Đại học quốc gia hà nội
Khoa Luật
Nguyễn Thị Bắc Mối quan hệ giữa pháp luật và hương ước
trong đời sống xã hội việt nam hiện nay
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2009
13
1.1.3.
Sự tương đồng và khác biệt giữa pháp luật và hương ước
23
1.1.3.1.
Sự tương đồng giữa pháp luật và hương ước
23
1.1.3.2.
Sự khác biệt giữa pháp luật và hương ước
28
1.2.
Mối quan hệ giữa pháp luật và hương ước
32
1.3.
Sự kết hợp giữa pháp luật và hương ước trong việc điều chỉnh
các quan hệ xã hội
46
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
PHÁP LUẬT VÀ HƯƠNG ƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
51
2.1.
Thực trạng pháp luật, hương ước và mối quan hệ giữa chúng
ở Việt Nam hiện nay
51
2.1.1.
Sơ lược về tình hình pháp luật và hương ước ở Việt Nam
hiện nay
51
2.1.2.
Kiểm tra, giám sát việc xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật
và hương ước trong xã hội, xử lý nghiêm minh những hành
vi vi phạm pháp luật
86
KẾT LUẬN
87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
89
PHỤ LỤC
96
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Pháp luật từ khi ra đời cho tới ngày nay luôn luôn được coi là công cụ
chủ yếu để quản lý nhà nước, duy trì trật tự xã hội. Ở Việt Nam hiện nay, với
chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân,
vì dân thì vai trò của pháp luật luôn được xác định là công cụ chủ yếu, cơ bản
để quản lý xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh pháp luật còn rất nhiều công cụ quản
lý xã hội khác được Nhà nước thừa nhận, khuyến khích áp dụng, trong đó có
hương ước.
Hương ước là di sản văn hóa đặc sắc của nhân dân Việt Nam. Một
phần tâm hồn thuần hậu, chất phác và rất đỗi bao dung của làng quê Việt đã
được ghi lại trong hương ước. Hương ước là tấm gương phản ánh trung thực
cách khoa học nhằm làm rõ mối quan hệ giữa pháp luật và hương ước đang
trở thành một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với mục tiêu xây dựng Nhà
nước pháp quyền ở Việt Nam. Thông qua quá trình nghiên cứu, chúng ta sẽ
thấy rõ hơn vai trò, mối quan hệ, hiệu quả điều chỉnh cũng như những vấn đề
còn tồn tại của pháp luật và hương ước trong thực tế đời sống để từ đó có
những cái nhìn đúng đắn, có những giải pháp hiệu quả hơn, thiết thực hơn
nhằm xây dựng, thực hiện pháp luật và hương ước mang lại vai trò đích thực
là quản lý xã hội một cách tốt nhất.
Tìm hiểu mối quan hệ giữa pháp luật và hương ước trong đời sống xã
hội Việt Nam hiện nay là đề tài được ấp ủ trong tác giả luận văn từ khá lâu
cũng bởi xuất phát từ những lý do đã nêu trên.
Đồng thời, qua nghiên cứu vấn đề giúp bản thân người viết đi từ hiểu
đến thêm yêu, thêm gắn bó với mảnh đất quê hương, nơi sinh thành, nơi cất
giữ những kỷ niệm tuổi thơ êm đềm. Bởi bên cạnh đó, sự vươn lên mạnh mẽ
của nền kinh tế trong thời gian gần đây đã khiến những giá trị văn hóa lịch sử 3
ấy đứng trước nguy cơ bị xói mòn nghiêm trọng. Khi thực hiện đề tài này,
tác giả mong muốn được góp một phần công sức nhỏ bé vào việc ngăn chặn
nguy cơ ấy.
Qua khảo sát thực tế, tác giả nhận thấy cán bộ cấp xã, thôn - những
người được giao trọng trách soạn thảo quy ước làng văn hóa mới, hoặc không
có khái niệm gì về hương ước cổ truyền hoặc cho rằng nghiên cứu nó là điều
không cần thiết. Tư liệu mà họ căn cứ vào là pháp luật của Nhà nước và nếp
sinh hoạt hiện nay trong làng xã. Kết quả là nhiều hương ước, quy ước mới
được ban hành mang nặng tính áp đặt và gán ghép. Thực trạng đáng buồn trên
đây càng thôi thúc tôi lựa chọn đề tài này với mục đích: bước đầu làm sáng tỏ
các giá trị đích thực của hương ước để kế thừa những kinh nghiệm quý báu
phục vụ công cuộc xây dựng quê hương.
ước xưa và nay đồng thời tác giả cũng nêu rõ những vấn đề mà hương ước
hiện nay cần giải quyết; Lê Đức Tiết: Về hương ước lệ làng, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1998, cho thấy một cái nhìn khá toàn diện về hương ước
trong suốt quá trình từ khi hình thành, mối quan hệ với pháp luật cũng như vai
trò của hương ước trong đời sống xã hội nông thôn Việt Nam; Hương ước
trong quá trình thực hiện dân chủ ở nông thôn Việt Nam hiện nay, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2004, do Đào Trí Úc chủ biên là tâm huyết của tập thể
các tác giả về hương ước xưa và nay, mối quan hệ giữa pháp luật và hương
ước đồng thời nêu bật lên vị trí, vai trò của hương ước với việc thực hiện dân
chủ ở nông thôn hiện nay; Vũ Duy Mền: Tìm lại làng Việt xưa, Nxb Văn hóa
thông tin, Hà Nội, 2006. Nhiều bài nghiên cứu có giá trị về hương ước đã
được giới thiệu trên các báo, tạp chí. Tác giả Vũ Duy Mền qua loạt bài in trên
Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4/1982, số 3 + 4/1989, số 1/1993 đã xác định
thuật ngữ khoán ước, hương ước, giới thiệu nội dung của nó, trình bày nguồn
gốc và điều kiện xuất hiện hương ước trong làng xã vùng đồng bằng và trung
du Bắc Bộ. 5
Gần đây, cuộc vận động xây dựng và thực hiện quy ước văn hóa được
đẩy mạnh đã tạo điều kiện cho việc nghiên cứu hương ước thuận lợi hơn. Mặt
khác, xu thế toàn cầu hóa trên mọi lĩnh vực mở ra cơ hội cho các nhà khoa
học Việt Nam tiếp cận với nhiều nguồn kiến thức mới. Một số học giả đã dày
công nghiên cứu, đặt hương ước làng Việt trong mối quan hệ tương đồng và
dị biệt với "hương qui" của Trung Quốc, "luật làng" của Nhật Bản. Như cuốn
Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2001, của Phan Đại Doãn, hay công trình Hương ước làng
xã Bắc Bộ Việt Nam với luật làng Kanto Nhật Bản (thế kỉ XVII - XIX), của
Viện Sử học, Hà Nội, 2001, do Vũ Duy Mền chủ biên.
2. Các công trình chuyên sưu tầm và giới thiệu hương ước, chủ yếu là
nhiều công trình khoa học nghiên cứu trực tiếp làng xã, gián tiếp về mối
quan hệ giữa pháp luật và hương ước đã được xuất bản. Một số tác giả đề
cập đến hương ước trong mối quan hệ với phong tục làng xã như: Ngô Tất Tố
với hai thiên phóng sự: Việc làng, Nxb Mai Lĩnh, Hà Nội, 1937 và Tập án cái
đình, Nxb Văn họ, Hà Nội, 1977, tập trung phê phán những thói hư tật xấu,
những hủ tục lạc hậu - một lực cản kéo lùi sự phát triển của các vùng thôn
quê; Phan Kế Bính với Việt Nam phong tục, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,
1990; Lệ làng Việt Nam, Nxb Hà Nội, 1999, của Hồ Đức Thọ bàn về những
tập tục, lệ làng Trong khi tìm hiểu về cơ cấu tổ chức làng xã nhiều nhà sử
học cũng đã sử dụng hương ước như một nguồn tư liệu đáng tin cậy nhất: Xã
thôn Việt Nam, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1959, của Nguyễn Hồng Phong;
Trần Từ với Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội, 1984; Phan Đại Doãn - Nguyễn Quang Ngọc: Kinh nghiệm tổ
chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1994; Nguyễn Minh Đoan: Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, cũng đề cập đến mối quan hệ giữa
pháp luật và hương ước ở Việt Nam và rất nhiều các công trình khác nữa.
Như vậy, vấn đề về pháp luật, về hương ước của nước ta đã được nghiên
cứu trên nhiều bình diện khác nhau. Song, cho đến thời điểm này vẫn chưa có 7
một công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp, cụ thể về mối quan hệ giữa
pháp luật và hương ước trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay theo hướng
giải quyết triệt để cả vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn mối quan hệ này.
Với luận văn của mình, tôi mong được đóng góp công sức vào việc nghiên
cứu mối quan hệ nêu trên được thấu đáo hơn, mang lại những giá trị thiết thực
trong việc nâng cao chất lượng của những công cụ điều chỉnh xã hội.
3. Nhiệm vụ của đề tài
Phân tích một cách khoa học và hệ thống về mặt lý luận mối quan hệ
tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương
pháp lôgic, phương pháp liên ngành để làm sáng tỏ nội dung các vấn đề của
luận văn.
6. Đóng góp của luận văn
Trên cả hai phương diện khoa học và thực tiễn luận văn đã có những
đóng góp nhất định. Bởi đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ
thống về mối quan hệ giữa pháp luật và hương ước trong đời sống xã hội Việt
Nam hiện nay nên trước hết nó có ý nghĩa về mặt tư liệu. Mặt khác, trên cơ sở
phân tích lý luận về mối quan hệ giữa pháp luật và hương ước, thực trạng mối
quan hệ này trong đời sống xã hội Việt Nam, từ đó đã đề xuất những giải
pháp phù hợp, có giá trị góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật
và hương ước trong thực tế đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.
Khi trình bày luận văn, tác giả đã cố gắng làm rõ tính đặc sắc của
hương ước như một di sản văn hóa của của dân tộc. Đồng thời qua nghiên
cứu vấn đề này giúp những người trực tiếp soạn thảo quy ước văn hóa mới
có cái nhìn đúng đắn, khách quan hơn về giá trị những hương ước của quê
hương mình. 9
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về pháp luật, hương ước và mối quan
hệ giữa chúng.
Chương 2: Thực trạng và giải pháp về mối quan hệ giữa pháp luật và
hương ước ở Việt Nam hiện nay.
11
nước - đại diện của tất cả các giai tầng, các lực lượng khác trong xã hội ban
hành. Bên cạnh việc dùng pháp luật là công cụ để củng cố, duy trì, bảo vệ địa
vị của giai cấp thống trị thì pháp luật còn đảm nhiệm vai trò điều hòa lợi ích
của các giai cấp trong xã hội nhằm duy trì một trật tự xã hội tương đối ổn
định. Hơn nữa, chỉ khi nào pháp luật được xây dựng trên cơ sở những điều
kiện chung của xã hội, phù hợp với ý chí, nguyện vọng của đông đảo các tầng
lớp nhân dân mới thực sự mang lại hiệu quả quản lý xã hội của nó. Như vậy,
pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp sâu sắc, vừa mang tính xã
hội, thể hiện ý chí nhà nước, quyền lực nhà nước.
Với những thuộc tính cơ bản nêu trên, pháp luật mang lại những giá trị
xã hội to lớn. Pháp luật là cơ sở để đảm bảo an ninh và an toàn xã hội. Pháp
luật được xây dựng theo một trình tự nghiêm ngặt, được Nhà nước ban hành
công khai, rộng khắp trên toàn bộ lãnh thổ, tới tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội với những quy định cụ thể, được đảm bảo thực hiện bằng sức
mạnh quyền lực của Nhà nước. Pháp luật còn là sự biểu hiện của văn minh và
văn hóa nhân loại. Pháp luật ra đời cùng với sự ra đời của Nhà nước khi xã
hội phát triển tới một trình độ nhất định, đánh dấu một bước tiến quan trọng
trong lịch sử nhân loại. Bản thân pháp luật chính là hiện thân của hiện tượng
văn hóa nhân loại, từ khi ra đời đến nay trong mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể với
đặc trưng riêng của mình, pháp luật đều để lại những giá trị văn hóa khác
nhau, có sự tác động mạnh mẽ tới tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,
mang đậm dấu ấn riêng theo từng tiến trình lịch sử. Pháp luật là cơ sở để đảm
bảo quyền tự do của con người trong lao động và trong cuộc sống, bởi vì pháp
luật tạo dựng nên những khuôn khổ pháp lý với những quyền và nghĩa vụ
tương ứng buộc mọi người phải tự tuân thủ nghĩa vụ của bản thân và tôn
trọng quyền tự do của người khác. Pháp luật là cơ sở để đảm bảo sự bình đẳng
và công bằng xã hội. Pháp luật quy định nguyên tắc mọi người đều được bình
đẳng và đối xử công bằng trước pháp luật. Theo đó, bất cứ chủ thể nào khi
Cũng thông qua pháp luật mà Nhà nước có cơ chế kiểm tra, giám sát tổ chức
và hoạt động của các tổ chức, cơ quan, nhân viên nhà nước và toàn thể các cơ
quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội; pháp luật góp phần tạo dựng những quan 13
hệ mới. Thông qua những cơ sở nghiên cứu cụ thể, xác đáng, Nhà nước có thể
dự kiến được những biến động, những xu hướng, những khả năng phát triển
của xã hội trong tương lai để có những quy định phù hợp, kịp thời điều chỉnh
những quan hệ mới, góp phần giữ gìn trật tự xã hội một cách tốt nhất. Không
những góp phần duy trì trật tự xã hội trong nước, pháp luật còn góp phần tạo
ra môi trường ổn định để thiết lập, duy trì và phát triển các quan hệ ngoại giao
giữa các quốc gia trên thế giới. Bởi vì, nhu cầu cũng như mong muốn của con
người là luôn mong muốn được phát triển trong một môi trường an toàn, hữu
nghị, rộng mở, gắn kết. Pháp luật chính là cầu nối cho sự gắn kết đó, giúp con
người xích lại gần nhau hơn, cùng giúp nhau vượt qua những khó khăn và
mang đến cho nhau những cơ hội phát triển chung.
1.1.2. Khái quát chung về hƣơng ƣớc
Mặc dù pháp luật có vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát triển của
loài người, là công cụ quản lý xã hội hữu hiệu nhưng pháp luật không phải là
công cụ quản lý xã hội duy nhất. Bên cạnh pháp luật còn có những công cụ
quản lý xã hội khác như: đạo đức, tôn giáo, điều lệ của các tổ chức, tập quán
trong đó có hương ước - một phần lệ làng thành văn.
Trong những năm gần đây, thuật ngữ hương ước không chỉ quen
thuộc đối với các nhà khoa học mà còn rất phổ biến trong nhân dân, nhất là từ
khi hiện tượng tái lập hương ước và xây dựng làng văn hóa mới phát triển
thành một phong trào rộng khắp cả nước. Tuy nhiên, để hiểu một cách thấu
đáo khái niệm hương ước cũng như để lý giải được nguồn gốc và sự xuất hiện
của thuật ngữ này trong lịch sử Việt Nam không phải là vấn đề đơn giản.
Theo nhiều nhà nghiên cứu, hương ước là thuật ngữ nguyên Hán, được
kỷ trước đây. Hương ước là một bộ phận của văn hóa làng; đồng
thời là di sản văn hóa dân tộc có tính chất pháp lý khá độc đáo của
làng xã cổ truyền Việt Nam [60, tr. 9].
Ngắn gọn hơn, với Diệp Đình Hoa, hương ước chính là lệ làng: "Mỗi
người Việt Nam từ trong tiềm thức, có lẽ ai cũng hiểu thành ngữ: "Phép vua 15
thua lệ làng". Lệ là một từ Hán Việt, làng là một từ thuần Việt. Vì thế trong
các văn bản, để cho nghiêm chỉnh, người ta thường thay vào đó chữ hương
ước, một khái niệm Hán Việt" [21, tr. 1]. Và còn nhiều cách định nghĩa khác
nữa. Như vậy, dù được diễn đạt bởi ngôn từ hoàn toàn không giống nhau, dù
được phát biểu ở góc độ khoa học nào, các ý kiến đều thống nhất ở điểm coi
hương ước là phần lệ làng được văn bản hóa. Theo chúng tôi, thuật ngữ
hương ước qua định nghĩa sau của tác giả Vũ Duy Mền là chi tiết và trọn vẹn
hơn cả:
Là những quy ước về hầu hết các mặt hoạt động của làng xã
người Việt, như cách thức tổ chức và hoạt động của các thiết chế tổ
chức trong làng xã: Hội tư văn, tư võ, hội thiện, phe - giáp, xóm
ngõ Các hoạt động xã hội: Hội hè đình đám lễ tế, tuần phòng,
khao vọng, giao hiếu Một số hoạt động kinh tế Đó là những quy
ước vừa mang nét chung và rất nhiều nét riêng, rất riêng của mỗi
làng Việt [33, tr. 83].
Hương ước vốn là sản phẩm văn hóa - tinh thần độc đáo của làng Việt,
bởi thế nguồn gốc hương ước gắn liền với những biến đổi thăng trầm trong
đời sống thôn quê. Cùng với sự phát triển tất yếu của xã hội, Công xã nông
thôn hình thành, ngày càng thịnh vượng về kinh tế, đông đúc về dân cư nên
các quan hệ xã hội theo đó mà trở nên phức tạp hơn. Thực tế ấy đòi hỏi cần
phải có những quy định - dẫu rằng lúc đầu còn hết sức sơ lược - trong quan hệ
giữa các thành viên công xã với nhau và giữa các thành viên với tổ chức cộng
cường thịnh.
Hương ước xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng thế kỷ XV, được phổ
biến nhanh chóng trong các làng người Việt ở đồng bằng, trung du Bắc Bộ và
Bắc Trung Bộ thời bấy giờ. Hình thức tồn tại của hương ước rất phong phú,
đó là những luật tục - hiện tượng phổ biến ở tất cả các tộc người hiện nay ở
Việt Nam. Theo Ngô Đức Thịnh, nếu căn cứ vào hình thức tồn tại của các luật
tục này, có thể chia thành ba loại: i) Luật tục dưới dạng các lời nói văn vần
truyền miệng, ii) Luật tục thành văn hay đã được văn bản hóa, và iii) Luật tục 17
còn dưới dạng những thực hành xã hội. Luật tục đã được cố định thành dạng
lời nói vần được truyền miệng từ đời này qua đời khác phổ biến ở các tộc người
Tây Nguyên như Phatkdi của người Ê-đê, Phat kđuôi của người M’nông, Tơ
lơi djuat hay tơ lơi phian của người Gia-rai, dây tơ ron kdi của người Bahnar,
Ndri của người Stiêng (Sabatier 1940; Gerber 1951; Guileminet 1952). Luật
tục các dân tộc ở Tây Nguyên phần lớn do người Pháp phát hiện sưu tầm và
hệ thống lại ở những mức độ khác nhau, chỉ có bộ luật tục M’nông là phát
hiện mới của Ngô Đức Thịnh, ngoài ra, một số nhà nghiên cứu dân tộc học và
văn hóa dân gian cũng đã thẩm tra và bổ sung vào các bộ luật Ê-đê, Gia-rai
mà người Pháp phát hiện trước đây. Hương ước như là một tri thức bản địa,
tri thức địa phương, được hình thành dưới nhiều dạng khác nhau trong quá
trình lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường và xã hội, qua
thực hành sản xuất và thực hành xã hội, được truyền từ đời này sang đời khác
qua trí nhớ. Hương ước hướng tới hướng dẫn, điều chỉnh và điều hòa các
quan hệ xã hội theo một chuẩn mực được cả cộng đồng thừa nhận, ủng hộ và
thực hiện theo. Thế mạnh của hương ước là khơi dậy "góc khuất" tiềm tàng ẩn
chứa trong mỗi con người khiến họ dễ dàng tuân thủ theo một cách tự nhiên,
không khiên cưỡng như pháp luật, không cứng nhắc như pháp luật. Thật
không quá khi so sánh ở một khía cạnh nào đó thì hiệu quả của "chế tài" -
cắp tài sản, đánh lộn
Có thể nói, hương ước chính là một loại "pháp luật" của thôn làng. Hệ
thống "pháp luật" này không hề mâu thuẫn với hệ thống pháp luật do Nhà
nước ban hành vì "hương ước tuy có nguồn gốc khác với pháp luật Nhà nước
nhưng không phải là pháp luật của những địa phương cát cứ, có xu hướng ly
khai với chính quyền Trung ương" [59, tr. 47]. Giữa hương ước và pháp luật
không hề xung đột, mâu thuẫn, phủ định, loại bỏ nhau mà trái lại còn bổ sung
cho nhau, hỗ trợ cho nhau một cách tốt nhất để xã hội luôn được duy trì trong
trạng thái ổn định, phát triển. Hương ước được đặt ra không nằm ngoài mục
đích giúp cho cuộc sống từng đơn vị dân cư đi vào nề nếp, có tổ chức, có trật
tự kỷ cương để duy trì, chỉnh đốn, xây dựng phong tục tốt đẹp, phong cách
sống có đạo đức của người dân trong từng thôn làng Sự thống nhất về mục 19
đích ban hành đó là cầu nối giúp hương ước của làng xã luôn tồn tại một cách
bền vững bên cạnh hệ thống pháp luật ngày càng được củng cố chặt chẽ của
Nhà nước.
Hương ước là hình thức "văn bản hóa" các tục lệ, phong tục, tập quán
của mỗi vùng, miền cụ thể. Phần lớn nội dung của các bản hương ước đều quy
định các vấn đề về tục lệ, phong tục tập quán, tập tục sinh hoạt của cộng đồng
dân cư như: nghi thức ma chay, cưới hỏi, lễ hội Đồng thời, nội dung của
hương ước còn chứa đựng những chuẩn mực đạo đức nhằm hướng dẫn hành
vi cá nhân và tạo dư luận xã hội để điều chỉnh những hành vi đó. Ví dụ: các
quy định về trách nhiệm tôn kính người cao tuổi, phụng dưỡng cha mẹ già,
giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn, lên án tệ cờ bạc, ngăn ngừa quan hệ
bất chính.
Với những đặc điểm nêu trên, hương ước giữ vai trò vô cùng quan
trọng trong đời sống làng xã: Hương ước trực tiếp kiểm soát thế ứng xử của
các thành viên trong cộng đồng, tạo ra sự ràng buộc, áp đặt và cưỡng chế của
tính tự quản của nhân dân nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục, tập
quán tốt đẹp và truyền thống văn hóa trên địa bàn làng, bản, thôn, ấp, cụm
dân cư, góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật.
Theo quy định trên đây, có thể hiểu hương ước là kết ước của người
dân, được thể hiện dưới hình thức văn bản với nhiều tên gọi khác nhau như:
hương ước, quy ước làng, quy chế Hương ước do cộng đồng dân cư cùng
nhất trí, thỏa thuận đặt ra và cùng cam kết thực hiện. Bất cứ quy định nào
khác của cá nhân, cơ quan tổ chức đặt ra đều không phải là hương ước, không
phù hợp với những đặc điểm của hương ước. Mặt khác, hương ước là một loại
văn bản quy phạm nên nó cũng chứa đựng những quy định bắt buộc hoặc cho
phép mọi người được làm hoặc không được làm những việc nhất định trong
sinh hoạt cộng đồng. Tuy nhiên, vì là quy phạm xã hội do cộng đồng dân cư
cùng thống nhất thỏa thuận đặt ra nên tính chất của nó cũng khác hẳn so với
quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành mặc dù các quy định trong hương
ước phải phù hợp và không được trái với các quy định của pháp luật. 21
Xét về quan niệm chung, các bản hương ước mới ngày nay không
khác nhiều so với các bản hương ước cổ. Nhưng khi đi vào xem xét cụ thể vị
trí, vai trò, phạm vi tác động, nội dung điều chỉnh thì giữa hương ước mới và
hương ước cổ có rất nhiều sự khác biệt. Hầu hết các bản hương ước cổ đều
chú trọng điều chỉnh các vấn đề liên quan đến tổ chức làng xã với các thiết
chế tự quản như: Hội đồng kỳ mục (cơ quan có quyền tối cao đối với các mặt
sinh hoạt làng xã), Hội đồng lý dịch (đại diện cho Nhà nước phong kiến chịu
trách nhiệm trước Nhà nước về mặt dân đinh), Giáp (đơn vị quản lý nhân
đinh, phân bổ việc biện lễ, tế lễ, sưu thuế ). Hương ước mới lại không quan
tâm nhiều tới các thiết chế tự quản mà theo hướng dẫn chung nên thường đề
ra các biện pháp, phương thức thích hợp giúp nhân dân trên địa bàn tham gia
quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đảm bảo các quyền và nghĩa vụ hợp pháp
vì thế mà pháp luật và hương ước hoàn toàn khác biệt và mâu thuẫn nhau, trái
lại còn bổ sung cho nhau được hoàn chỉnh hơn, đầy đủ hơn. Pháp luật quy
định những khuôn khổ chung còn hương ước cụ thể hóa những quy định đó
vào thực tiễn đời sống phong phú, phù hợp với những quy định của pháp luật.
Có thể nói hương ước chính là hình thức thực hiện pháp luật một cách sáng
tạo và hiệu quả, đưa những quy định khô khan chung chung của pháp luật vào
những dẫn chứng sống động của đời thường. Hơn thế, vì đặc thù của pháp
luật chỉ có thể điều chỉnh các quan hệ xã hội trên phạm vi rộng lớn, trên cơ sở
những quy tắc chung nhất, phù hợp với cái chung nên thông qua hương ước
các quy định của pháp luật có thể điều chỉnh tới từng vùng miền, từng khu
vực dân cư với những nét sinh hoạt khác nhau, văn hóa bản địa khác nhau.
Như vậy có thể thấy, thông qua hương ước, pháp luật trở nên cụ thể,
chi tiết hơn, dễ dàng đi vào cuộc sống hơn song hương ước dù do làng xã xây
dựng nên nhưng phải được chính quyền phê chuẩn và hỗ trợ thực hiện mới
đảm bảo hiệu quả điều chỉnh. Cho nên, hương ước phải dựa vào sức mạnh của
pháp luật để được thực hiện nghiêm minh còn pháp luật phải thông qua hương
ước để đi vào cuộc sống một cách dễ dàng hơn. Tuy nhiên, xét ở khía cạnh