DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 2:
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
Họ và tên
Mã SV
MỤC LỤC
A-TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ TỚI THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ:...............3
1 TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI...........................................................................................................3
2 THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ.........................................................................9
3 TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ ĐẾN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ:..............14
B. TÁC ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT TỚI THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH.............................23
1 KHÁI NIỆM LÃI SUẤT.................................................................................................24
2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LÃI SUẤT........................................................24
tác động ngược trở lại đến các mối quan hệ kinh tế, lên cán cân thanh toán quốc tế. lên giá
cả hàng hóa trong nước và lưu thông tiền tệ…
Ví dụ: Tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước công bố ngày 1\12\2011 là:1 USD =
20.803,00 VND
Ký hiệu đơn vị tiền tệ:
Vídụ: Dollar Mỹ USD
Dollar Úc AUS
Bảng Anh GBP
.....
1.2 Phương pháp biểu hiện tỷ giá
Để biểu hiện tương quan giá trị giữa hai đồng tiền, người ta có thể sử dụng một
trong hai phương pháp sau đây:
Phương pháp yết giá gián tiếp
Theo phương pháp này một đơn vị nội tệ được biểu hiện giá trị của nó thông qua một
lượng biến đổi ngọai tệ.
Ví dụ: tại thị trường Luân Đôn: 1GBP= 1.5016 USD.
Với phương pháp này chỉ có một ố ít đồng tiền sử dụng như England (GBP),
Autraylia (AUD), New zealand (NZD) và EUR sử dụng phương pháp gián tiếp, và USD là
đồng tiền định giá.
Phương pháp yết giá trực tiếp
Theo phương pháp này một đơn vị ngoại tệ được biểu hiện giá trị của nó thông qua
một lượng biến đổi nội tệ.
3
Ví dụ: tại thị trường Tokyo: 1CHF = 104.15 JPY
Hầu hết đồng tiền của các quốc gia trên thế giới đều sử dụng phương pháp biểu hiện
tỷ giá này
Tỷ giá chính thức ( official rate ): là tỷ giá do NHTW công bố, áp dụng để tính thuế
xuất nhập khẩu và một số hoạt động khác liên quan đến tỷ giá chính thức.
Tỷ giá chợ đen ( black market rate ): là tỷ giá được hình thành ngoài hệ thống ngân
hàng, do quan hệ cung cầu trên thị trường chợ đen quy định.
Tỷ giá cố định ( fixed rate ): là tỷ giá do NHTW công bố cố định trong một biên độ
dao động hẹp.
Tỷ giá thả nổi hoàn toàn ( freely floating rate ): là tỷ giá được hình thành hoàn toàn
theo quan hệ cung cầu trên thị trường, NHTW không hề can thiệp.
Tỷ giá thả nổi có điều tiết ( managed floating rate ): là tỷ giá được tảh nổi nhưng
NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế.
1.3.3
Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng lên cán cân thương mại
4
Tỷ giá danh nghĩa song phương: Là tỷ giá của một đồng tiền được biểu thị thông qua
đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa giữa chúng. Vì vậy khi tỷ
giá danh nghĩa thay đổi không nhất thiết phải tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng
hóa.
Tỷ giá thực song phương (Bilateral real exchange Rate): Là tỷ giá được xác định trên
cơ sở tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước và ở nước ngoài,
do đó nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ.
Tỷ giá danh nghĩa trung bình (Nominal effective exchange Rate – NEER): NEER
phản ánh sự thay đổi giá trị của một đồng tiền đối với tất cả các đồng tiền còn lại hay một số
các đồng tiền.
Tỷ giá thực trung bình (Real effective exchange rate – REER): REER cho biết tương
quan sức mua giữa nội tệ với các đồng tiền còn lại. REER được xác định trên cơ sở tỷ giá
danh nghĩa đa biên đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở tring nước và tất cả các nước
còn lại. Vì vậy nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và tất cả các đồng tiền còn lại
Ngược lại, khi thâm hụt thương mại, tỷ giá hối đoái sẽ tăng, đồng nội tệ giảm giá.
5
Đầu tư ra nước ngoài
Đầu tư ra nước ngoài có nghĩa là người dân trong nước dùng tiền mua tài sản ở nước
ngoài, có thể là đầu tư trực tiếp (xây dựng nhà máy, thành lập các doang nghiệp...) hay đầu
tư gián tiếp (mua cổ phiếu, trái phiếu...). Những nhà đầu tư này muốn thực hiện hoạt động
kinh doanh trên cần phải có ngoại tệ. Họ mua ngoại tệ trên thị trường, luồng vốn ngoại tệ
chảy ra nước ngoài, tỷ giá hối đoái sẽ tăng. Ngược lại một nước nhận đầu tư từ nước ngoài,
luồng vốn ngoại tệ chảy vào trong nước, làm cho cung ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái giảm.
Đầu tư ra nước ngoài ròng là hiệu số giữa luồng vốn chảy ra và luồng vốn chảy vào một
nước. Khi đầu tư ra nước ngoài ròng dương, luồng vốn chảy vào trong nước nhỏ hơn dòng
vốn chảy ra nước ngoài,tỷ giá hối đoái tăng. Tỷ giá hối đoái sẽ giảm trong trường hợp
ngược lại, đầu tư ra nước ngoài ròng âm. Theo quy luật tối ưu hoá, luồng vốn sẽ chảy đến
nơi nào có lợi nhất, tức là hiệu suất sinh lời cao nhất. Một nền kinh tế sẽ thu hút được các
luồng vốn đến đầu tư nhiều hơn khi nó có môi trường đầu tư thuận lợi, nền chính trị ổn
định, các đầu vào sẵn có với giá rẻ, nguồn lao động dồi dào có tay nghề, thị trường tiêu thụ
rộng lớn, lãi suất cao và sự thông thoáng trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của
Chính phủ.
Lạm phát
Khi một nước có lạm phát, sức mua đồng nội tệ giảm, với tỷ giá hối đoái không đổi,
hàng hoá dịch vụ trong nước đắt hơn trên thị trường nước ngoài trong khi hàng hoá dịch vụ
nước ngoài rẻ hơn trên thị trường trong nước. Theo quy luật cung cầu, người dân trong nước
sẽ chuyển sang dùng hàng ngoại nhiều hơn vì giá rẻ hơn, nhập khẩu tăng, cầu ngoại tệ tăng,
tỷ giá hối đoái tăng. Tương tự vì tăng giá, cư dân nước ngoài sẽ dùng ít hàng nhập khẩu
hơn. Hoạt động xuất khẩu giảm sút, cung ngoại tệ trên thị trường giảm, tỷ giá hối đoái tăng.
Như vậy lạm phát ảnh hưởng đến cả cung và cầu ngoại tệ theo hướng tăng giá ngoại tệ, tác
động cộng gộp làm cho tỷ giá hối đoái tăng nhanh hơn. Trên thị trưòng tiền tệ, lạm phát làm
đồng tiền mất giá, người dân sẽ chuyển sang nắm giữ các tài sản nước ngoài nhiều hơn, cầu
Hàng rào thương mại làm cản trở thương mại tự do như thuế nhập khẩu và hạn
ngạch. Sự gia tăng hàng rào thương mại sẽ làm cho đồng tiền của nước đótăng lên trong dài
hạn.
Ví dụ: Việt Nam tăng thuế nhập khẩu hoắc đặt hạn ngạch thấp hơn đối với thép của
Nhật, điều này làm cho cầu thép của Việt Nam tăng và đồng Việt Nam lên giá.
Sở thích về hàng nội và hàng ngoại
Mức cầu cao hơn về hàng xuất khẩu của một nước làm đồng tiền của nó lên giá trong
dài hạn và ngược lại.
Ví dụ: Mức cầu cao hơn về hàng nhập khẩu của một nước làm đồng tiền nội tệ xuống
giá trong dài hạn.
Người Mỹ thích ô tô Nhật hơn ô tô Mỹ, làm cho mức cầu hàng hóa Nhật cao hơn,
dẫn đến đồng đô-la giảm giá, đồng yên Nhật tăng giá.
Năng suất
Một nước có năng suất cao hơn các nước khác, làm cho các doanh nghiệp nước đó có
thể giảm giá hàng nội tệ so với hàng ngoại mà vẫn có lợi nhuận, dẫn đến cầu hàng nội tăng,
làm cho đồng nội tệ có xu hướng lên giá.
7
1.5 Một số cơ chế tỷ giá phân loại theo IMF
8
2
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
2.1 Khái quát chung về Thị trường tài chính quốc tế
Vai trò của tài chính quốc tế:
Thứ nhất, nó là công cụ quan trọng khai thác các nguồn lưc ngoài nước phục vụ cho
sự phát triển kinh tế - xã hội trong nước:
Thông qua các hoạt động của TCQT, các nguồn lực tài chính, công nghệ, kỹ thuật,
lao động,…được phân phối lại trên phạm vi thế giới. Mỗi quốc gia phải cân nhắc khai thác
sử dụng nguồn lực của quốc gia khác và sử dụng nguồn lực của mình để tham gia hợp tác
quốc tế một cách có hiệu quả.
Đặc biệt, với các quốc gia nghèo và chậm phát triển thì vấn đề tranh thủ nguồn vốn
nước ngoài cần được coi trọng. Bằng việc mở ra các quan hệ TCQT thông qua các hình
thức: vay nợ quốc tế, viện trợ quốc tế, đầu tư quốc tế, tham gia vào thị trường vốn quốc tế…
Thứ hai, thúc đẩy nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế thế
giới:
Việc mở rộng các hình thức tín dụng quốc tế, đầu tư quốc tế, tham gia vào thị trường
vốn, thị trường tiền tệ, thị trường hối đoái quốc tê, mở rộng thương mại và dịch vự quốc
9
tế… vừa góp phần phát triển kinh tế trong nước vừa thúc đẩy hoàn thiện chính sách vừa
thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế theo yêu cầu của các tổ chức quốc tế và khu vực.
Đối với các tổ chức kinh tế - tài chính khu vực và quốc tế, nguyên tắc hàng đầu là đôi
xử bình đẳng với mọi đối tác thành viên theo quy chế của Tối huệ quốc và quy chế Đãi ngộ
quốc gia. Điều đó đòi hỏi hệ thống pháp lý phải được hoàn thiện theo thông lệ quốc tế và
tương đối ổn định. Đây là công việc khó khăn với các nước đang phát triển.
TCQT vừa là yếu tố vừa là tiền đề tác động thúc đẩy các quốc gia hội nhập nền kinh
tế Thế giới.
Thứ ba, tạo cơ hội nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính:
Sự mở rộng và phát triển TCQT cho phép các nguồn tài chính có khả năng lưu động
dễ dàng, thuận lợi và mạnh mẽ giữa các quốc gia đã tạo điều kiện cho các chủ thể ở mỗi
trung gian tài chính khác
Các cơ quan quản lý của nhà nước
Các nhà môi giới tự do
Các nhà đầu cơ ngoại tệ
2.2.1.2
Các nghiệp vụ kinh doanh trên thị trường ngoại hối
10
Các nghiệp vụ trên thị trường giao ngay (Spot transactions)
Nghiệp vụ mua bán giao ngay
Nghiệp vụ mua bán khống
Nghiệp vụ Ac-bit (Arbitrages)
Nghiệp vụ kinh doanh khác
Các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối (Spot transactions)
Nghiệp vụ mua bán theo hợp đồng kỳ hạn (Forwards contracts)
Nghiệp vụ mua bán theo hợp đồng tương lai (Futures contracts)
Nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (Swaps)
Nghiệp vụ mua bán theo hợp đồng quyền chọn (Options).
2.2.2
2.2.2.1
Thị trường tiền tệ châu Âu
Khái quát về thị trường tiền tệ Châu Âu
Khái niệm
Thị trường tiền tệ châu Âu (European Currencies): là nơi gặp gỡ của các NHTW,
ứng của thị trường trong nước.
Là thị trường bán buôn, chủ yếu là thị trường Liên ngân hàng. Quy mô giao dịch vốn
thường rất lớn, uy tín của các thành viên trên thị trường rất cao.
Là nơi tích trữ các khoản thặng dư có tính thanh khoản cao.
Thị trường này có tính thanh khoản cao, bởi kỳ hạn gửi tiền phần lớn là ngắn hạn
Các chủ thể tham gia hoạt động của thị trường
Các Eurobanks hoạt động độc lập với các qui chế của Chính phủ
Các công ty đa quốc gia tham gia với tư cách là khách hang vay vốn,gửi tiền..
Các tổ chức tài chính quốc tế
Các NHTW,NHTM trong nước
2.2.2.2
Các nghiệp vụ cơ bản của thị trường tiền tệ Châu Âu:
Nghiệp vụ nhận tiền gửi : nhận tiền gửi Euro có kì hạn và phát hành chứng chỉ tiền
gửi khả nhượng
Nghiệp vụ tạo tiền của Eurocurrency market : giống như các NHTM khác.
Eurobanks có khả năng tạo tiền ghi sổ thông qua các hoạt động tín dụng và thanh toán
Tín dụng tiền tệ Châu Âu (Eurocredit) : là khoản vay bằng tiền tệ Euro ngắn hạn mà
các Eurobank cấp cho các doanh nghiệp, ngân hàng, chính phủ và các tổ chức quốc tế
2.3 Thị trường vốn:
Là nơi thực hiện chuyển giao hay mua bán vốn với thời hạn trên một năm giữa
những người cư trú và không cư trú Với mục đích đầu tư sinh lợi dài hạn. TT vốn bao gồm
tt trái phiếu và cổ phiếu. Hoạt động chủ yếu diễn ra tại các trung tâm tài chính lớn trên thế
giời từ 1 số quốc gia có vị thế đặc biệt về kinh tế, chính trị.
Thị trường vốn bao gồm thị trường trái phiếu quôc tế và thị trường cổ phiếu quốc tế
2.3.1
Thị trường trái phiếu quốc tế:
Yêu cầu là Chủ thể phát hành phải có hệ số tín nhiệm cao
Thời hạn dài, do vậy là kênh rất quan trọng cung cấp vốn dài hạn cho các chủ thể
phát hành.
2.3.2
Thị trường cổ phiếu quốc tế:
Là Những nơi mua bán cổ phiếu được phát hành bởi các công ty nước ngoài , nhờ
việc phát hành cổ phiếu quốc tế các công ty phát hành có thể đa dạng hóa cổ đông, tránh
được việc biến động giá cổ phiếu khi 1 lượng cổ đông lớn bán cổ phần.
Ưu thế khi tham gia thị trường cổ phiếu quốc tế:
Tăng khả năng gọi vốn đầu cho các công ty ở các nước khác nhau, do vậy tận dụng
lợi thế về cổ đông, quy mô đồng thời hạn chế rủi ro
Đa dạng hoá quyền sở hữu, nâng cao vị thế và uy tín cho các công ty
Cơ cấu:
Thị trường sơ cấp: Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các cổ phiếu mới phát
hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua
việc nhà đầu tư mua các cổ phiếu mới phát hành.
Thị trường thứ cấp: Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các cổ phiếu đã được phát
hành trên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các cổ phiếu đã phát hành.
Đặc trưng:
Thị trường cổ phiếu quốc tế có mức độ thanh khoản cao.
Ngày càng có nhiều cổ phiếu được đăng kí trên sở giao dịch, phản ánh tốc độ phát
triển của kinh tế thế giới.
13
Thị trường quốc gia càng ít tập trung vào một số loại cổ phiếu thì càng có nhiều cơ
hội cho các nhà đâu tư quốc tế đa dạng hóa danh mục đầu tư quốc tế.
Hoạt động của thị trường cổ phiếu quốc tế:
đích thanh toán, đầu cơ và phòng ngừa rủi ro tỷ giá, và của ngân hàng Nhà nước nhằm mục
đích can thiệp để bình ổn tỷ giá.
14
(b) Đầu tư nước ngoài ròng
Lãi
thực
Cung
Cầu
Lượng vốn vay
Cân bằng trên thị trường vốn
Cung
và thị trường ngoại hối
Cầu
Theo cách tiếp cận này, tỉ giá được quyết định bởi sự cân bằng giữa giá trị xuất khẩu
(c) Thị trường ngoại hối
và nhập khẩu. Như thường thấy, thay đổi tỷ giá danh nghĩa sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các
nhà xuất khẩu biên (marginal exporters) hoặc các nhà sản xuất hàng thay thế hàng xuất
khẩu, các nhóm lợi ích này có thể sẽ gây áp lực buộc Chính phủ phải gia tăng bảo hộ đối với
ngành nghề của họ. Tuy nhiên, đây chỉ là một phần nhỏ của câu chuyện vì bản thân Chính
sự mất giá (giảm) trong tỷ giá hối đoái thực có nghĩa rằng giá hàng hóa nội địa trở nên rẻ
tương đối so với hàng hóa nước ngoài. Điều này sẽ khuyến khích người tiêu dùng cả ở nội
địa và nước ngoài mua nhiều hàng hóa nội địa hơn và mua ít hàng hóa từ nước ngoài. Do
đó, xuất khẩu của nội địa sẽ tăng lên và nhập khẩu giảm xuống và cả điều này làm cho xuất
khẩu ròng của nội địa tăng lên.
Ngược lại, một sự tăng giá của tỷ giá hối đoái thực của đồng nội địa có nghĩa là hàng
hóa sẽ đắt hơn so với hàng hóa nước ngoài và xuất khẩu ròng giảm xuống.
3.1.3.2
Định lượng tác động của điều chỉnh tỷ giá đến xuất nhập khẩu và cán cân thương mại
Để định lượng tác động của việc điều chỉnh tỷ giá đến cán cân thương mại, các
chuyên gia đã sử dụng các mô hình VECM (Vector Autoregressive Error Correction Model)
và VAR (Vector Autoregressive) với các biến số như tỷ giá thực, giá trị xuất khẩu, giá trị
nhập khẩu, tỷ lệ xuất khẩu/nhập khẩu, giá trị sản xuất công nghiệp Việt Nam (đại diện cho
biến sản lượng nội địa), giá trị sản lượng công nghiệp Mỹ (đại diện cho biến sản lượng thế
giới)…,thu thập theo tháng từ tháng 1/2000 đến tháng 1/2011.
Kết quả đầu tiên của các mô hình là ước lượng phần trăm thay đổi gộp của giá trị
xuất khẩu và nhập khẩu theo 1% thay đổi của tỷ giá (hệ số co giãn) ở các tháng sau khi tỷ
giá được điều chỉnh tăng (Hình minh hoạ)
Theo lý thuyết, khi phá giá đồng nội tệ, giá hàng nhập khẩu sẽ giảm tính cạnh tranh
dẫn đến “ảnh hưởng sản lượng” (volume effect) – số lượng hàng nhập khẩu sẽ giảm xuống.
Tuy nhiên, phá giá còn dẫn đến “ảnh hưởng giá hàng nhập khẩu” (import value effect) - giá
mỗi đơn vị hàng nhập khẩu sẽ gia tăng.
16
Hình: Tác động gộp của điều chỉnh 1% tỷ giá đến xuất nhập khẩu
0,15%, do đó, tác động của riêng đợt điều chỉnh tỷ giá lần này là kim ngạch xuất
khẩu năm 2011 có thể giảm 1,4%.
Xuất khẩu không tăng như kỳ vọng được giải thích bởi phần lớn hàng hóa xuất
khẩu chính của Việt Nam đều sử dụng tỷ trọng các yếu tố đầu vào nhập khẩu lớn (ví
dụ các ngành lương thực – nhập khẩu phân bón, thuốc trừ sâu; dệt may – nhập khẩu
bông vải sợi, ngành điện tử - nhập khẩu máy móc và linh kiện, ….).
Sau khi “ảnh hưởng giá hàng nhập khẩu” lấn át, chi phí đầu vào của các ngành
sản xuất hàng xuất khẩu sẽ gia tăng, giá đầu ra tăng theo và trung hòa lại tác động của
giá hàng hóa nội địa cạnh tranh hơn lúc ban đầu.
Tóm lại: Về nguyên lý, tỷ giá hối đoái thay đổi sẽ làm thay đổi mức giá tương đối
của hàng hoá và dịch vụ bằng đồng tiền trong nước và đồng tiền nước ngoài, nên tỷ giá sẽ
có ảnh hưởng nhất định đến xuất nhập khẩu tác động đến cán cân thương mại. Tuy nhiên, có
nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá như: lạm phát, lãi suất, sự can thiệp của chính phủ hay
ngân hàng trung ương,…nên việc hiều và phân tích tỷ giá rất quan trọng vì nó giúp chúng ta
dự báo và hình thành kỳ vọng hợp lý về tỷ giá để từ đó có cơ sở ra quyết liên quan đến các
hoạt động tài chính.
Ở phần tiếp theo chúng ta sẽ tìm hiểu thực tiễn trong việc sử dụng chính sách tỷ giá
nhằm tác động đến xuất nhập khẩu, cải thiện cán cân thương mại để rút ra được những bài
học kinh nghiệm.
3.1.4
Thực tiễn quốc tế: Venezuela
Động thái phá giá đồng tiền Venezuela phản ánh những thách thức tài chính mà
Venezuela phải đối mặt từ khi giá dầu thô – mặt hàng xuất khẩu chính của Venezuela – sụt
giảm mạnh từ mức đỉnh năm 2008 do tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu năm
2008
Venezuela công bố chế độ hai tỷ giá. Theo đó, Mức tỷ giá 4,3 Bolivar đổi 1 USD, so
với mức 2,15 Bolivar tương đương 1 USD trước khi phá giá - được áp dụng cho việc nhập
khẩu hầu hết các mặt hàng từ xe hơi tới vật liệu xây dựng. Trong khi đó, mức tỷ giá 2,6
cạnh tranh giữa các trung tâm tài chính và các định chế tài chính trên thị trường quốc tế. Do
đó, tỷ giá hối đoái trở nên quan trọng trong việc thực hiện các giao dịch trên thị trường này.
Tuy nhiên do tác động của nhiều nhân tố khác nhau mà tỷ giá hối đoái luôn có sự biến động
và có ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của các chủ thể tham gia thị trường trong các lĩnh vực
ngoại thương, đầu tư, tín dụng, thanh toán, cán cân thanh toán…Trong thị trường tài chính
quốc tế, các vấn đề về cơ chế xác lập tỷ giá và sự tác động trở lại tỷ giá đến các lĩnh vực của
thị trường thường rất được quan tâm nghiên cứu. Trong phần này nhóm sẽ tập trung vào thị
trường vốn, chính xác hơn là thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu.
3.2.1
Thị trường Trái phiếu.
Tác động của tỷ giá đến thị trường trái phiếu quốc tế:
Khác với thị trường trái phiếu nội địa, một khi gia nhập thị trường trái phiếu quốc tế,
các giao dịch đều quy đổi sang ngoại tệ. do đó mà biến động tỷ giá sẽ có tác động rất lớn
đến các khoản đầu tư cũng như khoản vay của các chủ thể tham gia thị trường.
Trong phần nghiên cứu sau đây, ta sẽ nói về tỷ giá theo cách niêm yết trực tiếp, nghĩa
là xem ngoại tệ như là hàng hóa và bản tệ là đồng tiền định giá. Đồng thời, khi nói tỷ giá
tăng nghĩa là ngoại tệ tăng giá và nội tệ giảm giá.
Ví dụ 1: Khi nói tỷ giá giữa USD và VND là USD1 = VND21.000 thì sẽ hiểu rằng
USD đang là ngoại tệ và VND là nội tệ.
Thị trường sơ cấp:
Đây là thị trường mua bán các loại trái phiếu mới phát hành. Trên thị trường này vốn
từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các trái
phiếu mới phát hành. Đây là nơi duy nhất mà các trái phiếu đem lại vốn cho nhà phát hành
và cũng đồng thời là nơi tạo ra “hàng hóa” cho thị trường thứ cấp. Chính vì vậy mà mặc dù
chỉ được tổ chức một lần cho một loại trái phiếu nhất định, trong thời gian nhất định (giao
dịch không sôi nổi như là thị trường thứ cấp) nhưng thị trường này lại có vai trò rất quan
trọng. Đối với thị trường này có một số ưu điểm nổi bật khi vay vốn là:
- Có thể huy động được nguồn vốn ngoại tệ lớn (thay vì vay trong nước bằng nội tệ)
bất thường như hiện nay.
Lựa chọn lúc này, tùy theo đánh giá của từng tổ chức về tình hình sắp tới mà họ sẽ
quyết định tiếp tục phát hành hay tạm hoãn lại và chờ đợi tình hình thị trường ổn định hơn.
(Ví dụ trường hợp VietinBank dự định hoãn lại việc phát hành Trái phiếu quốc tế do tình
hình thị trường bất ổn)
Khi tỷ giá biến động bất thường và đang có xu hướng tăng thì cả nhà đầu tư và chủ
thể vay vốn đều có “tâm lý e ngại” khi tham gia thị trường. Do đó mà hoạt động trên thị
trường sơ cấp (phát hành Trái phiếu mới) sẽ có phần trầm lắng.
Khi tỷ giá giảm:
Ngược lại, khi tỷ giá giảm xuống (bản tệ tăng giá so với ngoại tệ) nghĩa là cùng một
lượng tiền đó, họ có thể mua được nhiều Trái phiếu hơn thì Trái phiếu đó sẽ hấp dẫn hơn
những Trái phiếu cùng đặc tính.
Ví dụ 3: Lấy lại trường hợp ở ví dụ 2, Việt Nam phát hành trái phiếu với điều kiện
ban đầu không đổi. Tuy nhiên tại thời điểm thanh toán trái tức, tỷ giá giữa USD và VND
giảm xuống còn USD1 = VND17.500 thì lúc này tiền lãi thanh toán cho 1 Trái phiếu sẽ chỉ
còn 105.000.000VND thay vì 114.000.000VND tại mức lãi suất lúc phát hành.
20
Tuy nhiên, một yếu điểm không thể bỏ qua đó là nguồn vốn huy động về nếu đổi
sang VND sẽ giảm xuống rõ rệt.
Thị trường thứ cấp:
Là nơi giao dịch các trái phiếu đã được phát hành trên thị trường sơ cấp. Là nơi
chuyển nhượng quyền sở hữu trái phiếu. Thị trường thứ cấp là nơi đảm bảo tính thanh
khoản cho trái phiếu đã phát hành. Thị trường thứ cấp chính là nơi đảm bảo thanh khoản
cho các trái phiếu được phát hành trên thị trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp có hoạt động
tốt (tạo ra tính thanh khoản cho trái phiếu) thì mới thuyết phục được nhà đầu tư mua trái
phiếu trên thị trường sơ cấp.
Một khi trái phiếu đã được phát hành ra thị trường sơ cấp thì việc lưu hành nó trên
thị trường thứ cấp sẽ không mang lại bất kỳ khoản tiền nào cho tổ chức phát hành mà nó chỉ
21
Nhu cầu “thay đổi danh mục đầu tư” như trên sẽ thúc đẩy nhà đầu tư tìm tới Trái
phiếu khác đang hấp dẫn tại thời điểm đó. điều này làm dòng vốn đầu tư dịch chuyển giữa
thị trường các quốc gia.
3.2.2
Thị trường cổ phiếu
Ngày nay, chính nhờ vào việc hình thành nên thị trường tài chính thống nhất toàn cầu
mà đã tạo cơ hội cho các nhà đầu tư từ các quốc gia đầu tư dễ dàng hơn vào thị trường cổ
phiếu của các quốc gia khác.Ví dụ như: Nếu các nhà đầu tư nhận thấy thị trường cổ phiếu
Mỹ đang hoạt động hiệu quả thì họ sẽ nhanh chóng chuyển qua mua cổ phiếu Mỹ, nếu họ
thấy cổ phiếu ở Nhật Bản đang hoạt động tốt hơn ở Châu Âu, các nhà đầu tư sẽ rút tiền của
họ ra khỏi thị trường Châu Âu để đầu tư vào thị trường Nhật Bản
Thị trường sơ cấp:
Cũng như Trái phiếu, thị trường này cũng nơi mà vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển
sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các cổ phiếu mới phát hành. Và là nơi
duy nhất mà các cổ phiếu đem lại vốn cho nhà phát hành đồng thời là nơi tạo ra “hàng hóa”
cho thị trường thứ cấp. Vì thế thị trường này đóng vai trò rất quan trọng. Thế nhưng cũng có
sự khác biệt giữa phát hành cổ phiếu và trái phiếu trên thị trường này. Ngoài các nhân tố thị
trường tác động đến quyết định phát hành thì khi phát hành trái phiếu, tỷ giá tác động nhiều
đến quyết định của họ. Thế nhưng với cổ phiếu thì khác:
- Bởi khi phát hành cổ phiếu, các nhà phát hành khi trả cổ tức thì chỉ chi trả bằng tiền
bản tệ chứ không phải ngoại tệ.
- Thêm vào đó, thời hạn của cổ phiếu có thể coi như là vô hạn (chỉ hoàn trả khi công
ty không còn kinh doanh nữa), cho nên sự biến động tỷ giá có thể không tác động nhiều đến
tâm lý của nhà phát hành.
Còn đối với các nhà đầu tư cá nhân trên thế giới thì họ thường theo dõi thị trường cổ
Tỷ giá ảnh hưởng rõ nét nhất đến cổ phiếu của các công ty hoạt động xuất nhập khẩu.
Khi tỷ giá tăng mức giá xuất khẩu sẽ tăng, công ty xuất khẩu sẽ được hưởng lợi, từ đó giá cổ
phiếu của công ty này sẽ tăng. Và khi đó việc tỷ giá tăng sẽ có tác động ngược đối với giá
cổ phiếu của công ty nhập khẩu. Còn trong trường hợp tỷ giá giảm, thì sẽ có tác động ngược
với khi tỷ giá tăng đã phân tích ở trên. Lợi dụng đặc điểm này nên nhiều nước đã áp dụng để
kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, điển hình là tại Việt Nam. Trong các ngành thủy
sản, sản phẩm nông nghiệp được hưởng lợi khi các khoản thu ngoại tệ được ghi nhận bằng
VND. Doanh nghiệp phát triển làm cho giá cổ phiếu của công ty trên thị trường chứng
khoán tăng. Nhưng không phải lúc nào tỷ giá tăng cũng làm giá cổ phiếu của doanh nghiệp
tăng. Đối với các doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu đầu vào từ nhập khẩu thì sẽ tăng chi
phí nguyên vật liệu rất cao, làm doanh nghiệp gặp khó khăn. Chính vì thế, tùy vào hình thức
kinh doanh của doanh nghiệp mà từ đó ảnh hưởng đến tâm lý của các nhà đầu tư trong việc
mở ra cơ hội hay thách thức cho họ. Và từ đó làm biến động giá cả trên thị trường cổ phiếu.
Mặt khác lợi nhuận từ việc đầu tư vào các cổ phiếu thường bằng đồng tiền nước sở
tại. Do đó, nhà đầu tư phải chuyển đổi ngoại tệ này thành đồng nội tệ và đối diện với rủi ro
tỷ giá. Sự biến động của tỷ giá sẽ làm ảnh hưởng tới tổng lợi nhuận của khoản đầu tư này,
khiến các nhà đầu tư phải “gánh thêm” một khoản thiệt hại hoặc một khoản lời về tỷ giá. Đi
kèm với đó là, đối với các doanh nghiệp có tỷ lệ vay nợ bằng USD cao thì sẽ phải “chịu
thêm” những khoản “từ trên trời rơi xuống”. Điều này lại tác động lên lợi nhuận và tăng
trưởng kì vọng của các nhà đầu tư với công ty trên, từ đó cũng ảnh hưởng đến quyết định
đầu tư vào thị trường cổ phiếu.
Đối với công ty đa quốc gia, sự biến động của tỷ giá ảnh hưởng đến bản báo cáo tài
chính, thu nhập của các công ty con được hợp nhất lại và chuyển sang đồng bản tệ của công
ty mẹ. Nếu giá trị đồng bản tệ tăng so với đồng các loại đồng tiền tại quốc gia công ty con
kinh doanh, doanh thu của công ty con khi được ghi nhận đồng bản tệ của công ty mẹ sẽ
giảm đi. Từ đó ảnh hưởng đến bản báo cáo tài chính của công ty này công bố trên thị trường
chứng khoán. Điều này có thể làm giảm cầu cổ phiếu của công ty này và dẫn đến giá cổ
phiếu giảm. Tuy nhiên cũng có một số ý kiến đối lập cho rằng, biến động tỷ giá không ảnh
hưởng đến các biến động tỷ giá hối đoái đối với báo cáo tài chính là không liên quan (với
giá cổ phiếu) trừ khi các lưu lượng tiền tệ cũng bị thay đổi.
Cầu quỹ cho vay bao gồm nhiêu thành phần và bắt nguồn từ tất cả các khu vực của
nền kinh tế, trong đó mỗi khu vực có như cầu về quỹ cho vay xuất phát từ những động lực
khác nhau:
Cầu của doanh nghiệp: khu vực doanh nghiệp là khác hàng chính tạo nên cầu quỹ
cho vay. Những nhu cầu về quỹ cho vay của doanh nghiệp chủ yếu xuất phát từ nhu cầu đầu
tư: mua sắm các tài sản thực như nhà máy, thiết bị và hàng tồn kho.
Cầu của chính quyền: khu vực chủ yếu khác lien quan đến cầu quỹ cho vay trong các
thị trường tài chính là chính quyền địa phương và trung ương. Nhu cầu về quỹ cho vay của
cơ quan địa phương chủ yếu được phát sinh vào việc xây dựng tiện ích cho giáo dục và
những dịch vụ công quyền khác, nhu cầu này được quyết định trước hết do tỷ lệ gia tăng
dân số, các thay đổi về vị trí địa dư, sự tăng tuổi thọ và dân số… Nhu cầu về quỹ cho vay
của chính phủ trung ương phát sinh chủ yếu từ chính sách tài chính quốc gia (thu nhập và
chi tiêu Ngân sách quốc gia).
Cầu của người tiêu dùng: chủ yếu là các cá nhân, hộ gia đình cần tiền để mua sắm
hàng tiêu dùng, trong đó hàng tiêu dùng lâu bền như: xe hơi, nhà ở và các hàng xa xỉ, rất
nhạy bén với sự thay đổi lãi suất, còn những mặt hàng nhu yếu phẩm như: thực phẩm , quần
áo, và chi phí về y tế… thì phần lớn không nhạy cảm với lãi suất.
Trong các yếu tố của cầu quỹ cho vay, cầu của doanh nghiệp và cầu của các chính
quyền là nguồn cầu ròng chính yếu của quỹ cho vay.
2.1.2
Cung quỹ cho vay
Cung quỹ cho vay phản ánh khối lượng quỹ có thể cung cấp cho vay, bao gồm khối
lượng tiết kiệm và số lượng tiền mới được tạo ra.
Tiết kiệm
Tiết kiệm có nghĩa là trì hoãn việc tiêu dùng hiện tại. Tiết kiệm có tính chất quan
trọng vì nó tạo ra nguồn để phát triển năng lực sản xuất của nền kinh tế. Bao gồm:
Tiết kiệm của các cá nhân, hộ gia đình.
khác nào đó ngoài lãi suất sẽ dẫn đến sự thay đổi lãi suất cân bằng, xuất hiện một giá trị cân
bằng mới cho lãi suất.
25