Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức thực tiễn vận dụng vào nhiệm vụ giảng dạy pháp luật và môn đạo đức ở trường cao đẳng cộng đồng bắc kạn - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN BIỆN

MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ
ĐẠO ĐỨC - THỰC TIỄN VẬN DỤNG
VÀO NHIỆM VỤ GIẢNG DẠY MÔN PHÁP LUẬT
VÀ MÔN ĐẠO ĐỨC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
CỘNG ĐỒNG BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2010


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN BIỆN

MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ
ĐẠO ĐỨC - THỰC TIỄN VẬN DỤNG
VÀO NHIỆM VỤ GIẢNG DẠY MÔN PHÁP LUẬT
VÀ MÔN ĐẠO ĐỨC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
CỘNG ĐỒNG BẮC KẠN

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số
: 60 38 01


Mục lục
MỞ ĐẦU……………………………….……………..…………..…1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC

8

1. 1. Một số quan niệm cơ bản về pháp luật và đạo đức.……………...…..8
1.1.1. Một số quan niệm về pháp luật………………………………….........8
1.1.2. Bản chất, chức năng, nhiệm vụ của pháp luật………….....................10
1.1.3. Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội…....................................14
1.2. Quan niện về đạo đức.………………….…………...…………...…..17
1.2.1. Một số quan niệm chủ yếu về đạo đức……………….………...……17
1.2.2. Bản chất, chức năng, nhiệm vụ đạo đức………….….…....................21
1.2.3. Vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội…..............................…. ..25
1.3. So sánh một số điểm giống nhau và khác nhau giữa
pháp luật và đạo đức. …………………………..........………...….. .27
1.3.1. Điểm giống nhau giữa pháp luật và đạo đức…………………….......27
1.3.2. Điểm khác nhau giữa pháp luật và đạo đức…………..……….....….28
1.4. Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức. ……………………..…..….31
1.4.1. Pháp luật và đạo đức có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, cùng tồn
tại và phát triển, cùng phản ánh đời sống kinh tế xã hội đương
thời và định hướng cho sự phát triển của xã hội. ………………......31
1.4.2. Những quan niệm đạo đức tiến bộ, phù hợp được nâng
lên thành pháp luật…………………………………...…..………. 36


1.4.3. Pháp luật tác động mạnh mẽ tới ý thức, quan điểm, quan niệm
đạo đức trong xã hội, góp phần loại bỏ những tập tục lạc
hậu, xây dựng nền đạo đức tiến bộ và xây dựng lối sống mới……..38

nhiệm vụ giảng dạy môn pháp luật học và môn đạo đức học có
hiệu quả. …………………………………………………………...102
2.4.1. Tiếp tục đẩy mạnh Tiến hành đổi mới nội dung, phương pháp
dạy học, tăng cường mua sắm các phương tiện kỹ thuật dạy
học, đổi mới cách học tập của sinh viên, giáo sinh, học sinh……..102
2.4.2. Tiến hành biên soạn các tập đề cương bài giảng môn
Pháp luật học và môn Đạo đức học để sử dụng lưu hành trong
nội bộ trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn………………...…..105
2.4.3. Thực hiện tốt các giải pháp nhằm vận dụng có hiệu quả mối
Quan hệ giữa Pháp luật và đạo đức vào giảng dạy theo chương
trình đổi mới………………………………………..………….....105
KẾT LUẬN…………………………………………………...…113
TÀI LIỆU THAM KHẢO.………………………………...…....115


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Hiện nay chưa có bài viết chuyên sâu về việc vận dụng mối quan hệ
giữa Pháp luật và đạo đức vào nhiệm vụ giảng dạy tại các trường cao đẳng
cộng đồng, đặc biệt là trường Cao đẳng Cộng đồng miền núi đào tạo đa
ngành nghề, chức năng nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo mã ngành Sư phạm sau
khi sinh viên, giáo sinh ra trường là những thầy giáo, cô giáo tiểu học, trung
học cơ sơ tiếp xúc nhiều với môn Đạo đức học, môn Giáo dục công dân và
đào tạo một số mã ngành khác nhằm hoàn thiện đội ngũ cán bộ thiết yếu một
số ngành trong tỉnh đáp ứng nhiệm vụ chính trị của tỉnh.
Trong chương trình giảng dạy môn Đạo đức và môn pháp luật học tại
các trường cao đẳng có sự đan xen kiến thức đạo đức và pháp luật, đặc biệt
là môn đạo đức học và môn Phương pháp dạy đạo đức, các sinh viên, giáo
sinh chuyên ngành Sư phạm cần nắm rõ mối quan hệ giữa pháp luật và đạo
đức để sau khi ra trường có kiến thức cần thiết phục vụ cho nhiệm vụ giảng

viên, giáo viên các nhà nghiên cứu tại các trường Cao đẳng nói chung, các
trường cao đẳng Cộng đồng nói riêng nghiên cứu, tham khảo vận dụng trong
thực tế công tác xây dựng cơ chế, chính sách quản lý giáo dục, và thực hiện
nhiệm vụ giảng dạy các môn học có liên quan tại trường Cao đẳng Cộng
đồng Bắc Kạn.
Nhiệm vụ chính của đề tài:
Phân tích làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về pháp luật và đạo đức
và mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức để làm cơ sở vận dụng vào thực
tiễn nhiệm vụ giảng dạy môn pháp luật và môn đạo đức ở Trường Cao đẳng
Cộng đồng Bắc Kạn.

2


Phân tích thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy các môn pháp
luật học và môn đạo đức học tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn.
Từ những luận cứ trên, đề tài vạch ra khuynh hướng vận dụng mối
quan hệ giữa pháp luật và đạo đức vào nhiệm vụ giảng dạy môn Pháp luật
học và môn Đạo đức học tại trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn theo
chương trình đổi mới đồng thời đề tài đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm
nâng cao hiệu quả của việc vận dụng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức
vào nhiệm vụ giảng dạy môn pháp luật học, môn đạo đức học ở Trường Cao
đẳng Cộng đồng Bắc kạn.
Ý nghĩa của đề tài:
Đề tài là tư liệu thiết thực phục vụ việc thực hiện nhiệm giảng dạy
môn Pháp luật học và môn Đạo đức học tại các trường cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp miền núi nói chung và Trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn
nói riêng.
Đề tài phân tích toàn diện, sâu sắc về toàn bộ mối quan hệ giữa pháp
luật và đạo đức, giúp chúng ta hiểu thêm khoa học về mối quan hệ giữa pháp

* Các bài viết nêu ý kiến phân tích bình luận về vấn đề này bao gồm:
- Bài "Hội nhập khu vực châu Á nhìn từ góc độ sự tương tác của nền văn
hóa pháp luật", Tạp chí Nhà nước pháp luật, số 7 - 1999.
- Bài "Tác động của các nhân tố phi kinh tế trong đời sống pháp luật", Tạp
chí nghiên cứu lập pháp, số 8, 9 - 2001.
- Đề tài "Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật", của thầy Đào Chí Úc,
Đề tài khoa học KX-07.17, Hà Nội, 1995.
- Cuốn "Đạo đức Tư pháp và việc vận dụng các phạm trù đạo đức trong xét
sử các vụ án hình sự", của Nguyễn Tất Viễn, Tạp chí Bộ Tư pháp. số 111998.
- Một số bài viết bình luận nằm rải rác ở trong các tạp chí, báo trí khác.
4


Tất cả các giáo trình, bài viết liệt kê trên đã đề cập, phân tích tương
đối đầy đủ, chi tiết ở nhiều khía cạnh khác nhau về mối quan hệ giữa pháp
luật và đạo đức, nhưng chủ yếu chỉ đề cập đến vấn đề mối quan hệ qua lại và
tác động của mối quan hệ này trong việc xây dựng, áp dụng pháp luật, thực
hiện pháp luật hoặc quản lý xã hội trong một lĩnh vực nào đó, chưa có bài
viết chuyên sâu về việc vận dụng mối quan hệ này vào công tác giảng dạy
tại các trường cao đẳng cộng đồng có nhiều môn học có liên quan đến kiến
thức đạo đức và kiến thức pháp luật hoặc công trình nghiên cứu với nội dung
tương tự.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích một số khái niệm, chức năng,
nhiệm vụ của pháp luật và đạo đức, so sánh chúng để xác định được giá trị
các quan niệm pháp luật và đạo đức làm nổi bật vị trí, vai trò, chức năng,
nhiệm vụ và tầm quan trọng của nó trong đời sống xã hội để làm cơ sở cho
việc vận dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu mối quan hệ giữa pháp luật và đạo
đức, sự tác động lẫn nhau giữa pháp luật và đạo đức để làm cơ sở lý luận để
vận dụng mối quan hệ vào nhiệm vụ giảng dạy môn pháp luật, môn đạo đức,

hiện nhiệm vụ quản lý, giảng dạy tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn.
7. Kết cấu đề tài:
Kết cấu của đề tài bao gồm 2 chương chính:
Ngoài phần mở đầu; xác định lý do chọn đề tài, cơ sở lý luận, cơ sở
thực tiễn, mục đích, phạm vi và thực trạng nghiên cứu đề tài, sự cần thiết
thực hiện đề tài, những điểm mới của để tài và một số phương pháp nghiên
cứu đề tài, đề tài khai thác làm rõ các nội dung chính sau đây:
Chương 1; Đề tài tìm hiểu một số quan niệm về pháp luật, Bản chất,
chức năng, nhiệm vụ của pháp luật và đạo đức, tầm quan trọng của pháp luật

6


trong đời sống xã hội. So sánh một số điểm giống nhau và khác nhau giữa
pháp luật và đạo đức.
Chương 2; Đề tài xác định thực trạng và một số giải pháp về việc vận
dụng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức vào nhiệm vụ giảng dạy môn
Pháp luật học và môn Đạo đức học tại trường Cao đẳng cộng đồng Bắc Kạn
theo chương trình đổi mới và có đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm
nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ dạy học và giáo dục môn Pháp luật
học và môn Đạo đức học Trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn.
Cuối cùng rút ra kết luận các nội dung chính để thấy được tính thực
tế, hữu ích của đề tài.

7


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
VÀ ĐẠO ĐỨC

Thuyết tương đối của Montesquieu luận giải theo công thức luật xuất
phát từ bản chất sự vật, hiện tượng hoàn toàn mang tính tương đối vì vậy
việc nhìn nhận pháp luật cũng như các sự việc diễn ra trong xã hội như bản
thân chúng đang tồn tại khách quan và tìm ra cách xử lý vấn đề sao cho hợp
lý nhất.
Trường phái xã hội học pháp luật đặc biệt chú ý đến quá trình thực
hiện pháp luật trong thực tiễn, giành quyền phán quyết đánh giá cho tòa án
mà không bị ràng buộc nhiều bởi pháp luật nhà nước. Tòa án có thể vận
dụng luật theo sự đánh giá của mình để dạt được sự đồng thuận tối ưu của
các bên. Quan điểm này tuy rằng coi trọng hiệu quả công tác thực tiễn xét
xử, nhưng dễ dẫn tới sự tùy tiện trong công tác xét xử nên theo một số ý kiến
là quan điểm này chỉ phù hợp với một số ngành luật như luật dân sự, luật
kinh tế, luật lao động, mà không phù hợp với việc vận dụng vào xét xử các
vụ việc trong lĩnh vực hình sự, hành chính…
Học thuyết Mác - Lê Nin cho rằng pháp luật có tính giai cấp và tính
xã hội, điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội là cội nguồn của pháp luật. Trên cơ
sở học thuyết Mác - Lê Nin một số định nghĩa về pháp luật đã được các nhà
nghiên cứu đưa ra, cụ thể như:
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt
buộc chung, do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí
của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các yêu cầu về lợi ích
xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước, nhằm điều chỉnh
các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định vì sự phát triển
bền vững của xã hội. [26, tr. 228]
9


Theo như định nghĩa trên thì pháp luật không những thể hiện ý chí của
giai cấp thống trị mà còn ghi nhận các nhu cầu về lợi ích xã hội và vì sự ổn
định và phát triển của xã hội. Như vậy rõ ràng pháp luật vừa mang bản chất

bộ máy nhà nước của mình giai cấp thống trị đặt ra các quy phạm pháp luật
mới, dùng quyền lực nhà nước buộc mọi thành viên trong xã hội phải tuân
theo nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và duy trì xã hội trong vòng
trật tự chung.
Bản chất pháp là một thể thống nhất bao gồm hai mặt - hai phương
diện cơ bản: đó là phương diện giai cấp và phương diện xã hội hay còn được
gọi là tính giai cấp và tính xã hội.
Bản chất giai cấp của pháp luật thể hiện ở chỗ ý chí của giai cấp thống
trị được thể chế hóa thành pháp luật và được bảo đảm được thực hiện bằng
nhà nước. Nội dung ý chí do điều kiện tồn tại xã hội của giai cấp thống trị
quyết định. C. Mác và Ph. Ăngghen đã viết:
"Pháp luật của các ông chỉ là ý chí của giai cấp các ông được đề lên
thành luật, cái ý chí mà nội dung do các điều kiện sinh hoạt vật chất của giai
cấp các ông quyết định".[12, tr. 262]
Bản chất giai cấp được thể hiện rõ nét nhất trong pháp luật, ví dụ như
ở nước ta Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành là căn cứ pháp lý trực tiếp,
duy nhất để các cơ quan bảo vệ pháp luật và tòa án áp dụng trong thực tiễn
nhằm giải quyết các vấn đề trách nhiệm hình sự như định tội danh, quyết
định hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự…đối với hành vi bị nhà nước coi
là tội phạm. Bộ luật hình sự thật sự là một công cụ quyền uy thể hiện bản
chất giai cấp thống trị, trong một số trường hợp, người phạm tội có thể bị
tước đi cả mạng sống.
Pháp luật không chỉ phản ánh tính giai cấp mà còn thể hiện thông qua
tính xã hội của pháp luật. Trong trường hợp lợi ích của giai cấp thống trị về
11


cơ bản phù hợp với lợi ích dân tộc và lợi ích của các giai cấp khác thì pháp
luật sẽ phản ánh được lợi ích chung được số đông chấp nhận và những quy
phạm pháp luật này trở thành khuôn mẫu, chuẩn mực hành vi. Giá trị xã hội

Bản chất xã hội còn thể hiện pháp luật có quan hệ chặt chẽ với các
quy phạm xã hội khác như quy phạm đạo đức, quy tắc xử sự của tổ chức xã
hội và đoàn thể quần chúng phản ánh lợi ích cơ bản, lâu dài của họ bởi vậy
một mặt pháp luật tác động mạnh mẽ tới đạo đức, mặt khác pháp luật cũng
bị ảnh hưởng của đạo đức.
Tập quán và các quy phạm xã hội khác cũng có tác động qua lại với
pháp luật cho nên để phát huy vai trò của pháp luật thì cần xem xét đến mối
quan hệ của pháp luật với tập quán và các quy phạm xã hội khác. Để pháp
luật thể hiện đúng bản chất của mình đồng thời phù hợp với điều kiện kinh
tế xã hội cần xem xét mối quan hệ pháp luật với nhiều yếu tố khác mới hiểu
rõ bản chất pháp luật.
Chức năng của pháp luật:
Chức năng điều chỉnh: Nhà nước ban hành pháp luật điều chỉnh các
quan hệ xã hội theo định hướng nhất định, một mặt nhà nước ghi nhận
những quan hệ xã hội cơ bản và phổ biến trong xã hội, mặt khác nhà nước
quy định bảo đảm điều chỉnh các quan hệ xã hội đó phát triển theo hướng
phù hợp với lợi ích giai cấp, lợi ích xã hội. Bằng các quy định như khuyến
khích, cho phép, ngăn cấm, pháp luật đã tạo hành lang pháp lý, xác định
quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội điều
chỉnh họ đi vào nề nếp, trật tự theo khuôn khổ quy định của pháp luật. Ví dụ
như: Quy định về phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự là quy định địa vị
pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử cá nhân, pháp nhân, chủ thể
khác; quy định quyền, nghĩa vụ các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các

13


quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình và một số quan hệ khác như quan hệ
thương mại, hợp đồng lao động, thừa kế…
Chức năng bảo vệ; Pháp luật bảo vệ các quan hệ xã hội cơ bản phù

làm công cụ hữu hiệu nhất bảo đảm cho các quyền tự do, dân chủ, các
quyền, lợi ích thiết thực, hợp pháp sẽ bảo đảm được thực hiện.
Vai trò của pháp luật đối với hệ thống chính trị:
Pháp luật là phương tiện để kiểm chứng tính đúng đắn đường lối,
chính sách của đảng cầm quyền trên thực tế, pháp luật đồng thời là công cụ
hữu hiệu, đắc lực nhất để quản lý về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đối
với các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể quần chúng pháp luật pháp luật là
phương tiện cho các tổ chức đó hoạt động, pháp luật tạo nên hành pháp lý
trong quan hệ giữa cơ quan nhà nước với các cơ quan nhà nước, đồng thời
pháp luật tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước và
hoạt động xây dựng, quản lý nhà nước xác định nhiều quyền về chính trị như
quyền bầu cử, ứng cử và các cơ quan quản lý nhà nước.
Pháp luật là phương tiện cho mặt trận tổ quốc và các thành viên của
Mặt trận tổ quốc tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã
hội, là công cụ pháp lý của các tổ chức chính trị xã hội để xác định mối quan
hệ giữa các tổ chức chính trị xã hội với nhà nước và công dân...
Vai trò của pháp luật trong việc ghi nhận, bảo vệ và định hướng cho
việc phát triển kinh tế:
Pháp luật tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Pháp
luật tiến bộ là người đồng minh tự nhiên của nền sản xuất thuộc mọi thành
phần kinh tế được công nhận và đồng thời cũng là đồng minh tự nhiên của
bảo vệ quyền lợi chính đáng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
chống lại áp bức, bất công xây dựng xã hội mới.

15


Pháp luật là một trong những nền tảng quan trọng đưa các quan hệ xã
hội hướng tới công bằng, dân chủ, văn minh, khơi dậy mọi tiềm năng, sức
sáng tạo của nhân dân, giải phóng sức sản xuất để phát triển nền kinh tế thị

hệ đạo đức tiến bộ, bảo vệ sự tự do, dân chủ, công bằng, nhân đạo.
Vai trò của pháp luật đối với tư tưởng:
Pháp luật là công cụ đắc lực để chuyển tải hệ tư tưởng nhất định, là
phương tiện quản lý khoa học về thế giới quan của giai cấp cầm quyền.
Pháp luật xã hội chủ nghĩa là phương tiện để chuyển tải tải thế giới
quan khoa học của chủ nghĩa Mác Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh và các
giá trị tiến bộ của nhân loại, vì vậy pháp luật là công cụ chủ yếu để định
hướng hệ tư tưởng trong một xã hội nhất định.
1.2. Quan niện về đạo đức.
1.2.1 Một số quan niệm chủ yếu về đạo đức.
Từ buổi đầu sơ khai con người phải quan hệ với nhau để sinh tồn và
phát triển, mối quan hệ đó ngày càng trở nên phức tạp, đa dạng, phong phú
đòi hỏi mỗi cá nhân phải lựa chọn cho mình cách ứng xử điều chỉnh hành vi
thái độ của mình cho phù hợp với lợi ích chung của mọi người, của xã hội,
của cộng đồng. Đối với những trường hợp ứng xử đúng đắn, biết kết hợp hài
hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng của con người được coi
là có đạo đức, và ngược lại những cá nhân ứng xử không đúng đắn không
biết kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội thì bị coi
là người không có đạo đức.
Các hiện tượng xã hội phản ánh mối quan hệ đạo đức không phải có
cội nguồn xa lạ mà bắt nguồn từ chính hành vi cuộc sống con người, đạo đức
góp phần làm cho họ nhận thức được ý nghĩa của cuộc sống trong quá khứ,
hiện tại và tương lai, cho phép xác định mối quan hệ giữa cá nhân với cá
nhân, cá nhân với cộng đồng giới hạn trong vòng trật tự chung của cộng
17


đồng, của dân tộc, tạo nên nét đặc sắc văn hóa của cộng đồng, dân tộc. Sự
phát triển của đạo đức nhân loại là cả một quá trình từ thấp đến cao trên cơ
sở sự phát triển sản xuất, quá trình đấu tranh, gạn lọc, kế thừa phát triển theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status