1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Dân tộc ÊĐê là một trong 54 dân tộc anh em trong cộng đồng người
Việt Nam, sống chủ yếu ở năm tỉnh Tây Nguyên đông nhất là ở DakLak,
DakNông và sau đó là Gia Lai, Kon Tum và Lâm Đồng. Dân số khoảng
250.000 người. Từ xưa đến nay đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê sống và điều
chỉnh hành vi bằng luật tục của dân tộc mình ít quan tâm đến pháp luật của
Nhà nước. Do vậy, có không ít những phong tục, tập quán lạc hậu đã cản trở
sự phát triển lành mạnh của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê. Mặt khác, có
những phong tục tập quán tiến bộ kết tinh từ bao đời nay của người ÊĐê lại
chưa được pháp luật Nhà nước ta ghi nhận. Vì vậy, pháp luật đi vào cuộc
sống của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê chưa thật sự tự nhiên và ít hiệu quả.
Điều này tạo nên sự cách biệt, thậm chí là xung đột không đáng có giữa cộng
đồng người ÊĐê với người Kinh trong thời gian vừa qua.
Trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và
vì dân của Nhà nước ta hiện nay, pháp luật đã được xác định là công cụ quan
trọng nhất để nhà nước quản lý xã hội. Vì vậy, Nhà nước ta đã sử dụng nhiều
phương pháp để đưa pháp luật đi vào cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số
ÊĐê. Mặt khác, vai trò của luật tục ÊĐê cũng được nâng lên một bước.
Tuy nhiên, về mặt lý luận, mối quan hệ giữa pháp luật với luật tục nói
chung và luật tục ÊĐê nói riêng chưa được giải quyết một cách triệt để, đó là
một trong những nguyên nhân dẫn đến trong thực tiễn xây dựng, tổ chức thực
hiện và bảo vệ pháp luật ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê trong thời
gian qua còn nhiều hạn chế và khiếm khuyết. Điều đó cho thấy cần thiết phải
nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc mối quan hệ giữa pháp luật và luật
tục ÊĐê nhằm chỉ rõ những điểm tương đồng, điểm khác biệt đồng thời nêu
những mặt tích cực cũng như những hạn chế của từng yếu tố trong quản lý xã
mối quan hệ với pháp luật (Hoàng thị Kim Quế, Tạp chí Khoa học kinh tế
luật, số 1/2005).
- Vai trò của người điều hành và thực thi luật tục; Giải quyết tranh
chấp về dân sự trong luật tục ÊĐê; Hiệu lực của luật tục ÊĐê trong dời sống
dân sự hiện đại (Y Nha, Nguyễn Lộc - Tòa án nhân dân tỉnh DakLak). Các
công trình này tác giả viết dưới dạng đề tài khoa học nghiên cứu các vấn đề
liên quan đến vai trò của các già làng, trưởng buôn trong giải quyết tranh chấp
dân sự phát sinh trong đời sống của cộng đồng người ÊĐê và nghiên cứu tính
hiệu lực trên thực tế của luật tục ÊĐê.
- Những quy định của luật tục ÊĐê về hợp đồng và bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng (luật sư Phùng Trung Tập). Nêu trình tự thủ tục giao kết
hợp đồng dân sự, giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự và giải quyết bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của luật tục ÊĐê
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu của một số tác giả về lĩnh
vực hôn nhân gia đình, lĩnh vực văn hóa dân gian, lĩnh vực môi trường v.v…
Như vậy trong thời gian qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về
luật tục ÊĐê, mỗi công trình tiếp cận nghiên cứu luật tục ÊĐê ở các góc độ
khác nhau, nhưng chưa có đề tài nào riêng biệt nói về mối quan hệ giữa pháp
luật và luật tục của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê trong công cuộc xây dựng
nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay. Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan
hệ giữa pháp luật với luật tục ÊĐê đáp ứng yêu cầu cấp bách cả lý luận và
thực tiễn hiện nay ở Việt Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng.
3. Phạm vi nghiên cứu
* Về đối tượng nghiên cứu của luận văn:
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong mối
quan hệ giữa pháp luật và luật tục ÊĐê (thông qua hoạt động xét xử của Tòa
án nhân dân tỉnh DakLak) trên một số lĩnh vực nhất định.
4
* Về thời gian:
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của triết học
Mác - Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh, các
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền
nói chung và chính sách dân tộc nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu dựa trên các
phương pháp: phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể; kết hợp các phương pháp
điều tra xã hội học, phương pháp thống kê tổng hợp số liệu thông qua hoạt
động xét xử các loại án ở Tòa án nhân dân tỉnh DakLak.
6. Ý nghĩa của luận văn
Về lý luận:
Luận văn góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận nhà nước và
pháp luật về mối quan hệ giữa pháp luật với các quy phạm xã hội khác.
Về thực tiễn:
Luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo trong việc xây
dựng pháp luật về chính sách dân tộc của Nhà nước ta trong giai đoạn xây
dựng nhà nước pháp quyền hiện nay.
Luận văn nghiên cứu vấn đề về mối quan hệ tương tác giữa pháp luật
và luật tục của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê trong khi ở địa bàn bốn tỉnh
Tây Nguyên đang có nhiều cuộc bạo loạn của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê
nổi lên đòi thành lập nhà nước Đề Ga độc lập. Tác giả mong muốn kết quả
6
nghiên cứu của bản luận án này góp phần tích cực về việc hài hòa mối quan
hệ giữa pháp luật và luật tục của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê; làm cầu nối
cho người dân tộc thiểu số ÊĐê chung sống hòa bình, tự nhiên với cộng đồng
người Việt trên đất nước Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
nói, hầu hết các sách báo pháp lý, các luật gia, nhà khoa học đều thừa nhận cách
hiểu này. Tuy vậy cũng có một số tác giả không hoàn toàn tán thành cách hiểu
cụm từ: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự. Xuất phát từ quan điểm cho
rằng quy tắc xử sự là những mô hình, khuôn mẫu cho hành vi con ngời, nó
xác định rõ trong điều kiện, hoàn cảnh hay tình huống nào thì chủ thể đợc
làm gì, phải làm gì, làm nh thế nào hay không đợc làm gì., một số tác giả
cho rằng, pháp luật đợc hiểu là hệ thống những quy tắc xử sự sẽ không bao
quát hết những sự vật mà nó phản ánh, bởi lẽ trong pháp luật còn có rất nhiều
8
quy định do nhà nớc ban hành nhng không phải là quy tắc xử sự. Tác giả
cho rằng lập luận này có phần gò bó cứng nhắc. Thực tế, đúng là có rất nhiều
quy định do Nhà nớc ban hành chỉ là để qui định cách hiểu về một thuật ngữ,
giải thích một khái niệm hay nêu lên một t tởng, một nguyên tắc nào đó,
chúng không phải là những quy tắc xử sự bởi chúng không đa ra một phơng
án xử sự cụ thể nào để chủ thể thực hiện theo. Tuy nhiên, chúng lại có ý nghĩa
rất quan trọng trong việc giúp các chủ thể nhận thức và thực hiện một cách
đúng đắn, đầy đủ những quy tắc của hành vi mà nhà nớc đã đề ra. Mặt khác,
pháp luật là hiện tợng xã hội nên không thể là một phép cộng giản đơn của
những quy tắc xử sự do nhà nớc ban hành mà nó còn bao gồm những t
tởng, những nguyên tắc, những khái niệm, thuật ngữ nào đó tạo thành chất keo
liên kết những quy tắc xử sự thành một thể thống nhất. Bởi vậy, theo tác giả,
quan niệm pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự là hoàn toàn chính xác.
Đặc điểm: Từ khái niệm trên ta có thể nhận dạng pháp luật một cách
tơng đối rõ ràng trong vô vàn hiện tợng xã hội khác nhau đang tồn tại trong
xã hội:
Trớc hết, pháp luật mang tính quy phạm, phổ biến, bắt buộc chung.
Quy phạm pháp luật là quy tắc hành vi có giá trị nh những khuôn mẫu xử sự,
hớng dẫn, kiểm tra, đánh giá hành vi của các cá nhân, các quá trình xã hội.
Luật tục ÊĐê nói riêng và các loại công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội khác
Vị trí vai trò của pháp luật: Pháp luật ra đời đáp ứng nhu cầu điều
chỉnh các mối quan hệ xã hội trong điều kiên các giai cấp đối kháng nhau về
quyền lợi. Có thể nói pháp luật xuất hiện nh một tất yếu khách quan, là công
cụ bảo vệ giai cấp thống trị, củng cố, xác lập trật tự xã hội. Không có pháp
luật thì không có trật tự xã hội và không một cộng đồng, một xã hội nào có thể
tồn tại đợc trong điều kiện xã hội có giai cấp. Điều này cho thấy vị trí vai trò
to lớn của nó trong đời sống xã hội.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò, nội dung của luật tục ÊĐê
Khái niệm: Luật tục thuộc phạm trù tập quán. Theo các quan điểm
phổ biến hiện nay, luật tục đợc hiểu là những phong tục tập quán tồn tại dới
10
dạng truyền khẩu và thành văn, là hệ thống những quy tắc xử sự điều chỉnh
mọi mặt của đời sống cộng đồng. Điểm khác biệt của luật tục so với những
phong tục tập quán bình thờng đó là luật tục không phải tổng hợp mọi phong
tục tập quán mà chỉ bao gồm những phong tục, tập quán, quy lệ tác động đến
những hành vi cá nhân trong cộng đồng hay giữa các cộng đồng với nhau nh
là những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc, gắn với những hình thức xử phạt
và khen thởng.
Luật tục và tập quán là những khuôn mẫu ứng xử đợc đặt ra trong một
cộng đồng. Nó có những điểm giống nhau và cũng có những điểm khác nhau đó
là: Luật tục và tập quán đều đợc hình thành từ những thói quen, khuôn mẫu ứng
xử đợc mọi ngời tuân theo. Tập quán có biên độ rộng còn luật tục thờng có
biên độ hẹp hơn, quy định rõ những điều cụ thể. Tập quán đợc mọi ngời chấp
nhận tự giác, còn luật tục có tính cỡng chế, gây áp lực bắt buộc mọi cá nhân
trong cộng đồng phải tuân theo. Luật tục bắt nguồn từ tập quán, trong quá trình
áp dụng tập quán từ thế hệ này sang thế hệ khác, sự tuyển chọn tự nhiên của con
ngời dẫn đến một số tập quán đáp ứng đợc những nhu cầu cần thiết cho việc
bảo vệ lợi ích của một cộng đồng ngời đã trở thành luật tục.
Nói theo ngôn ngữ pháp lý hiện đại thì luật tục vừa chứa đựng các quy
liền với phong tục tập quán, khu biệt với luật nhà nớc Nói tóm lại, có thể
khái quát những nét nhận diện cơ bản về luật tục ÊĐê đó là:
- Luật tục ÊĐê là những quy tắc xử sự chung của ngời ÊĐê, đợc
ngời ÊĐê sáng tạo nên và lu truyền trong cộng đồng ngời ÊĐê qua nhiều
thế hệ, đợc mọi thành viên trong cộng đồng mặc nhiên thừa nhận và thi hành.
- Luật tục ÊĐê có phạm vi điều chỉnh rộng. Nó chứa đựng cả luật nội
dung và luật tố tụng. Có thể coi luật tục ÊĐê là tiêu chí cho xử sự của các
thành viên trong cộng đồng ngời ÊĐê trên tất cả các lĩnh vực đạo đức, luân
lý và tình cảm
- Luật tục ÊĐê xuất phát từ phong tục tập quán và trở lại điều chỉnh
các quan hệ nảy sinh trong cộng đồng ngời ÊĐê, bảo vệ các phong tục tập
quán, có quan hệ chặt chẽ với tín ngỡng và tôn giáo.
12
Từ sự khái quát này, tác giả rút ra khái niệm luật tục ÊĐê nh sau:
Luật tục ÊĐê là những quy tắc xử sự chứa đựng những tiêu chí về đạo
đức, luân lý, các phong tục tập quán, lễ nghi tôn giáo; do nhiều thế hệ trong
cộng đồng ngời ÊĐê có quan hệ huyết thống xây dựng nên và lu truyền cho
tới ngày nay, để điều chỉnh các quan hệ xã hội, nhằm điều hòa và bảo vệ xã
hội truyền thống trong cộng đồng ngời ÊĐê; đợc mọi thành viên trong cộng
đồng ngời ÊĐê chấp nhận, thực hiện một cách tự giác.
Đặc điểm: Luật tục của đồng bào dân tộc thiểu số Ê Đê bắt nguồn từ
đời sống xã hội cộng đồng của ngời ÊĐê. Xã hội trong luật tục ÊĐê là xã hội
của cộng đồng ngời dân tộc thiểu số ÊĐê sống chủ yếu ở bốn tỉnh DakLak,
Gia Lai, Dak Nông, Lâm Đồng thuộc vùng Tây Nguyên Nam Trung Bộ. Luật
tục ÊĐê chịu ảnh hởng sâu sắc của điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của
đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê. Nền kinh tế tự cung tự cấp của đồng bào dân
tộc ÊĐê trên cao nguyên Nam Trung Bộ đợc phản ánh rõ nét trong luật tục
ÊĐê. Trong 11 chơng, 236 diều của luật tục ÊĐê có nhiều điều quy định về
các hành vi trao đổi vật ngang giá mà không có điều nào quy định các vấn đề
nhân gia đình. Nh vậy cho thấy vấn đề hôn nhân trong luật tục ÊĐê đợc chú
trọng hàng đầu, đó là quan hệ hôn nhân theo truyền thống mẫu hệ: ngời phụ
nữ chủ động trao vòng tay cầu hôn ngời đàn ông và cới ngời chồng về c
trú tại nhà mình, con sinh ra mang họ mẹ
Luật tục ÊĐê phát triển mạnh ở những cộng đồng nhỏ ngời ÊĐê có
tính huyết thống cao. Nó bao gồm những quy định về đạo đức và trí thức dân gian
bản địa về con ngời, tự nhiên và xã hội để hình thành nên những quy tắc ứng xử
của cá nhân và cộng đồng ngời ÊĐê. Do đợc hình thành từ cuộc sống gắn với
tự nhiên của cá nhân và cộng đồng ngời ÊĐê, nên luật tục ÊĐê có những đặc
điểm cơ bản nổi trội vừa gần gũi với pháp luật, vừa khác biệt với pháp luật.
Luật tục ÊĐê vừa chứa đựng các quy định về luật nội dung và luật tố
tụng, tính cỡng chế cao và có hiệu lực trên thực tế. Mặt khác, luật tục ÊĐê có
14
phạm vi điều chỉnh rộng, bao quát toàn bộ các lĩnh vực quan hệ xã hội. Hình
phạt trong luật tục ÊĐê có điểm đặc trng đó là phạt đền bằng hiện vật.
Vị trí vai trò của luật tục ÊĐê trong đời sống của đồng bào dân tộc
thiểu số ÊĐê: Luật tục ÊĐê trớc hết là một kho tàng trí thức dân gian đợc
tích lũy từ thực tế đời sống của nhiều thế hệ đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê.
Nó đề cập đến hầu hết các lĩnh vực khác nhau trong đời sống của đồng bào
dân tộc thiểu số ÊĐê, từ sản xuất, tổ chức xã hội và quan hệ cộng đồng, quan
hệ nam nữ, lễ nghi tôn giáo, phong tục ở từng lĩnh vực, các tri thức dân gian
này đều đợc định hình và trở thành các nguyên tắc nhằm giáo dục răn đe mọi
ngời, ngăn chặn những hành vi làm thơng tổn lợi ích của cá nhân và của
cộng đồng, phù hợp với nhận thức và trình độ xã hội của đồng bào dân tộc
thiểu số ÊĐê.
Trong xã hội cổ truyền cũng nh trong xã hội hiện đại, luật tục ÊĐê
vẫn phát huy vai trò điều chỉnh mọi mối quan hệ xã hội ở các buôn làng đồng
bào dân tộc thiểu số ÊĐê. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê hiện nay
luật tục vẫn là chuẩn mực trong mọi hành vi ứng xử hàng ngày. Trong giao
trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội ở các buôn làng đồng bào dân
tộc thiểu số ÊĐê và đặc biệt luật tục ÊĐê chuyển đổi các ngôn ngữ hiện đại
của pháp luật thành các ngôn ngữ dân gian, gần gũi với thiên nhiên, đa pháp
luật đi vào đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê một cách tự nhiên và
hiệu quả. Mặt khác, sự tiếp cận pháp luật tuy mới chỉ là ít ỏi của đồng bào dân
tộc thiểu số ÊĐê trong thời gian qua đã làm cho luật tục ÊĐê có những thay
đổi về chất. Một số hủ tục lạc hậu nh đánh đuổi ngời bị coi là ma lai ra khỏi
làng, con đã thành niên vi phạm luật tục buộc cha mẹ phải bồi thờng nay
đã đợc loại bỏ. Trong xã hội mới, sự tiếp cận pháp luật của đồng bào dân tộc
thiểu số ÊĐê trên diện rộng sẽ làm cho luật tục ÊĐê ngày càng đợc sàng lọc
và hoàn thiện trở thành những quy tắc ứng xử tiến bộ, hớng hành vi của đồng
bào dân tộc thiểu số ÊĐê vừa đi vào quỹ đạo chung của pháp luật nhà nớc
vừa không làm trái những tập quán lâu đời của buôn làng.
16
Nội dung của luật tục ÊĐê: Theo cuốn Luật tục ÊĐê (Tập quán pháp)
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 1996 thì Iuật tục ÊĐê đợc tập hợp thành
11 chơng và 236 điều:
Chơng I: Các quy định mở đầu, gồm có 23 điều (từ Điều 1 đến Điều 23)
Trong chơng I luật tục ÊĐê đề cập tới các yếu tố cấu thành tội phạm.
Mặc dù việc xác định một ngời phạm tội trong luật tục ÊĐê còn ở mức độ sơ
khai nhng có những điểm khá gần gũi với pháp luật nh việc mô tả hành vi
lừa đảo: Hắn là kẻ biến mủ cây đa thành mủ cây sung, biến voi cái thành voi
đực, biến ngời này thành ngời kia nh vậy có việc phải đa hắn ra xét xử
(Điều 20 luật tục ÊĐê). Mặt khác, trong chơng này luật tục còn quy định việc
xem xét chứng cứ cụ thể là những bằng chứng, tang chứng trong khi xét xử,
đồng thời xác định về các hình thức tòng phạm nh chứa chấp, bao che ngời
có tội Điển hình là quy định về tang chứng: Phải tóm đợc chân hắn, phải
nhìn tận mặt hắn, phải tóm cổ đợc hắn bằng giữ đợc cái gùi hắn đeo, bằng
nắm đợc cánh tay của hắn, phải nhận đợc mặt mũi hắn thật chắc chắn
mẹ của dân làng trong buôn. Trong luật tục ÊĐê có khá nhiều điều bảo vệ
danh dự nhân phẩm của Trởng buôn và bảo vệ chế độ giải quyết việc làng
cho Trởng buôn: Kẻ thấy Cây Đa thì chặt Cây Đa, thấy Cây Sung thì chém
Cây Sung, thấy mẹ cha hoặc ngời đầu làng muốn chỉ vẽ dạy dỗ cho thì hành
hung họ tàn nhẫnkẻ tỏ ra hung hãn láo xợc thì phải đợc trừng trị thích
đáng (Điều 35 luật tục ÊĐê).
Đối với Trởng buôn, họ là những ngời đợc dân làng kính trọng, vì
nể và tin tởng. Song họ cũng phải chịu sự ràng buộc nghiêm khắc của luật
tục. Ông ta là Cây Đa đầu suối, là Cây Sung đầu làng, là ngời trông nom anh
em con cháu trong làng. Thế mà ông ta lấn át chà đạp áp bức họ Đợc lót
miếng thăn, miếng sấn là ông ta tìm ngay ra cớ để bao che cho kẻ có tội. Vì
vậy có việc phải đa ông ta ra xét xử (Điều 61 luật tục ÊĐê). Đây cũng là yếu
tố tự nhiên để hạn chế sự lạm quyền mà ở bất cứ xã hội nào cũng có thể xảy ra
18
và đặc biệt môi trờng thuận lợi cho sự lạm quyền phát triển đó là đời sống
mang tính cộng đồng do một cá nhân điều hành buôn làng nh cộng đồng
ngời ÊĐê.
Chơng IV: Gồm có 27 điều (từ Điều 68 đến Điều 94). Quy định về vi
phạm các lợi ích của cộng đồng. Các quy định về bảo vệ lợi ích của cộng đồng
ở chơng IV luật tục ÊĐê tập trung vào các mặt sau:
- Tội xâm phạm phong tục, tập quán của buôn làng; tội lang thang lêu
lổng không chịu sống theo khuôn phép của cộng đồng. Hành vi lang thang
đợc luật tục mô tả: Hắn là một tên lang thang lêu lổng, ăn bát đủ mọi nhà,
đến đâu cũng xin ănHắn là cái nong xổ vành không còn ai cạp lại đợc. Tất
cả mọi ngời từ ngời tù trởng cho đến từng bà con, anh em dân làng, không
một ai còn có thể khuyên bảo hắn đợc nữa thì không ai che chở hắn nữa.
Ngời ta bỏ mặc hắn dới mồ không một ai dòm ngó, mặc cho số phận của
hắn trôi nổi Tội không sống theo khuôn phép của cộng đồng thể hiện tính
gắn kết giữa các cá nhân với nhau của ngời ÊĐê, là sự sống còn trong đời
luật tục ÊĐê chơng hôn nhân gia đình là chơng có nhiều điều nhất. Nét nổi
bật trong nguyên tắc hôn nhân của ngời ÊĐê mà luật tục bảo vệ nghiêm ngặt
là tục nối nòi, có tới 9 điều đề cập đến các khía cạnh khác nhau của lệ tục này.
Nội dung của hôn nhân nối nòi đợc diễn đạt: Rầm nhà gãy thì phải thay, dát
sàn nát thì phải thế. Chết ngời này thì phải thế bằng ngời khác. Vì tranh
cùng một giống, cây Knôk cùng một nòi, hai dòng họ lấy nhau, nuôi lẫn nhau
từ xa Nhng nếu họ tỏ ra lạnh nhạt, lấy cớ ngời của họ còn trẻ mỏ cha
biết làm vợ, làm chồng họ không thực bụng muốn nối nòi thì tội thuộc về họ
(Điều 97 luật tục ÊĐê). Đây là một trong những lệ tục thiếu tính tiến bộ, bó
buộc quan hệ hôn nhân của ngời ÊĐê từ hàng ngàn năm nay, ảnh hởng lớn
đến sự phát triển lành mạnh của tộc ngời này.
Ngoài tục nối nòi, trong luật tục ÊĐê còn rất coi trọng sự bền vững
của hôn nhân: Đã lấy vợ thì phải ở với vợ cho đến chết, đã cầm cần mời rợu
thì phải vào cuộc cho đến khi rợu nhạt, đã đánh cồng thì phải đánh cho đến
20
khi ngời ta giữ tay lại (Điều 109). Do coi trọng sự bền vững của quan hệ vợ
chồng, ngời ÊĐê buộc tội bên nào gây ra việc chia lìa vợ chồng: Nếu dã
nhận làm chồng ngời ta mà anh không lấy ngời ta nữa thì tội thuộc về anh,
có việc phải đa ra xét xử giữa ngời ta với anh (Điều 110).
Ngoại tình là hiện tợng thờng thấy và là nguyên nhân chính phá hoại
hạnh phúc gia đình, luật tục ÊĐê dành nhiều điều khoản ngăn chặn hạn chế
hành vi này, kể cả việc xử phạt những ngời vu khống ngời khác ngoại tình,
thông dâm dẫn tới mâu thuẫn vợ chồng và tan vỡ hạnh phúc gia đình. Hành vi
ngoại tình đợc luật tục ÊĐê mô tả: ... hắn đứng lén ở một xó nhà kín đáo kéo
ngời đàn bà ra đó để vụng trộm Một đứa thì đã có Báng Ná (có vợ). Một
đứa thì đã có Canh Ná (có chồng). Vì vậy đúng lý là sọt của ai ngời ấy đeo,
gùi của ai ngời ấy cõng, thằng đàn ông có lỗi thì chịu phạt đền cho vợ hắn, con
đàn bà có lỗi chịu phạt đền cho chồng hắn. Bởi vì chúng là những kẻ đứa đã có
vợ, đứa đã có chồng còn lăng nhăng với nhau (Điều 114, 115 luật tục ÊĐê)
những hành vi gian dâm và là một tội lớn. Ngời ÊĐê cho rằng loạn luân là vi
phạm các điều cấm của Thần Đất (Yang Lăn), làm cho thần đất nổi giận gây
mất mùa, dịch bệnh cho cả cộng đồng. Vì vậy, ngời mắc tội loạn luân phải
đa ra xét xử. Cách biện luận tội loạn luân của ngời ÊĐê thể hiện nh sau:
Nó phạm tội trong nhà, nó mê ngời trong họ. Nó mê chị em ruột cùng một
nơi sinh ra, cùng một cha mẹ đẻ ra. Nó làm tàn bụi môn dới nớc, bụi chuối
trên bờ. Xoài rừng không ra hoa, xoài nhà không đậu quả, nó phải lấy rợu,
lấy heo để cúng đền cho chủ Đất, lấy máu ngón tay cúng cho Thần Đất
(Điều157, 158).
Hành vi thứ hai của tội gian dâm trong luật tục ÊĐê đó là thông dâm.
Hành vi này luật tục ÊĐê truy cứu chủ yếu là thông dâm với nô lệ gái. Hành vi
này đợc mô tả: Kẻ thông dâm với nô lệ gái của ngời khácNh con gà mái
vào chuồng, nh con gà trống vào bu, hắn là một kẻ h thân mất nết ngủ với
cả nô lệ gái của ngời ta Nếu ngủ với nô lệ của tù trởng nhà giàu thì hắn
22
cũng trở thành nô lệ. Nếu mẹ hắn có của thì họ sẽ trả giá ngời nô lệ và nộp
một khoản bồi thờng cho ngời chủ nô. Nhng nếu cha mẹ hắn không có của
cải gì thì anh em trai bên vợ hắn đem giao hắn làm nô lệ cho ngời ta (tức
ngời chủ của nô lệ gái) (điều 150). Khi hành vi thông dâm với nô lệ gái của
chính gia đình mình bị phát hiện, ngời nô lệ gái đó đợc trả lại tự do, còn
ngời đàn ông ÊĐê thì bị xử theo luật tục: Ngời nô lệ gái mà hắn đã thông
dâm đợc trả lại tự do nh con dế trong rừng, nh con châu chấu trong rú,
nh hạt lúa phơi ngoài sân, thân phận của ngời đó đã trở lại sáng sủa, ngời
đó đợc quyền trở về nhà mình Còn ngời đàn ông thì phải nộp cho vợ anh
ta một khoản bồi thờng
Ngoài hai hành vi đã phân tích trên, tội gian dâm trong luật tục ÊĐê
còn bao hàm cả hành vi hiếp dâm. Hành vi này đợc luật tục mô tả khá cụ thể:
Hắn là kẻ thấy muối đã muốn nếm, thấy ngựa đã muốn ép cỡi hắn vồ lấy
họ (ngời đàn bà) nh cọp, tha họ đi nh con thú rừng Nếu hắn đã hiếp một
ÊĐê, là lối mòn có sẵn để pháp luật mở rộng và hoàn thiện con đờng của luật
tục ÊĐê trong việc điều chỉnh cộng đồng ngời ÊĐê trong tơng lai.
Chơng IX: Gồm có 38 điều (từ Điều 181 đến Điều 218) quy định về
quyền sở hữu tài sản. Tài sản và quyền sở hữu là vấn đề quan trọng của cộng
đồng, dù cộng đồng đó còn ở trình độ lạc hậu hay đã đạt tới trình độ văn minh
cao. Luật tục ÊĐê cũng đã chú trọng đến quyền sở hữu tài sản và đã dành 38 điều
đề cập các quan hệ khác nhau của vấn đề sở hữu tài sản điển hình là quy định
về thừa kế tài sản. Ngời ÊĐê sống theo chế độ mẫu hệ nên việc thừa kế tài
sản nhất nhất phải theo dòng họ mẹ. Ngời đã chết thì cái niết, cái chà gạc
đợc tự do, cùng với vòng đeo tay, chuỗi hạt cờm đeo cổ chén bát để ăn
cơm, cái dùi, cái búa, cái rìu phải đợc đem trả lại cho mẹ ngời chết hoặc
ngời thừa kế gái của bà ta (Điều 182). Ngoài ra, luật tục ÊĐê còn quy định
ngời có trách nhiệm chính trong việc giữ gìn của cải chung của gia đình: Các
vật lớn hay nhỏ, quý hay không quý, các nồi hoặc chén bát đều do ngời chị
cả trông coi (Điều 181). Tài sản của con trai cha vợ phải giao cho mẹ hoặc
24
chị, em gái anh ta quản lý. Ngời đàn ông đã có vợ không đợc lấy tài sản của
vợ và con gái đem cho các cháu, con của chị em gái mình. Trong chơng quy
định về quyền sở hữu tài sản, luật tục ÊĐê còn quy định nhiều hành vi xâm
phạm quyền sở hữu nh trộm cắp tài sản, mua bán hàng của trẻ em, chiếm
đoạt tài sản từ việc thực hiện các hành vi gian dối, giấu giếm đồ bắt đợc,
cỡng đoạt tài sản, vay mợn tài sản không trả, chứa chấp đồ ăn cắp Riêng
tội giấu giếm đồ bắt đợc nếu đã đợc hỏi nhiều lần mà không trả lại cho chủ
sở hữu thì đợc coi là tội trộm cắp: Hắn nhận đợc của ngời ta mà hắn
không hé miệng nửa lời cho ai biết, hắn không báo cho dân làng rằng hắn đã
nhặt đợc của cải của ngời ta hắn kín hơi kín tiếng mặc cho ngời ta đã
hỏi khi sáng dậy, khi mặt trời đứng bóng, hỏi ngày hôm trớc, hỏi cả ngày
mai. Thế là phải bắt hắn trả gấp baHắn phải đền tội nh một tên ăn cắp
(Điều 213).
Pháp luật và luật tục ÊĐê (sau đây gọi chung là luật tục) đều là những
phơng tiện điều chỉnh các quan hệ xã hội: Con ngời trong đời sống xã hội
cho dù văn minh hay lạc hậu đều có những nhu cầu lợi ích, mục đích nhất
định. Để thỏa mãn nhu cầu lợi ích của mình, mỗi chủ thể có những phơng
pháp, cách thức riêng. Trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định, có thể có
những chủ thể lại thực hiện những hành vi làm tổn hại đến lợi ích của chủ thể
khác, tổn hại lợi ích chung của cộng đồng. Xã hội vì thế sẽ trở nên mất ổn
định. Bởi vậy để xã hội tồn tại trong ổn định, trật tự, các quyền và lợi ích của
các thành viên trong cộng đồng đợc bảo đảm và bảo vệ, đòi hỏi xử sự của
mỗi ngời phải dựa trên những chuẩn mực nhất định, theo những khuôn mẫu
nhất định. Nói cách khác, các mối quan hệ trong xã hội cần đợc điều chỉnh
nhằm bảo đảm xử sự của chủ thể này không làm tổn hại đến lợi ích của chủ
thể khác, phù hợp yêu cầu, đòi hỏi của cộng đồng.
Điều chỉnh các quan hệ xã hội là đa ra những cách xử sự mẫu cho các
chủ thể để họ thực hiện trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định, hay nói
cách khác là xác định cho các chủ thể những quyền, nghĩa vụ nhất định khi họ