Mối quan hệ giữa pháp luật và phong tục tập quán - Pdf 28

Pháp luật và phong tục tập quán là những quy phạm xã hội đã tồn tại song hành với
nhau trong xã hội và được mọi người tuân theo. Giữa chúng có những điểm giống nhau cơ bản
,những điểm khác biệt rõ ràng đến những mối liên hệ qua lại đặc biệt. Bài luận “Pháp luật và
Phong tục tập quán” của chúng tôi dưới đây mang ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tế nhằm
giúp cho việc nhận thức đầy đủ hơn về hai phạm trù lý luận này, từ đó xây dựng cơ sở cho việc
đánh giá thực trạng giữa 2 yếu tố này ở Việt Nam.
1.Định nghĩa:
-Phong tục tập quán (PTTQ) là những thói quen trong suy nghĩ ứng xử, những tục lệ đã
ăn sâu thành nếp trong đời sống xã hội, trong sinh hoạt thường ngày và được mọi người công
nhận, làm theo thông qua những hoạt động về mặt dư luận niềm tin, tín ngưỡng của cá nhân
với cộng đồng hoặc các biện pháp xử lý do cộng đồng áp đặt vào từng cá nhân có hành vi vi
phạm.
-Pháp luật (PL) là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và
đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội và là yếu tố điểu chỉnh các
mối quan hệ trong xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định xã hội.
2.Phân biệt :
a. Trước hết, PL và PTTQ tồn tại những điểm chung cơ bản :
- Chúng đều là những quy phạm xã hội.
- Mang tính khuôn mẫu chuẩn mực bắt buộc.
- Điều chỉnh hành vi con người, là công cụ duy trì sự ồn định đời sống cộng đồng và bảo đảm
trật tự xã hội.
b. Bên cạnh đó PL và PTTQ có những điểm khác biệt cơ bản qua các phương diện nguồn gốc,
chủ thể ban hành, đặc trưng, phạm vi điều chỉnh - tác động và biện pháp bao đảm thực hiện.
Phương diện Pháp luật PTTQ
Nguồn gốc -Ra đời song song cùng nhà nước.
-Là kết quả của chế độ tư hữu tư liệu sản
xuất, sự phân chia giai cấp và mâu thuẫn
giai cấp xã hội ngày càng gay gắt.
-PL ra đời như một thứ công cụ sắc bén
cho giai cấp thống trị điều hòa mâu thuẫn
ấy, củng cố duy tri địa vị quyền lợi của

con đường nhà nước .
-Tính quy phạm phổ biến :
+PL là khuôn mẫu, chuẩn mực hướng
dẫn cách xử sự cho mọi người trong xã
hội.
+Mọi cá nhân tổ chức trong xã hội bắt
buộc phải tôn trọng thực hiện.
-Tính quy phạm chưa cao :
+PTTQ là những ứng xử hành vi
,thói quen nếp sống hàng ngày ,tục
lệ ăn sâu vào tiềm thức con người .
+Đòi hỏi sự tự giác của con người
là chính.
-Tính hệ thống:
+Bản thân PL là hệ thống quy tắc xử sự
chung, các nguyên tắc, các định hướng
để điều chỉnh các quan hệ xã hội ở các
lĩnh vực khác nhau trong đời sống.
+Các quy định PL không tồn tại một
cách biệt lập mà giữa chúng có mối quan
hệ nội tại và thống nhất, tạo ra một chính
thể là hệ thống PL.
-Không tồn tại tính hệ thống:
+Các PTTQ chủ yếu tồn tại ở
dạng đơn lẻ, cụ thể, gắn liền với
hành vi, thói quen sinh hoạt thường
ngày.
+Mỗi một PTTQ thường ứng dụng
vào một trường hợp cụ thể, tách
biệt.

chức và mọi vùng trên lãnh thổ quốc gia.
-Hẹp hơn so với PL.
-PTTQ mang tính cục bộ địa
phương nên khó được thực hiện
trên 1 phạm vi rộng.
+Mỗi địa phương đều có PTTQ
riêng và chỉ được áp dụng ở tại đó.
Phạm vi điều
chỉnh
-Rông lớn và phổ quát hơn so với PTTQ.
-PL chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội
có tầm quan trọng nhất định trong xã hội
và có thể tác động tới bất kỳ 1 cá nhân, tổ
chức và mọi vùng trên lãnh thổ quốc gia.
-Hẹp hơn so với PL.
-PTTQ mang tính cục bộ địa
phương nên khó được thực hiện
trên 1 phạm vi rộng.
+Mỗi địa phương đều có PTTQ
riêng và chỉ được áp dụng ở tại đó.
Biên pháp
bảo đảm
thực hiện
(Tính cưỡng
chế)
+Do nhà nước ban hành nên được nhà
nước đảm bảo thực hiện.
+Tùy điều kiện hoàn cảnh mà kết hợp các
biện pháp: tuyên truyền, giáo dục, hoạt
động tổ chức, biện pháp kinh tế, cưỡng

tập tục lạc hậu có nội dung trái pháp luật có thể xảy ra hai trường hợp :
+ Một số tập tục tồn tại trước khi có pháp luật đã quy định không khoa học,
không công bằng, hoặc quy định những biện pháp trừng phát tàn bạo, xâm hại thô
bạo đến nhân phẩm, danh dự, tính mạng con người.
+ tập tục ấy ra đời vì quy định của pháp luật ấy đã quá lỗi thời, không phù
hợp nhưng chưa được sửa đổi hoặc hủy bỏ.
Ví dụ : Tập tục chôn chung, tập tục nối dây người chết…
Phong tục tập quán có đời sống thực tế rất phong phú đa dạng, cả về con
đường hình thành, phương thức tồn tại, giá trị phản ánh trong các tộc người khác
nhau. Các giai đoạn phát triển khác nhau cho nên phong tục tập quán khi được hình
thành cũng có những phong tục tiến bộ, những phong tục lạc hậu, cổ hủ, do vậy
pháp luật bảo vệ những tập tục tiến bộ, loại trừ những hủ tục lạc hậu là điều rất cần
thiết. Ví dụ : Điều 5 Hiến pháp 1992 quy định “Các dân tộc có quyền dùng tiếng
nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, và phát huy những phong tục tập quán ,
truyền thống văn hóa tốt đẹp của mình ” – Phần 2, mục B, điểm 3 Nghị định 32,
quy định cấm : “ Tập tục cướp vợ để ép người phụ nữ làm vợ”
Thứ hai : Quan hệ giữa tập tục và pháp luật.
- Tập tục có vai trò thay thế pháp luật trong nhiều lĩnh vực : Phong tục có thể
thay thế pháp luật trong mốt số quan hệ xử sự trong xã hội khi mà pháp luật
chưa tìm được cách thức truyền bá có khả năng tác dụng sâu sắc đến ý thức
của các cá nhân, cộng đồng các dân tộc. Trong điều kiện nào đó, tập tục phát
huy vai trò thay thế pháp luật không phải ở một hay vài lĩnh vực nhất định
mà nó thay thế pháp luật ở rất nhiều lĩnh vực như : Dân sự, hình sự, hôn
nhân gia đình, bảo vệ rừng, đất đai, tín ngưỡng, khai khoáng… Có rất nhiều
tập tục phù hợp với tinh thần của pháp luật nhưng nếu được nâng lên thành
các quy phạm thì tính hiệu quả của nó không cao.nhưng nếu vẫn để nguyên
là tập tục thì hiệu quả của nó lại rất cao. Ví dụ như : Tập tục bảo vệ rừng
thiêng của người H’ mông.
- Tập tục có vai trò bổ sung hỗ trợ pháp luật bởi vì pháp luật có hoàn thiện
đến mấy cũng không thể dự liệu hết mọi tình huống cụ thể, không thể len lỏi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status