao gồm tôn trọng quyền tự quyết của người bệnh, có
tình thương, khơng làm điều tổn hại và đối xử công bằng với người bệnh/gia đình
người bệnh.
Tơn trọng quyền tự quyết của người bệnh là tơn trọng nhân phẩm, giữ gìn bí
mật của người bệnh và tôn trọng quyền lựa chọn các biện pháp chăm sóc của người
bệnh/gia đình người bệnh sau khi người bệnh đã được cung cấp đầy đủ các thông
tin liên quan đến bệnh tật của họ.
Tình thương được định nghĩa như sự hiểu biết và quan tâm tới nỗi đau của một
người, nó cần thiết cho thực hành y học. Tình thương là ln làm điều tốt cho người
bệnh. Người bệnh đáp ứng tốt hơn với điều trị nếu họ nhận được cảm thông với sự
quan tâm và đối xử hợp lý hơn là chỉ quan tâm đến tình trạng ốm đau của họ.
Không làm điều tổn hại: Trong nghề y, hầu như việc áp dụng bất cứ một biện
pháp chăm sóc nào cũng có thể xuất hiện nguy cơ gây hại cho người bệnh. Do vậy,
trách nhiệm của cán bô ̣ , công chức, viên chức ngành y tế là phải cân nhắc để đảm
bảo ít gây tổn hại nhất cho người bệnh.
Cán bộ, công chức, viên chức ngành y tế không phân biệt đẳng cấp, tôn giáo,
dân tộc, … khi chăm sóc người bệnh.
1.1.3. Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực y tế
Triết học Mac- Lênin khẳng định rằng trong thế giới vật chất, các sự vật hiện
tượng không tồn tại biệt lập mà có mối quan hệ, liên hệ với nhau. Khái niệm quan

14



15


phổ biến giáo dục pháp luật của nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y
tế nắm bắt được những qui định của pháp luật, từ đó họ có thể điều chỉnh hành vi đi
theo một “hành lang pháp lý” mà nhà nước định hướng sẵn.
Khác với pháp luật, “đạo đức được đảm bảo trước hết nhờ yếu tố kích thích
nội tâm của con người - sức mạnh từ bên trong, từ lương tâm, từ thói quen xử sự và
từ sức mạnh bên ngoài - dư luận xã hội” [32, tr13]. Một trong các biện pháp đảm
bảo cho đạo đức được thực hiện, trước hết phải kể đến biện pháp tuyên truyền giáo
dục - biện pháp đầu tư tác động vào tư duy, tình cảm nhận thức của con người.
Chính thơng qua giáo dục, nhân cách con người được hình thành và xây đắp
bổ sung. Mơi trường xã hội chính là nơi để các chủ thể tự học hỏi và xây dựng
lương tâm cho mình. Lương tâm của con người khơng phải là phạm trù thiên bẩm
sẵn có mà “phần nhiều do giáo dục mà nên”. Có lương tâm chủ thể nhận thức được
ý nghĩa tích cực, tác dụng to lớn trong xử sự mà từ đó tự giác thực hiện việc nào đó,
hoặc kiềm chế khơng thực hiện. Khác với các biện pháp cưỡng chế nhà nước, sự
phán xét “toàn án lương tâm” diễn ra “triền miên, day dứt, thậm chí trong suốt cả
cuộc đời người vi phạm” [32, tr17]. Khi người thầy thuốc khơng tận tình cứu chữa
bệnh nhân dẫn đến tình trạng đáng tiếc xảy ra thì chính bản thân người thầy thuốc
đó sẽ bị cắn dứt, dày vò lương tâm.
Dư luận xã hội là biện pháp đảm bảo rất quan trọng của đạo đức ngành y tế.
Sống trong cộng đồng, khơng ai có thể xa lánh hoặc chạy trốn dư luận mãi mãi.
Trên cơ sở các chuẩn mực đạo đức, dư luận đánh giá hành vi đó thiện hay ác, thật
hay giả, tốt hay xấu…qua đó thể hiện thái độ đồng tình hay phản đối một hành vi
nào đó. Nếu thầy thuốc tỏ ra ít tế nhị, ít mật thiết, lạnh lùng, thậm chí ráo hoảnh với
bệnh nhân thì khơng một tịa án nào xét xử nhưng dư luận sẽ có những đánh giá, sẽ
có những thái độ đồng tình hay phản đối.
- Phạm vi điều chỉnh:
Trong khi giới hạn điều chỉnh của pháp luật cịn có hạn chế do chính cơ chế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status