LUẬN VĂN: Mối quan hệ giữa pháp luật
và luật tục ÊĐê
Mở Đầu
luật và luật tục ÊĐê được sử dụng một cách có hiệu quả nhất trong việc quản lý cộng đồng
người dân tộc thiểu số ÊĐê trong thời gian tới.
Với lý do trên, tác giả chọn đề tài: " Mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục ÊĐê
" để nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Qua tìm hiểu nghiên cứu đề tài này, tác giả nhận thấy từ trước đến nay đã có nhiều
công trình nghiên cứu về luật tục của các dân tộc Việt Nam nói chung và một số công trình
nghiên cứu luật tục của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê, cụ thể:
- Luật tục ÊĐê, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1996. Công trình này tác giả
thống kê, sắp xếp các quy định của luật tục ÊĐê từ khi hình thành đến năm 1996, bằng hai
thứ tiếng Việt - ÊĐê. Đồng thời, nêu những nét khái quát về sự hình thành và phát triển
của luật tục ÊĐê, vị trí vai trò của luật tục ÊĐê trong đời sống của người ÊĐê từ trước tới
nay.
- Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, 2000. Trong công trình này ngoài các phần viết về luật tục của các dân tộc trên
lãnh thổ Việt Nam nói chung, có phần viết về lịch sử hình thành luật tục ÊĐê, vai trò của
luật tục ÊĐê trong đời sống cộng đồng người ÊĐê và nêu một số thực trạng tranh chấp và
giải quyết tranh chấp đất đai trong các thời kỳ lịch sử gắn liền với sự phát triển của luật tục
ÊĐê.
- Luật tục Tây Nguyên - giá trị văn hóa pháp lý, quản lý cộng đồng và mối quan hệ
với pháp luật (Hoàng thị Kim Quế, Tạp chí Khoa học kinh tế luật, số 1/2005).
- Vai trò của người điều hành và thực thi luật tục; Giải quyết tranh chấp về dân sự
trong luật tục ÊĐê; Hiệu lực của luật tục ÊĐê trong dời sống dân sự hiện đại (Y Nha,
Nguyễn Lộc - Tòa án nhân dân tỉnh DakLak). Các công trình này tác giả viết dưới dạng đề
tài khoa học nghiên cứu các vấn đề liên quan đến vai trò của các già làng, trưởng buôn
trong giải quyết tranh chấp dân sự phát sinh trong đời sống của cộng đồng người ÊĐê và
nghiên cứu tính hiệu lực trên thực tế của luật tục ÊĐê.
ÊĐê hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nhiệm vụ của luận văn, phân tích cơ sở lý luận của mối quan hệ giữa pháp luật với
luật tục của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê cụ thể là:
- Xác định vị trí, vai trò của pháp luật và luật tục của đồng bào thiểu số ÊĐê trong
công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay.
- Phân tích những nét tương đồng, khác biệt và mối quan hệ giữa pháp luật và luật
tục của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê.
- Nêu bật được thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục của đồng bào dân
tộc thiểu số ÊĐê hiện nay, có số liệu cụ thể chứng minh thực trạng lấy từ việc điều tra xã
hội học ở các buôn làng dân tộc thiểu số ÊĐê trên địa bàn tỉnh DakLak và thống kê được
từ hoạt động xét xử các loại án ở Tòa án nhân dân tỉnh DakLak.
- Trên cơ sở phân tích lý luận và thực trạng về mối quan hệ giữa pháp luật và luật
tục của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê hiện nay, rút ra mặt được và mặt chưa được,
nguyên nhân của thành công và tồn tại. Từ đó đưa ra quan điểm và giải pháp tăng cường
mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục của đồng bào dân tộc thiểu số Ê Đê trong giai đoạn
xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác - Lênin
về chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền nói chung và chính sách dân tộc nói
riêng.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu dựa trên các phương pháp:
phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể; kết hợp các phương pháp điều tra xã hội học, phương
pháp thống kê tổng hợp số liệu thông qua hoạt động xét xử các loại án ở Tòa án nhân dân
tỉnh DakLak.
6. ý nghĩa của luận văn
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của pháp luật và luật tục ÊĐê
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của pháp luật
Khái niệm: Pháp luật ra đời và tồn tại một cách khách quan để đáp ứng nhu cầu quản
lý các mặt khác nhau của đời sống xã hội. Nó tồn tại song song với nhiều hiện tượng xã hội
khác cùng thực hiện chức năng điều chỉnh xã hội. Quá trình điều chỉnh các mặt khác nhau của
đời sống xã hội, pháp luật thể hiện tính vượt trội so với các hiện tượng xã hội khác trong việc
đáp ứng nhu cầu quản lý đời sống xã hội, đồng thời nó cũng bộc lộ tính phức tạp thu hút sự
quan tâm nghiên cứu của các nhà luật học trong nước và thế giới. Cho đến hiện nay, khái niệm
pháp luật vẫn chưa được nhận thức một cách hoàn toàn thống nhất. Quan điểm truyền thống
cho rằng: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra
hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí Nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu
cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các
quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì sự bền vững của xã hội [18, tr. 288].
Có thể nói, hầu hết các sách báo pháp lý, các luật gia, nhà khoa học đều thừa nhận cách hiểu
này. Tuy vậy cũng có một số tác giả không hoàn toàn tán thành cách hiểu cụm từ: Pháp
luật là hệ thống các quy tắc xử sự. Xuất phát từ quan điểm cho rằng quy tắc xử sự là những
mô hình, khuôn mẫu cho hành vi con người, nó xác định rõ trong điều kiện, hoàn cảnh hay
tình huống nào thì chủ thể được làm gì, phải làm gì, làm như thế nào hay không được làm
gì…., một số tác giả cho rằng, pháp luật được hiểu là hệ thống những quy tắc xử sự sẽ
không bao quát hết những sự vật mà nó phản ánh, bởi lẽ trong pháp luật còn có rất nhiều
quy định do nhà nước ban hành nhưng không phải là quy tắc xử sự. Tác giả cho rằng lập
luận này có phần gò bó cứng nhắc. Thực tế, đúng là có rất nhiều quy định do Nhà nước
ban hành chỉ là để qui định cách hiểu về một thuật ngữ, giải thích một khái niệm hay nêu
lên một tư tưởng, một nguyên tắc nào đó, chúng không phải là những quy tắc xử sự bởi
chúng không đưa ra một phương án xử sự cụ thể nào để chủ thể thực hiện theo. Tuy nhiên,
chúng lại có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giúp các chủ thể nhận thức và thực hiện một
cách đúng đắn, đầy đủ những quy tắc của hành vi mà nhà nước đã đề ra. Mặt khác, pháp
có nhà nước mới được ban hành pháp luật, và cũng chỉ có nhà nước mới có đủ quyền lực
áp dụng các biện pháp cưỡng chế thực hiện pháp luật trong phạm vi toàn xã hội. Pháp luật
sẽ trở nên vô nghĩa khi không có một bộ máy bảo đảm thực hiện đó là nhà nước. Các quy
phạm xã hội khác cũng được bảo đảm thực hiện bằng nhiều hình thức như lương tâm,
niềm tin tín ngưỡng, áp lực dư luận cộng đồng…nhưng không có tính bảo đảm thực hiện
bằng nhà nước. Ngoài ba đặc điểm này pháp luật còn có một số đặc điểm khác như tính hệ
thống, tính ổn định tương đối… Vì vậy, khi nghiên cứu các đặc điểm của pháp luật cần
phải có cách nhìn nhận tổng quát toàn diện để phân biệt các quy phạm pháp luật với các
quy phạm xã hội khác.
Vị trí vai trò của pháp luật: Pháp luật ra đời đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các mối
quan hệ xã hội trong điều kiên các giai cấp đối kháng nhau về quyền lợi. Có thể nói pháp
luật xuất hiện như một tất yếu khách quan, là công cụ bảo vệ giai cấp thống trị, củng cố,
xác lập trật tự xã hội. Không có pháp luật thì không có trật tự xã hội và không một cộng
đồng, một xã hội nào có thể tồn tại được trong điều kiện xã hội có giai cấp. Điều này cho
thấy vị trí vai trò to lớn của nó trong đời sống xã hội.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò, nội dung của luật tục ÊĐê
Khái niệm: Luật tục thuộc phạm trù tập quán. Theo các quan điểm phổ biến hiện
nay, luật tục được hiểu là những phong tục tập quán tồn tại dưới dạng truyền khẩu và
thành văn, là hệ thống những quy tắc xử sự điều chỉnh mọi mặt của đời sống cộng đồng.
Điểm khác biệt của luật tục so với những phong tục tập quán bình thường đó là luật tục
không phải tổng hợp mọi phong tục tập quán mà chỉ bao gồm những phong tục, tập quán,
quy lệ tác động đến những hành vi cá nhân trong cộng đồng hay giữa các cộng đồng với
nhau như là những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc, gắn với những hình thức xử phạt và
khen thưởng.
Luật tục và tập quán là những khuôn mẫu ứng xử được đặt ra trong một cộng đồng.
Nó có những điểm giống nhau và cũng có những điểm khác nhau đó là: Luật tục và tập quán
đều được hình thành từ những thói quen, khuôn mẫu ứng xử được mọi người tuân theo. Tập
của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nó trở thành một thứ
văn hóa truyền thống của một tộc người.
Về bản chất luật tục ÊĐê được quan niệm như là: một loại luật được sử dụng, lưu
truyền trong dân gian, bắt nguồn từ phong tục, tập quán và gắn liền với phong tục tập
quán, khu biệt với luật nhà nước… Nói tóm lại, có thể khái quát những nét nhận diện cơ
bản về luật tục ÊĐê đó là:
- Luật tục ÊĐê là những quy tắc xử sự chung của người ÊĐê, được người ÊĐê
sáng tạo nên và lưu truyền trong cộng đồng người ÊĐê qua nhiều thế hệ, được mọi thành
viên trong cộng đồng mặc nhiên thừa nhận và thi hành.
- Luật tục ÊĐê có phạm vi điều chỉnh rộng. Nó chứa đựng cả luật nội dung và luật
tố tụng. Có thể coi luật tục ÊĐê là tiêu chí cho xử sự của các thành viên trong cộng đồng
người ÊĐê trên tất cả các lĩnh vực đạo đức, luân lý và tình cảm
- Luật tục ÊĐê xuất phát từ phong tục tập quán và trở lại điều chỉnh các quan hệ
nảy sinh trong cộng đồng người ÊĐê, bảo vệ các phong tục tập quán, có quan hệ chặt chẽ
với tín ngưỡng và tôn giáo.
Từ sự khái quát này, tác giả rút ra khái niệm luật tục ÊĐê như sau:
Luật tục ÊĐê là những quy tắc xử sự chứa đựng những tiêu chí về đạo đức, luân
lý, các phong tục tập quán, lễ nghi tôn giáo; do nhiều thế hệ trong cộng đồng người ÊĐê
có quan hệ huyết thống xây dựng nên và lưu truyền cho tới ngày nay, để điều chỉnh các
quan hệ xã hội, nhằm điều hòa và bảo vệ xã hội truyền thống trong cộng đồng người ÊĐê;
được mọi thành viên trong cộng đồng người ÊĐê chấp nhận, thực hiện một cách tự giác.
Đặc điểm: Luật tục của đồng bào dân tộc thiểu số Ê Đê bắt nguồn từ đời sống xã
hội cộng đồng của người ÊĐê. Xã hội trong luật tục ÊĐê là xã hội của cộng đồng người
dân tộc thiểu số ÊĐê sống chủ yếu ở bốn tỉnh DakLak, Gia Lai, Dak Nông, Lâm Đồng
thuộc vùng Tây Nguyên Nam Trung Bộ. Luật tục ÊĐê chịu ảnh hưởng sâu sắc của điều
kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê. Nền kinh tế tự cung tự
cấp của đồng bào dân tộc ÊĐê trên cao nguyên Nam Trung Bộ được phản ánh rõ nét trong
luật tục ÊĐê. Trong 11 chương, 236 diều của luật tục ÊĐê có nhiều điều quy định về các Luật tục ÊĐê phát triển mạnh ở những cộng đồng nhỏ người ÊĐê có tính huyết
thống cao. Nó bao gồm những quy định về đạo đức và trí thức dân gian bản địa về con người,
tự nhiên và xã hội để hình thành nên những quy tắc ứng xử của cá nhân và cộng đồng người
ÊĐê. Do được hình thành từ cuộc sống gắn với tự nhiên của cá nhân và cộng đồng người
ÊĐê, nên luật tục ÊĐê có những đặc điểm cơ bản nổi trội vừa gần gũi với pháp luật, vừa
khác biệt với pháp luật.
Luật tục ÊĐê vừa chứa đựng các quy định về luật nội dung và luật tố tụng, tính
cưỡng chế cao và có hiệu lực trên thực tế. Mặt khác, luật tục ÊĐê có phạm vi điều chỉnh
rộng, bao quát toàn bộ các lĩnh vực quan hệ xã hội. Hình phạt trong luật tục ÊĐê có điểm
đặc trưng đó là phạt đền bằng hiện vật.
Vị trí vai trò của luật tục ÊĐê trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê:
Luật tục ÊĐê trước hết là một kho tàng trí thức dân gian được tích lũy từ thực tế đời sống
của nhiều thế hệ đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê. Nó đề cập đến hầu hết các lĩnh vực khác
nhau trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê, từ sản xuất, tổ chức xã hội và
quan hệ cộng đồng, quan hệ nam nữ, lễ nghi tôn giáo, phong tục… ở từng lĩnh vực, các tri
thức dân gian này đều được định hình và trở thành các nguyên tắc nhằm giáo dục răn đe
mọi người, ngăn chặn những hành vi làm thương tổn lợi ích của cá nhân và của cộng đồng,
phù hợp với nhận thức và trình độ xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê.
Trong xã hội cổ truyền cũng như trong xã hội hiện đại, luật tục ÊĐê vẫn phát huy
vai trò điều chỉnh mọi mối quan hệ xã hội ở các buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê.
Đối với đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê hiện nay luật tục vẫn là chuẩn mực trong mọi hành
vi ứng xử hàng ngày. Trong giao tiếp với cá nhân, cộng đồng, khi gặp phải tình huống phải
lựa chọn, đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê thường nghĩ ngay đến những câu luật tục mang
đậm chất thơ để định hướng cho những hành vi ứng xử khỏi đi ra ngoài quy định của luật
tục. Còn đối với những người được giao trọng trách xử kiện (Khoa Pin Ea), họ gần như
thuộc lòng các vần điệu của luật tục để dẫn ra từng câu, từng đoạn thích hợp nhằm phân
tích phải trái và luận tội, buộc tội một cách chính xác bảo đảm quyền lợi cho mỗi cá nhân
càng được sàng lọc và hoàn thiện trở thành những quy tắc ứng xử tiến bộ, hướng hành vi
của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê vừa đi vào quỹ đạo chung của pháp luật nhà nước vừa
không làm trái những tập quán lâu đời của buôn làng.
Nội dung của luật tục ÊĐê: Theo cuốn Luật tục ÊĐê (Tập quán pháp) Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia năm 1996 thì Iuật tục ÊĐê được tập hợp thành 11 chương và 236 điều:
Chương I: Các quy định mở đầu, gồm có 23 điều (từ Điều 1 đến Điều 23)
Trong chương I luật tục ÊĐê đề cập tới các yếu tố cấu thành tội phạm. Mặc dù
việc xác định một người phạm tội trong luật tục ÊĐê còn ở mức độ sơ khai nhưng có
những điểm khá gần gũi với pháp luật như việc mô tả hành vi lừa đảo: Hắn là kẻ biến mủ
cây đa thành mủ cây sung, biến voi cái thành voi đực, biến người này thành người kia…
như vậy có việc phải đưa hắn ra xét xử (Điều 20 luật tục ÊĐê). Mặt khác, trong chương này
luật tục còn quy định việc xem xét chứng cứ cụ thể là những bằng chứng, tang chứng trong
khi xét xử, đồng thời xác định về các hình thức tòng phạm như chứa chấp, bao che người
có tội … Điển hình là quy định về tang chứng: Phải tóm được chân hắn, phải nhìn tận mặt
hắn, phải tóm cổ được hắn bằng giữ được cái gùi hắn đeo, bằng nắm được cánh tay của
hắn, phải nhận được mặt mũi hắn thật chắc chắn (Điều 4 luật tục ÊĐê). Nghiên cứu các
quy định này ta thấy luật tục ÊĐê bước đầu vươn lên đến trình độ của một tục lệ, một tập
quán pháp trong xã hội tiền giai cấp.
Chương II và III: Gồm có 33 điều (từ Điều 24 đến Điều 67). Trong đó, quy định
các tội xúc phạm đến người Trưởng buôn, gồm có 22 điều; và quy định về các tội của
người Trưởng buôn gồm có 11 điều.
Hai chương này trực tiếp đề cập đến mối quan hệ then chốt trong xã hội mang tính
cộng đồng điển hình của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê. Như ta đã biết, thiết chế xã hội
truyền thống của dân tộc ÊĐê là buôn, tương tự như làng người Việt, bản người Thái… đó
là một tàn dư của hình thức công xã láng giềng nguyên thủy bước sang xã hội có giai cấp
[19, tr. 25]. Buôn của người ÊĐê vừa là một cộng đồng cư trú, vừa là một tổ chức xã hội
và văn hóa. Nguyên tắc bao trùm trong buôn là quan hệ cộng đồng. Trong đó quan hệ giữa
lợi ích của cộng đồng. Các quy định về bảo vệ lợi ích của cộng đồng ở chương IV luật tục
ÊĐê tập trung vào các mặt sau:
- Tội xâm phạm phong tục, tập quán của buôn làng; tội lang thang lêu lổng không
chịu sống theo khuôn phép của cộng đồng. Hành vi lang thang được luật tục mô tả: Hắn là
một tên lang thang lêu lổng, ăn bát đủ mọi nhà, đến đâu cũng xin ăn…Hắn là cái nong xổ
vành không còn ai cạp lại được. Tất cả mọi người từ người tù trưởng cho đến từng bà con,
anh em dân làng, không một ai còn có thể khuyên bảo hắn được nữa… thì không ai che
chở hắn nữa. Người ta bỏ mặc hắn dưới mồ … không một ai dòm ngó, mặc cho số phận
của hắn trôi nổi … Tội không sống theo khuôn phép của cộng đồng thể hiện tính gắn kết
giữa các cá nhân với nhau của người ÊĐê, là sự sống còn trong đời sống tinh thần của họ.
Đây là nét đặc trưng của tộc người này.
- Tội không giúp đỡ người hoạn nạn; tội làm lây lan bệnh truyền nhiễm cho người
khác; tội làm cháy rừng, gây hỏa hoạn (Điều 72, 73, 80, 81, 82 luật tục ÊĐê) … Rừng và con
người là hai đối tượng được luật tục ÊĐê quan tâm hàng đầu. Theo quan niệm của người
ÊĐê: Có người thì phải có rừng và ngược lại. Rừng là nguồn sống, là điều kiện tồn tại của
tộc người này. Mọi thức ăn vật dùng trong gia đình của người ÊĐê đều được lấy từ rừng.
Người ÊĐê yêu quý rừng như yêu chính tộc người của họ. Vì vậy, việc đốt rừng và làm
cháy rừng được luật tục ÊĐê coi là trọng tội: Đàn ông đốt lửa bừa bãi, đàn bà đốt lửa bậy
bạ… cả rừng le bị cháy khô cả rừng lồ ô bị cháy trụi, hang thỏ, hang chồn đều bị thiêu trụi
tất cả. Vì vậy có chuyện nghiêm trọng phải xét xử.
Bảo vệ lợi ích của cộng đồng là vấn đề then chốt, bảo đảm sự tồn tại và vận hành
xã hội cổ truyền ÊĐê. Về cơ bản các quy định này vẫn còn phù hợp với quan hệ cộng đồng
và xử lý các mối quan hệ cộng đồng trong buôn làng của người dân tộc thiểu số ÊĐê hiện
nay. Qua tìm hiểu ở một số buôn làng người ÊĐê tại huyện Cư Mgar tỉnh DakLak trong
tháng 7/2006, hầu hết các trưởng buôn đều sử dụng các quy định của luật tục trong chương
này để xử lý những người vi phạm lợi ích của cộng đồng, của buôn làng và đặc biệt là hiệu
lực thực tế của các quy định này rất cao, gần như 100% vụ vi phạm do Trưởng buôn xử lý
và tan vỡ hạnh phúc gia đình. Hành vi ngoại tình được luật tục ÊĐê mô tả: hắn đứng lén
ở một xó nhà kín đáo kéo người đàn bà ra đó để vụng trộm… Một đứa thì đã có Báng Ná
(có vợ). Một đứa thì đã có Canh Ná (có chồng). Vì vậy đúng lý là sọt của ai người ấy đeo,
gùi của ai người ấy cõng, thằng đàn ông có lỗi thì chịu phạt đền cho vợ hắn, con đàn bà có lỗi
chịu phạt đền cho chồng hắn. Bởi vì chúng là những kẻ đứa đã có vợ, đứa đã có chồng còn
lăng nhăng với nhau… (Điều 114, 115 luật tục ÊĐê)
Ngoài các khía cạnh đã phân tích trên đây, luật tục ÊĐê còn đề cập đến nhiều khía
cạnh khác nhau của quan hệ hôn nhân và gia đình như: phản bội nghi thức đã hứa hôn,
đánh ghen vô cớ, không nộp đủ đồ dẫn cưới, chiếm vợ, chiếm chồng người khác, ngược
đãi vợ con, phá thai … Đặc biệt, xuyên suốt trong 48 điều của chương hôn nhân là nguyên
tắc bảo vệ hôn nhân theo chế độ mẫu hệ.
Chương VI: gồm có 6 điều (từ Điều 143 đến Điều 148) quy định các quan hệ giữa
cha mẹ và con cái. Trong chương này luật tục ÊĐê đề cập đến trách nhiệm giữa cha mẹ và
con cái, trước tiên là ở việc giáo dục con cái trở thành người lương thiện. Luật tục ÊĐê đặt
trách nhiệm nặng nề cho cha mẹ khi con cái phạm tội, kể cả con đã thành niên. Nghĩa là
cha mẹ phải chịu mọi trách nhiệm vật chất khi con cái mình vi phạm các điều cấm của luật
tục: Nếu những đứa con làm điều này điều nọ, nếu chúng đi tầm bậy tầm bạ như kẻ điên
dại, nếu chúng ăn uống bê tha bên cạnh ché rượu, nếu chúng đi rình mò thò tay lấy trộm,
lấy cắp của người ta, nếu người làm cha, làm mẹ làm ngơ, chấp nhận tất cả những hành vi
xấu xa của con cái họ có thể làm, thì họ là những người phải chịu trách nhiệm (Điều 143
luật tục ÊĐê).
Về phía con cái: Luật tục ÊĐê không cho phép con cái có cử chỉ bất kính đối với
cha mẹ, truy cứu trách nhiệm đối với con cái không vâng lời lời bề trên, tự động bỏ làng,
bỏ nhà đi lang thang không chăm sóc cha mẹ, ông bà… Trường hợp con cái vi phạm các
điều này thì không những bị truất quyền thừa kế tài sản, mà trong trường hợp có cử chỉ
hành hung cha mẹ còn bị đưa ra xét xử: Khi hắn đã có bắp chân to hắn giẫm lên cha, khi
hắn đã có đùi to hắn đạp lên me; hắn là cây cuốc sắc, cây rựa bén quật lại cha mẹ thì hắn
như con thú rừng… Nếu hắn đã hiếp một người đàn bà nghèo, hắn sẽ phải trả một con heo
ba sông (một sông bằng một đồng bạc Đông Dương trước năm 1945) và một số của ba kô
(một kô trị giá bằng hai sông) Nếu hắn hiếp vợ, con của nhà giàu hắn phải hiến sinh một
trâu và trả một số của sáu kô (Điều 152). Trong luật tục ÊĐê hành vi hiếp dâm, cưỡng
dâm những bé gái còn ở độ tuổi vị thành niên được đề cập đến một cách nghiêm khắc. Đây
là điểm tiến bộ vượt trội của luật tục ÊĐê so với luật tục của các dân tộc thiểu số khác và
đây cũng là điểm gần gũi với pháp luật của Nhà nước ta nhìn tư góc độ cấm đối với hành
vi hiếp dâm trẻ em.
Chương VIII: Gồm 21 điều (Từ điều 160 đến điều 180) quy định về các trọng tội
Trong chương này chủ yếu là nêu lên các hành vi xâm phạm thân thể con người.
Hình phạt trong chương này cũng là loại hình phạt nặng nhất so với các chương trong luật
tục, điển hình là hành vi giết người, giết trẻ em sơ sinh: Hắn là người nóng tính, không
kiềm chế được mình, dễ sinh liều lĩnh. Hắn như cọng tranh khô, sợi lạt giòn dễ bốc cháy,
hắn đã nổi nóng vô cớ giết người ta… về số máu đã đổ ra, hắn phải trả một nồi bung (nồi
đồng cỡ lớn), Về tội gây rối trong xóm làng hắn phải trả một nồi biê. … Cho người chết,
hắn phải cúng một ché Duê đặt ở chân, một ché Bơng đặt ở đầu, kèm theo của cải đồ
dùng. Cho người than thuê hắn phải trả một nồi ba, cho người khóc mướn phải trả một nồi
bung, cho xóm làng hắn làm rối loạn phải cúng cầu an bằng trâu, bằng bò… (Điều 160).
Ngoài các hành vi trên thì hành vi cố ý gây thương tích mua bán người cũng được
luật tục ÊĐê coi là trọng tội: Hắn bán người mà như bán đùm muối, gùi thuốc…hắn bán
người ta đi để có muối ăn, có thép rèn, có mền đắp, có ché tuk, ché êbah để ủ rượu. Vì vậy
hắn là kẻ có tội rất nghiêm trọng phải đưa hắn ra xét xử (Điều 172). Nghiên cứu các trọng
tội trong luật tục ÊĐê ta thấy con người là đối tượng được luật tục ÊĐê tôn trọng và bảo vệ
hàng đầu. Đây là điểm dung hòa điển hình nhất giữa pháp luật và luật tục ÊĐê, là lối mòn
có sẵn để pháp luật mở rộng và hoàn thiện con đường của luật tục ÊĐê trong việc điều
chỉnh cộng đồng người ÊĐê trong tương lai.
Chương IX: Gồm có 38 điều (từ Điều 181 đến Điều 218) quy định về quyền sở
đốn tre nứa về làm rầm sàn, dát sàn mà phải mượn voi người khác kéo về cho thì: Nếu voi
sinh ra ốm đau, chân voi bị thương vì vấp phải gốc cây… người mượn voi phải lo thuốc
thang chạy chữa, giao cho chủ voi một chiếc vòng tay, một lưỡi niết (dụng cụ làm cỏ rẫy)
để cầu may cho voi … Nếu voi vẫn không khỏi hẳn, vẫn không chịu ăn, chịu uống thì
người mượn voi phải trả đủ giá con voi hoặc thay con voi đó bằng một con voi khác ngang
giá. Ngoài ra, trong chương này luật tục ÊĐê còn quy định các tội để gia súc hại mùa
màng, tội để gia súc sa bẫy trong mùa trồng cấy, tội giết gia súc của người khác vào vườn
rẫy của mình. Đặc biệt là tội để súc vật hại chết người: Nếu ai đó có trâu hung bò dữ báng
chết dù là một người…thì người đó phải trả giá đền mạng, còn con vật sẽ đem giết làm vật
hiến sinh cúng cho người chết (Điều 224).
Chương XI: Gồm 8 điều (từ Điều 229 đến Điều 236) quy định về đất đai và người
chủ đất. Trong chương này luật tục ÊĐê chủ yếu quy định về việc chăm nom đất đai, không
để mất người chủ đất, quy định nhiệm vụ và quyền hạn của chủ đất, tội lấn chiếm đất đai…
đặc biệt trong chương này luật tục ÊĐê quy định nhiệm vụ đi thăm đất của người chủ đất: Đi
thăm là để đất đai mãi mãi tốt tươi, để nước không ngừng chảy, để chuối, mía mọc xum xuê
(Điều 233).
1.2. Sự tương đồng và khác biệt giữa pháp luật và luật tục ÊĐê
1.2.1. Sự tương đồng giữa pháp luật và luật tục ÊĐê
Pháp luật và luật tục ÊĐê (sau đây gọi chung là luật tục) đều là những phương tiện
điều chỉnh các quan hệ xã hội: Con người trong đời sống xã hội cho dù văn minh hay lạc
hậu đều có những nhu cầu lợi ích, mục đích nhất định. Để thỏa mãn nhu cầu lợi ích của
mình, mỗi chủ thể có những phương pháp, cách thức riêng. Trong những điều kiện hoàn
cảnh nhất định, có thể có những chủ thể lại thực hiện những hành vi làm tổn hại đến lợi ích
của chủ thể khác, tổn hại lợi ích chung của cộng đồng. Xã hội vì thế sẽ trở nên mất ổn
định. Bởi vậy để xã hội tồn tại trong ổn định, trật tự, các quyền và lợi ích của các thành
viên trong cộng đồng được bảo đảm và bảo vệ, đòi hỏi xử sự của mỗi người phải dựa trên
những chuẩn mực nhất định, theo những khuôn mẫu nhất định. Nói cách khác, các mối
cơ sở hạ tầng nhưng có sự tác động trở lại cơ sở hạ tầng. Xét ở một góc độ khác, pháp
luật và luật tục ÊĐê đều là các hiện tượng xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng do cơ sở hạ
tầng quyết định. Luật tục ÊĐê phản ánh toàn cảnh bức tranh xã hội mẫu hệ, tương ứng với
nền kinh tế tự cung tự cấp và trình độ sản xuất lạc hậu của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê.
Cũng như vậy tương ứng với mỗi hình thái kinh tế - xã hội trong xã hội có giai cấp là một
kiểu pháp luật. Là hình thức pháp lý của các quan hệ kinh tế, vì vậy về cơ bản pháp luật
quy định vấn đề gì, quy định như thế nào, điều đó trước tiên phụ thuộc vào thực trạng nền
kinh tế. Khi cơ sở hạ tầng xã hội biến đổi thì luật tục và pháp luật cũng bị biến đổi.
Tuy nhiên, luật tục ÊĐê và pháp luật đều có tính độc lập tương đối và đều có sự
tác động trở lại cơ sở hạ tầng ở những mức độ nhất định. Sự tác động này có thể diễn ra
theo hai hướng tích cực hoặc tiêu cực. Khi pháp luật và luật tục phát triển theo đúng quy
luật phát triển của đời sống xã hội, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, phù hợp
với lợi ích của số đông người trong xã hội, nói cách khác khi pháp luật và luật tục phản
ánh đúng thực trạng của nền kinh tế xã hội thì chúng có tác động tích cực, chúng củng cố,
tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các quan hệ kinh tế, xã hội tồn tại và phát triển, đồng
thời chúng góp phần loại bỏ những quan hệ kinh tế, xã hội không phù hợp, đi ngược lại lợi
ích của giai cấp thống trị và lợi ích chung của cộng đồng. Ngược lại, khi pháp luật và luật
tục không phù hợp với quy luật vận động phát triển của xã hội, không phản ánh đúng thực
trạng nền kinh tế chúng sẽ có tác động tiêu cực, gây cản trở kìm hãm sự phát triển của các
quan hệ kinh tế - xã hội, làm cho đời sống xã hội mất ổn định. Thực tiễn đời sống chứng
minh sự tác động của pháp luật và luật tục đối với cơ sở hạ tầng là mạnh mẽ và dễ nhận
thấy. Song sự tác động ở diện rộng của pháp luật đối với cơ sở hạ tầng có vị trí và tầm
quan trọng nổi trội hơn so với luật tục ÊĐê.
Pháp luật và luật tục ÊĐê vừa mang tính giai cấp vừa mang tính xã hội. Luật tục
ÊĐê hình thành vào thời kỳ tiền giai cấp nên ít nhiều mang tính giai cấp. Nghiên cứu luật
tục ÊĐê ta thấy các tù trưởng nhà giàu được bảo vệ khắt khe hơn thường dân, ông chủ
được hưởng chế độ ưu đãi của luật tục hơn nô lệ. Tuy nhiên xét về tổng thể tính xã hội