ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
SÁI THỊ THANH NGÂN
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC
TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC ÁP DỤNG
TRONG LĨNH VỰC Y TẾ Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
SÁI THỊ THANH NGÂN
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC
TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC ÁP DỤNG
TRONG LĨNH VỰC Y TẾ Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số
: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
1.2.3.
1.3.
1.3.1.
1.3.2.
1.4.
1.4.1.
1.4.2.
1.4.3.
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU...............................................................................................
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỐI QUAN
HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG XÂY DỰNG ĐỘI
NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC ÁP DỤNG LĨNH VỰC
Y TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY……………………………….
Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật trong lĩnh vực y tế và đạo đức
ngành y,mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực y
tế………………………………………………………………………….
Khái niệm và các thuộc tính của pháp luật trong lĩnh vực y tế………......
Khái niệm và đặc điểm của đạo đức và đạo đức y tế…………………….
Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực y tế…………......
Những vấn đề lý luận cơ bản về cán bộ, công chức, viên chức y tế……..
Khái niệm cán bộ, công chức, viên chức………………………………...
Những đặc điểm đặc thù của cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế.
Tiêu chí cơ bản để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức lĩnh
vực y tế…………………………………………………………………...
28
29
30
33
33
34
37
1.5.
2.1.
2.1.1.
2.1.2.
2.2.
2.3.
2.4.
2.4.1.
2.4.2.
3.1.
3.2.
3.2.1.
3.2.2.
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN MỐI QUAN
HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG XÂY DỰNG ĐỘI
NGŨ CBCCVC ÁP DỤNG LĨNH VỰC Y TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY……………………………………………………………………..
Một số quan điểm, nguyên tắc chung……………………………………
Kiến nghị những giải pháp chung………………………………………..
Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật...........................................
Đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật xã hội
chủ nghĩa trên cơ sở mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức....................
Nâng cao chất lượng công tác tổ chức và thực hiện pháp luật.................
Đổi mới, đa dạng hóa các hình thức giáo dục pháp luật, coi trọng giáo
37
39
42
42
42
46
53
56
58
58
68
70
72
Kiến nghị....................................................................................................
Kết luận chương 3......................................................................................
KẾT LUẬN...............................................................................................
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................
81
82
82
83
83
84
85
87
87
88
91
94
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu viết tắt
Từ viết tắt
1
BYT
Chỉ thị
7
ĐHQGHN
Đa ̣i ho ̣c quố c gia Hà Nô ̣i
8
HTGDQD
Hệ thống giáo dục quốc dân
9
KTXH
Kinh tế - Xã hội
10
NCKH
Nghiên cứu khoa học
11
NĐ
Tiế n si ̃
17
TT
Thông tư
18
TW
Trung ương
19
UBTVQH
Ủy ban thường vụ quốc hội
20
XPHC
Xử phạt hành chính
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Sinh thời, trong thư gửi Hội nghị cán bộ ngành y vào năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã viết: “Lương y phải như từ mẫu”. Đó không chỉ là lời căn dặn của vị Cha già
dân tộc, mà còn là sự trông đợi, gửi gắm, những đòi hỏi của nhân dân về phẩm chất, đạo
đức đối với một công việc hết sức đặc thù, cao quý, nhưng đầy gian lao, thử thách - nghề
chăm sóc, cứu chữa người bệnh hay còn được gọi là nghề y.
Y tế được gọi là nghề đặc thù vì không chỉ có những đòi hỏi cao về chuyên môn,
nghiệp vụ, mà trên hết là những yêu cầu về y đức của cán bộ, công chức, viên chức ngành
y, bởi công việc của họ gắn chặt với tính mạng, sức khỏe của con người, cũng như của cả
cộng đồng.
Tuy vậy, trong những năm gần đây, dưới tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường,
sự yếu kém trong quản lý, thiếu hoàn thiện của hệ thống pháp luật, cũng như những tác động
tiêu cực khác đến từ xu thế thời đại và nhu cầu thực tiễn cuộc sống, y đức của một bộ phận
không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức ngành y đã xuống đến mức báo động, gây bức xúc
trong dư luận. Ngày càng nhiều những biểu hiện vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật của
CBCCVC ngành y. Sự vô cảm với người bệnh, nhũng nhiễu hạch sách, vòi vĩnh bệnh nhân,
có lối sống hưởng thụ, thực dụng, chạy theo đồng tiền,… được xem là căn bệnh nguy hiểm
trong ngành y bởi thực trạng này đã kéo dài và ngày càng trở nên trầm trọng, gây bức xúc
trong nhân dân.
Y đức là cái gốc của văn hóa ngành y, vấn đề y đức liên quan đến nhiều khía cạnh
khác nhau của ngành y tế. Sự xuống cấp về y đức cũng giống như một căn bệnh của
ngành y, muốn chữa được nó thì cần phải chữa từ tận gốc rễ, từ căn nguyên của căn bệnh
và phải bằng biện pháp cụ thể. Vậy đâu là những phương tiện chủ yếu điều chỉnh hành vi
cũng như xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức viên chức trong lãnh vực y tế.
Pháp luật và đạo đức đều là hai phương tiện quan trọng bậc nhất để điều chỉnh
hành vi của con người. Dù cho cả pháp luật và đạo đức đều có những hạn chế nhất định,
song giữa chúng luôn có mối quan hệ tác động qua lại với nhau. Giữa pháp luật và đạo
đức có một số điểm khác biệt nhưng nó không hề đối lập, mâu thuẫn xung đột với nhau
mà sự khác biệt thể hiện điểm mạnh, điểm yếu khác nhau giữa pháp luật và đạo đức. Thế
giả Hoàng Thị Kim Quế có hàng loạt bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa pháp luật và
đạo đức: Mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức với việc điều chỉnh hành vi con người
trong quản lý xã hội (Tạp chí Đại học Quốc gia, chuyên đề khoa học xã hội, số 4/1997);
Một số suy nghĩ về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong hệ thống điều chỉnh xã
hội (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7/1999); Một số suy nghĩ về trách nhiệm pháp lý
và trách nhiệm đạo đức (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3/2000); Tìm hiểu tư tưởng
Hồ Chí Minh về kết hợp pháp luật và đạo đức (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8/2002);
Vấn đề kết hợp quản lý xã hội bằng pháp luật với giáo dục nâng cao đạo đức ở nước ta
hiện nay (Tạp chí Triết học, số 12/2002); Những vấn đề hôm nay của pháp luật và đạo
đức (Tạp chí Luật học số 7/2006)... Tác giả Trần Hậu Thành có bài viết Mối quan hệ giữa
đạo đức và pháp luật (Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị, số 5/1998).
Mặc dù đều là những công trình nghiên cứu chuyên sâu về quan hệ giữa pháp luật
với đạo đức, tuy nhiên, với dung lượng hạn chế của một bài tạp chí, nên nhìn chung các
tác giả đều dừng lại ở việc phân tích một vài khía cạnh của vấn đề, không có điều kiện để
giải quyết toàn diện các khía cạnh của nó.
Công trình nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia của tiến sĩ Hoàng Thị Kim
Quế: "Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay"
(Năm 2002). Công trình nghiên cứu khá toàn diện các vấn đề như vị trí, vai trò, mối quan
hệ giữa pháp luật với đạo đức trong quản lý xã hội; tính cấp thiết khách quan của việc kết
hợp pháp luật, đạo đức trong quản lý xã hội; việc kết hợp giữa pháp luật với đạo đức trên
thực tế trong một số lĩnh vực pháp luật cụ thể; trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số kiến
nghị nhằm hoàn thiện mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức.
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Nam năm 2005, Đại học Luật Hà Nội: “ Quan hệ
giữa pháp luật và đạo đức trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay” đã
đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật ở nước ta hiện nay, phân tích
thành tựu và hạn chế của mối quan hệ này và đưa ra những giải pháp để hoàn thiện mối
quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền.
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thuý Hoa với đề tài “kết hợp pháp luật và đạo
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được được mục đích đó, tác giả luận văn xác định những nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về đạo đức ngành y, pháp luật lĩnh vực y
tế và mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực y tế.
- Làm rõ thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong xây dựng đô ̣i ngũ
cán bộ, công chức viên chức y tế ở Việt Nam hiện nay.
- Đưa ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức
trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong lĩnh vực y tế.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu: Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức và mối quan
hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực y tế.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các vấn đề liên quan đến pháp luật trong lĩnh
vực y tế, đạo đức ngành y và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ công chức viên chức
trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Tác giả luận văn sử dụng phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp
và diễn dịch, điều tra xã hội học… nhằm thực hiện mục đích mà đề tài đặt ra.
6. Đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong
việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức áp dụng trong lĩnh vực y tế.
Nêu lên được những thực trạng những vấn đề về đạo đức và pháp luật ngành y tế,
trong điều kiện nền kinh tế thị trường, đưa ra được những ví dụ sinh động nhằm minh họa
thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức, lĩnh vực y tế.
Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng mối quan hệ
trong xây dựng đội ngũ công chức ngành y có đủ đức tài, vừa hồng vừa chuyên.
Trong quá trình nghiên cứu, có rất nhiều tài liệu với các cách giải thích khác nhau
về khái niệm pháp luật, có thể kể đến một số khái niệm pháp luật như sau:
Theo quan điểm giáo trình lý luận nhà nuớc và pháp luật của Đại học Luật Hà Nội
năm 2003: “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử xự do nhà nước ban hành và đảm bảo
thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội là nhân tố điều chỉnh các quan
hệ xã hội” [52, tr102].
Theo quan điểm giáo trình lý luận nhà nuớc và pháp luật của Khoa Luật - Đại học
Quốc Gia Hà Nội năm 2005: “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung
do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở
ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững
của xã hội” [26, tr 288].
Theo quan điểm giáo trình lý luận nhà nuớc và pháp luật của Đại học Luật năm
2010: “Pháp luật là hệ thống quy tắc xử xự mang tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra
hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ
thể” [53, tr98].
Trên cơ sở những quan điểm nêu trên, có thể thấy pháp luật có những đặc điểm
sau: Pháp luật là quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, pháp luật do Nhà nước đặt ra hoặc
thừa nhận, pháp luật là phương tiện để xác định, thiết lập trật tự xã hội có hiệu lực bắt
buộc và được kiểm soát, đảm bảo, bảo vệ của Nhà nước. Tuy nhiên, khác với hệ thống
pháp luật quốc gia, pháp luật y tế chỉ điều chỉnh mảng quan hệ xã hội gắn liền với lĩnh
vực y tế.
Kế thừa có chọn lọc các khái niệm trên tác giả luận văn đồng ý với quan điểm
pháp luật là hệ thống các quan điểm pháp luật là “hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt
buộc chung do Nhà nuớc đặt ra hoặc thừa nhận” nhưng không đồng ý với quan điểm “thể
hiện ý chí của giai cấp thống trị”, bởi ngoài ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội hiện
nay pháp luật còn phải thể hiện ý chí chung của toàn xã hội. Do đó, tác giả luận văn
mạnh dạn đề xuất khái niệm pháp luật lĩnh vực y tế như sau: Pháp luật y tế là hệ thống
hội đã định hình mà còn phải có khả năng dự báo, tức là điều chỉnh những quan hệ mới
sẽ nảy sinh trong lĩnh vực y tế.
- Đặc thù về đối tượng điều chỉnh của pháp luật lĩnh vực y tế:
Các quan hệ phát sinh giữa cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm
việc tại các cơ sở y tế trong toàn quốc. Các quan hệ phát sinh giữa cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan đến các dịch vụ y tế, các chính sách về y tế…
Các quan hệ phát sinh trong việc thành lập, cải tiến cơ cấu bộ máy y tế, cải tiến
chế độ làm việc, hoàn chỉnh các quan hệ công tác của các cơ quan nhà nước, hoạt động
quản lý y tế, hoạt động kiểm tra, giám sát đối với việc thực hiện pháp luật của các cơ
quan, đơn vị trực thuộc, các tổ chức và cá nhân thuộc lĩnh vực y tế, xử lí các cá nhân, cơ
quan, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật y tế.
Các quan hệ phát sinh trong hoạt động y tế: Giữa bộ y tế với cơ sở trực thuộc; giữa
cá nhân hoạt động trong lĩnh vực y tế với những người được hưởng, sử dụng dịch vụ, chế
độ y tế, chăm sóc, khám, chữa bệnh; hoạt động giữa các cơ sở y tế, tổ chức đối với những
người có liên quan đến dịch vụ y tế, những người được hưởng, sử dụng dịch vụ y tế,
chăm sóc, khám, chữa, bệnh…
-
Đặc thù về phương thức điều chỉnh của pháp luật lĩnh vực y tế
Phương thức điều chỉnh của pháp luật y tế là cách thức nhà nước áp dụng
trong việc điều chỉnh bằng pháp luật để tác động đến các quan hệ y tế. Phương thức điều chỉnh
pháp luật y tế là phương thức điều chỉnh mệnh lệnh được điều chỉnh theo quan hệ “ quyền lực
– phục tùng” giữa một bên có quyền nhân danh nhà nước ra những mệnh lệnh bắt buộc với
một bên là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có ý nghĩa phục tùng.
Ngoài phương thức điều chỉnh mệnh lệnh, phương pháp điều chỉnh của pháp luật
lĩnh vực y tế còn là đảm bảo sự bình đẳng giữa những người bệnh với cơ sở y tế, những
người được hưởng, sử dụng dịch vụ y tế, chế độ y tế, chăm sóc khám chữa bệnh. Những
chủ thể đó có quyền lựa chọn dịch vụ y tế, lựa chọn chế độ y tế, chế độ chăm sóc, khám,
trong dân gian, vừa đậm chất học thuật, bới vậy nó được hiểu theo nhiều cách khác nhau
trong những thời gian, không gian, đối tượng khác nhau.
Trong đời sống hàng ngày đạo đức được quan niệm là đức hạnh, phẩm hạnh của
con người, là những nét đẹp, nét tốt, “những phẩm chất tốt đẹp, của con người do tu
dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức đã có” [49, tr280]. Như vậy, trong đời sống thường
ngày, đạo đức được đồng nhất với ý thức, phẩm chất đạo đức cá nhân.
Trong khoa học, đạo đức được hiểu theo nhiều nghĩa với phạm vi rộng, hẹp khác nhau.
Theo nghĩa hẹp, đạo đức là: “những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận thừa nhận, qui định
hành vi, quan hệ của con người với nhau và đối với xã hội [27, tr280].
Trong pháp luật Việt Nam hiện hành đạo đức cũng được đề cập đến tại điều 128 Bộ
luật Dân sự năm 2005: “Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với
người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”
Đạo đức trong lĩnh vực y tế còn được hiểu là y đức.
Ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam, các thầy thuốc phải đọc Lời thề Hippocrates
khi chuẩn bị ra trường để hành nghề. Lời thề này được các sinh viên Y khoa đọc và nguyện
làm theo trong lễ tốt nghiệp Trong lịch sử y học Việt Nam, các bậc danh y đều cho rằng, y
đức quan trọng không kém gì y thuật. Trong số đó, chúng ta phải kể đến Tuệ Tĩnh (thế kỷ
XIV) và Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720- 1791). Các ông không chỉ là các bậc
danh y, mà còn là những nhà tư tưởng lớn về y đức. Các ông rất chú trọng xây dựng và
truyền đạt y đức. Như Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, trong suốt cuộc đời rèn luyện và
phục vụ y học, ông luôn tự nhắc nhở mình phải “tiến đức, tu nghiệp”. Tiến đức là mỗi ngày
phải rèn luyện cho toàn thiện, toàn mỹ đạo đức của người hành nghề y. Tu nghiệp là hàng
ngày phải chăm chỉ học tập cho y thuật ngày càng giỏi. Đối với Hải Thượng Lãn Ông, đạo
làm thuốc không chỉ bó hẹp trong phạm vi chuyên môn nghề nghiệp, mà còn bao hàm cả
đạo đức nghề nghiệp. Y thuật phải gắn liền với y đức. Thấm nhuần chủ nghĩa nhân đạo
trong nghề y, Hải Thượng Lãn Ông cho rằng, một người thầy thuốc chân chính không
những phải có kiến thức vững vàng về chuyên môn, mà còn phải tự xác định cho mình
những quy chuẩn đạo đức đúng đắn, đó là ý nghĩa đích thực của đạo làm thuốc và cũng là
nghiệp của mình.
1.1.2.2. Đặc điểm của đạo đức nghề y
Đạo đức trước hết là hệ thống những quan niệm, quan điểm, tư tưởng của một
cộng đồng ( dân tộc, giai cấp, tôn giáo) về thiện – ác, tốt – xấu, chân - giả, vinh – nhục,
về sự công bằng, nghĩa vụ, danh dự và về những phạm trù khác thuộc đời sống tinh thần
xã hội, trong đó cơ bản và cốt lõi là quan điểm về điều thiện trong xã hội. Trên cơ sở các
quan niệm, quan điểm đó, là một hệ thống các qui tắc ứng xử của con người được hình
thành. Những quan điểm, quan niệm, qui tắc đạo đức như vậy đã đi vào đời sống, được
thực hiện hóa thành hành vi đạo đức một cách sống động, trở thành đạo đức trong cuộc
sống. Sau cùng đến lượt mình, hành vi của các chủ thể lại trở thành đối tượng đánh giá
của cộng đồng cũng như của chính bản thân chủ thể. Sự đánh giá này là một mắt khâu
của việc điều chỉnh bằng đạo đức đối với hành vi của con người. Sự đồng tình hay phản
đối của cộng đồng đối với hành vi của một chủ thể không chỉ có vai trò củng cố đạo đức,
hoàn thiện nhân cách, định hướng cho hành vi chủ thể đó mà nó còn có vai trò quan trọng
trong việc hình thành và hoàn thiện các quan niệm, quan điểm, qui tắc đạo đức xã hội.
Các hiện tượng đạo đức thường biểu hiện dưới hình thức khảng định, hoặc phủ định một
lợi ích chính đáng hoặc không chính đáng nào đó. Nghĩa là nó thể hiện sự tán thành hay
phản đối trước thái độ hoặc hành vi ứng xử của cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng xã
hội nhất định. Vì vậy, đạo đức là nội dung hợp thành giá trị xã hội. Nội dung của đạo đức
là do hoạt động thực tiễn và tồn tại xã hội quyết định. Nhận thức xã hội đem lại các hình
thức cụ thể của phản ánh đạo đức, làm cho đạo đức tồn tại như một lĩnh vực độc lập về
sản xuất tinh thần trong xã hội.
Sự hình thành phát triển, hoàn thành bản chất xã hội của đạo đức được quy định
bởi trình độ phát triển và hoàn thiện của nhận thức xã hội con người. Nói cách khác, nội
dung khách quan của các quan niệm, quan điểm, các nguyên tắc, Các chuẩn mực đạo đức
chính là biểu hiện của trạng thái, một trình độ phát triển nhất định của những điều kiện
sinh hoạt vật chất của xã hội, của cơ sở kinh tế. Với tính cách là sự phản ánh tồn tại xã
hội, đạo đức mang những đặc điểm sau:
Pháp luật và y đức đều có chức năng chung là điều chỉnh hành vi của con người và
các mối quan hệ xã hội. Giữa pháp luật về y tế và đạo đức nghề y, xét về nguyên tắc,
không có một sự đối lập nào, cả hai đều hướng tới công bằng, vì con người, bảo vệ con
người, vì sự thiết lập những quan hệ tốt đẹp trong xã hội.
Điều chỉnh hành vi của cán bộ, công chức, viên chức lĩnh vực y tế, pháp luật và y
đức đều mang tính quy phạm phổ biến, chúng đều là những mô hình, những khuôn mẫu
xử sự cho hành vi cụ thể. Trong lĩnh vực y tế, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do
nhà nước ban hành, nó có tác động đến tất cả các cá nhân, các tổ chức, các cơ quan y tế
trên mọi vùng lãnh thổ của đất nước. Trong khi đó, đạo đức nghề y là những chuẩn mực
về hành vi con người liên quan đến những gì được xem là tốt và đúng soi với những cái
gì được xem là xấu và sai.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Ngọc Bích (2000), Tâm lý học nhân cách, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
Nội.
2. Bộ y tế (1996), Quy định về y đức, Hà Nội.
3. Bộ y tế (1997), Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác bảo vệ sức khỏe, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
4. Bộ y tế (2009), “Nhân lực y tế”, Báo cáo tổng quan ngành y tế, JAHR.
5. Bộ y tế (2011), “Hệ thống y tế Việt Nam trước thềm kế hoạch 5 năm 2011-2015”,
Báo cáo chung tổng quan ngành y tế, JAHR.
6. Bộ y tế ( 2013), “Hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân”, Báo cáo chung
tổng quan ngành y tế, JAHR.
7. Bộ y tế (2014), Báo cáo 1527 chuẩn bị chất vấn phiên họp thứ 26 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội, Hà Nội.
8. Bộ y tế (2015), Báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2014 một số nhiệm vụ và giải
pháp trọng tâm năm 2015 giai đoạn 2016-2020, Hà Nội.
9. Bộ y tế, Vụ pháp chế (2014), Báo cáo công tác thanh tra năm 2014, Hà Nội.
10. Phan Bội Châu (2000), Khổng học đăng toàn tập, tập 10, Nxb Thuận Hóa, Trung tâm