BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM
==========
NGUYỄN THIỆN HẢI
“MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ VÀ
CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM”
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ HỌC
MÃ SỐ: 60 03 01 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN MINH HÀ
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2015
iii
TÓM TẮT
Luận văn được thực hiện nhằm tìm kiếm bằng chứng về mối quan hệ giữa tỷ giá và
cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn từ quý 1/1999 đến quý 4/2014. Nghiên cứu
sử dụng phân tích đồng tích hợp Johansen và cơ chế hiệu chỉnh sai số ECM để xem
xét mối quan hệ cân bằng trong ngắn hạn và dài hạn giữa các biến trong mô hình;
phân tích cơ chế truyền dẫn sốc thông qua hàm phản ứng xung (IRF) để xem xét
mức độ phản ứng của cán cân thương mại khi xảy ra cú sốc đối với tỷ giá hối đoái
trong ngắn hạn.
Kết quả nghiên cứu tìm thấy bằng chứng đáng tin cậy về mối quan hệ giữa tỷ giá và
cán cân thương mại Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn. Trong ngắn hạn sự biến
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại ..........................................18
2.3 Tác động của tỷ giá lên cán cân thương mại ...................................................18
2.4 Một số nhân tố ảnh hưởng đến thời gian tác động lên cán cân thương mại
trong lý thuyết hiệu ứng đường cong J. .................................................................25
2.5 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN .......................................26
2.5.1 Các nghiên cứu nước ngoài ......................................................................26
2.5.2 Các nghiên cứu của Việt Nam ..................................................................29
2.6 Tóm tắt chương 2 .............................................................................................31
CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU .................................................................32
3.1 Quy trình nghiên cứu .......................................................................................32
v
3.2 Mô hình nghiên cứu định lượng ......................................................................36
3.2.1 Vấn đề hồi quy giả đối với chuỗi dữ liệu thời gian không dừng ..............36
3.2.2 Các bước thực hiện phương pháp định lượng ..........................................37
3.3 Tóm tắt chương 3 .............................................................................................42
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................43
4.1 Tổng quan về tỷ giá và cán cân thương mại Việt Nam ...................................43
4.1.1 Tình hình cán cân thương mại Việt Nam trong giai đoạn 1999 – 2014 ...43
4.1.2 Tình hình xuất nhập khẩu so với các đối tác thương mại lớn...................44
4.1.3 Diễn biến tỷ giá Việt Nam thời gian từ 1999 – 2014 ...............................48
4.1.4 Mối quan hê giữa NEER, REER và cán cân thương mại Việt Nam ........50
4.2 Phân tích định lượng ........................................................................................52
4.2.1 Nhân diện yếu tố mùa vụ ..........................................................................52
4.2.2 Kiểm định tính dừng (Unit root tests).......................................................54
4.2.3 Kiểm định sự tương quan .........................................................................56
4.2.4 Kiểm định đồng tích hợp (Cointergration test).........................................57
4.2.5 Ước lượng mô hình dài hạn ......................................................................59
Bảng 4.7: Kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu (4.1) thu được kết quả: ........................ 59
Bảng 4.8: Kết quả kiểm định wald ...................................................................................... 61
Bảng 4.9: Kết quả kiểm định tính dừng của phần dư .......................................................... 61
vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADB
Ngân hàng phát triển Châu Á
ADF
Augmented Dickey – Fuller
CCTM
Cán cân thương mại
CPI
Chỉ số giá tiêu dùng
DLn
Ký hiệu dạng sai phân bậc 1 của các biến ở dạng log
ECM
NHNN
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTW
Ngân hàng trung ương
OLS
Phương pháp chi bình phương bé nhất (Ordinary least square)
REER
Tỷ giá hối đoái thực đa phương
TB
Trade Blance
USD
Đô la Mỹ
VND
Việt Nam đồng
WTO
giá đồng nội tệ trong ngắn hạn hiệu ứng giá cả có tính trội hơn hiệu ứng khối lượng
nên làm xấu đi cán cân thương mại, ngược lại trong dài hạn hiệu ứng khối lượng có
tính trội hơn hiệu ứng giá cả làm cán cân thương mại được cải thiện. Tuy nhiên,
2
trong thực tế không phải lúc nào cũng vậy. Có quan điểm cho rằng ảnh hưởng của
phá giá có thể làm cán cân thương mại (CCTM) xấu đi trong ngắn hạn và được cải
thiện trong dài hạn theo đường cong tuyến J, cũng có quan điểm cho rằng đối với
các các nước đang phát triển thường phụ thuộc vào hàng nhập khẩu nên độ co giãn
giá cầu hàng nhập khẩu là nhỏ (tức trị giá nhập khẩu sẽ không giảm bao nhiêu khi
phá giá nội tệ). Do đó phá giá ở các nước đang phát triển có thể làm cho CCTM
thâm hụt sâu thêm. Nói cách khác, việc phá giá là một giải pháp có thể cải thiện
thâm hụt CCTM ở quốc gia này nhưng có thể sẽ không có tác động ở quốc gia khác.
Và giữa tỷ giá cà CCTM có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Đối với một nền kinh tế đang trên đà hội nhập như Việt Nam, thì tỷ giá và CCTM
có mối quan hệ với nhau như thế nào trong ngắn hạn và dài hạn, sự tăng giá (phá
giá đồng nội tệ)/xuống giá của tỷ giá hối đoái có làm cải thiện/thâm hụt CCTM hay
không?. Đây là lý do để nghiên cứu đề tài “Mối quan hệ giữa tỷ giá và Cán Cân
Thương Mại Việt Nam”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là xác định tác mối quan hệ của tỷ giá giá đến
CCTM Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn, qua đó đề xuất những giải pháp chính
sách để việc điều hành tỷ giá đạt được mục tiêu hỗ trợ xuất khẩu, ổn định các chỉ số
vĩ mô, hạn chế các tác động tiêu cực đến nền kinh tế.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm tìm hiểu và trả lời câu hỏi sau:
Tỷ giá và CCTM có mối quan hệ như thế nào trong ngắn hạn và dài hạn?
Một sự điều chỉnh tăng tỷ giá (phá giá) có làm CCTM của Việt Nam được
4
hàng phát triển Châu Á (ADB), bộ chỉ số phát triển Ngân hàng thế giới (WDI),
Tổng Cục Thống Kê, Tổng Cục Hải Quan, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng
Cục Thống Kê Trung Quốc, Cơ quan thông tin năng lượng Hoa Kỳ (US. Energy
Information Administration), các công ty chứng khoán, tổng hợp của các chuyên gia
nghiên cứu….
1.6 Ý nghĩa thực tiễn đề tài
Đề tài này giúp xác định các tác động tích cực và tiêu cực khi điều chỉnh tỷ giá đến
CCTM Việt Nam.
Các kiến nghị giải pháp được trình bày trong đề tài sẽ góp thêm một góc nhìn đối
với biến động tỷ giá và chính sách điều hành tỷ giá của ngân hàng nhà nước nhằm
góp phần cải thiện CCTM và nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam
trên trường quốc tế.
1.7 Kết cấu đề tài
Chương 1: Phần tổng quan
Giới thiệu tổng quan lý do chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Nêu phạm
vi và số liệu nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và kết cấu nội dung của luận văn .
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước
Chương này trình bày tổng quan về khung lý thuyết và các lý thuyết liên quan đến
tỷ giá và CCTM, các kết quả nghiên cứu và mô hình nghiên cứu của các tác giả
trước, từ đó lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp cho đề tài.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu – mô hình nghiên cứu
Chương này trình bày thiết kế và xây dựng mô hình nghiên cứu. Mô tả các biến
quan sát, cách tính, đo lường, kỳ vọng dấu, các lý thuyết kinh tế lượng liên quan
đến nghiên cứu.
5
Hoặc, một cách tổng quát “tỷ giá hối đoái” là giá của một đồng tiền được biểu thị
bằng số lượng đơn vị tiền tệ khác. (Lê Phan Thị Diệu Thảo, 2011).
Theo Luật Ngân hàng Nhà nuớc năm 2010, “tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là
giá cả của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam”.
Trong phạm vi đề tài “tỷ giá hối doái”, “tỷ giá” được sử dụng với cùng một nội
dung đó là giá của một đơn vị ngoại tệ tính bằng đồng nội tệ.
2.1.2 Các loại tỷ giá
Theo Nguyễn Văn Tiến (2009), Nguyễn Thị Tuyết Nga (2012) tỷ giá được bao gồm
các khái niệm sau:
7
2.1.2.1 Tỷ giá danh nghĩa (Nominal Exchange Rate) Là tỷ lệ trao đổi số lượng
tuyệt đối giữa hai đồng tiền. Hay, tỷ giá danh nghĩa là giá cả của một đồng tiền
đuợc biểu thị thông qua đồng tiền khác.
2.1.2.2 Tỷ giá danh nghĩa song phương - (Nominal Bilateral Exchange Rate) Tỷ
giá của hai đồng tiền bất kỳ được gọi là tỷ giá song phương. Sự thay đổi của tỷ giá
song phương thể hiện sự lên hoặc xuống giá của đồng tiền này so với đồng tiền kia.
Khi tỷ giá tăng, đồng tiền yết giá sẽ đổi được nhiều đồng tiền định giá hơn,
nên gọi là lên giá (appreciation); đồng tiền định giá trở nên đổi được ít đồng yết giá
hơn, nên gọi là giảm giá (depreciation).
Khi tỷ giá giảm, đồng tiền yết giá sẽ đổi được ít đồng tiền định giá hơn, nên
gọi là giảm giá (depreciation); đồng tiền định giá trở nên đổi được nhiều đồng yết giá
hơn, nên gọi là lên giá (appreciation).
Trên thị trường hối đoái, giá trị của một đồng tiền được đo lường bằng nhiều lượng
đồng tiền khác. Nói cách khác, tại cùng một thời điểm, trong cùng một thị trường,
luôn tồn tại nhiều tỷ giá song phương của một đồng tiền với nhiều đồng tiền khác.
Trên Thế giới có trên 170 đồng tiền, nếu sử dụng trên 170 tỷ giá song phương để tính
giá trị của một đồng tiền thì quá phức tạp và không cần thiết. Ðể giải quyết vấn đề
trong nước với tất cả các nước có đồng tiền tham gia trong rổ, do đó nó là một chỉ
số phản ánh mức độ cạnh tranh về giá cả của quốc gia và là cơ sở để đánh giá đồng
nội tệ bị định giá cao hay thấp. Khi REER lớn hơn 100 đồng nội tệ bị định giá thấp,
ngược lại REER nhỏ hơn 100 đồng nội tệ bị định giá cao và REER bằng 100 đồng
nội tệ có ngang giá sức mua so với rổ tiền tệ.
9
2.1.3 Các chế độ tỷ giá
Theo Lê Phan Thị Diệu Thảo (2011), IMF phân chính sách tỷ giá của các quốc gia
thành 7 loại.
Một là, Liên minh tiền tệ (Monetary Union). Đây là một khu vực sử dụng một đồng
tiền chung, một chính sách tiền tệ và tài khóa chung. Liên minh này lập ra ngân
hàng trung ương chung để quản lý dự trữ ngoại hối, nợ nước ngoài và chính sách tỷ
giá. Giải quyết được các vấn đề nêu trên sẽ góp phần giảm thiểu mâu thuẫn trong
chính sách tiền tệ giữa các nước thông qua các thỏa thuận đa phương trong liên
minh, giúp các nước thành viên tránh được các cú sốc khi gặp sự mất ổn định. Liên
minh tiền tệ châu Âu là một ví dụ điển hình về chế độ tỷ giá này.
Hai là, Đôla hóa (Dollarization/Eroization). Đô la hóa là chế độ tỷ giá mà một
quốc gia sử dụng đồng ngoại tệ là đồng tiền chính thức trong các giao dịch kinh tế
của mình.
Ba là, Hội đồng tiền tệ (Currency Board). Đây là chế độ tỷ giá được áp dụng để giải
quyết vấn đề tín nhiệm đối với bên ngoài thông qua những thỏa thuận ràng buộc
như gắn cố định đồng tiền nước mình với một đồng ngoại tệ, tự do chuyển đổi giữa
hai đồng tiền và cam kết thực hiện trong dài hạn. Hội đồng tiền tệ giúp giảm bớt sự
biến động của tỷ giá thực. Để thực hiện chế độ này cần có lượng dữ trữ ngoại hối đủ
mạnh để thực hiện các cam kết nêu trên.
Bốn là, Chế độ tỷ giá cố định (Fixed Peg). Trong chế độ tỷ giá được Chính phủ
tuyên bố sẽ duy trì không thay đổi giữa nội tệ với ngoại tệ nào đó hoặc với một rổ
trong quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối. Chính phủ tham gia thị trường
ngoại hối với tư cách là một thành viên bình thường, nghĩa là chính phủ có thể mua
vào hay bán ra một đồng tiền nhất định để phục vụ cho mục đích hoạt động của
mình chứ không nhằm mục đích can thiệp lên tỷ giá hay để cố định tỷ giá.
11
Cơ chế tỷ giá của Việt Nam:
Theo Nguyễn Thị Thu Hằng và cộng sự (2010), Cơ chế tỉ giá của Việt Nam đến
tháng 4/2008 được IMF xếp vào nhóm Neo cố định. Tuy nhiên, theo nhóm tác giả,
nếu xét một quá trình thì cơ chế tỉ giá của Việt Nam nên được xếp vào nhóm Neo tỉ
giá có điều chỉnh.
2.1.4 Các chính sách điều hành tỷ giá hối đoái
2.1.4.1 Khái niệm và mục tiêu của chính sách tỷ giá
Theo Lê Phan Thị Diệu Thảo (2011), Chính sách tỷ giá là các quyết định về tỷ giá
của ngân hàng trung ương – đại diện cho cơ quan có thẩm quyền về tiền tệ của
chính phủ. Chính sách tỷ giá bao gồm các quyết định về ổn định giá trị đồng tiền
nói chung và giá trị đối ngoại của bản tệ nói riêng biểu hiện bằng việc lựa chọn cơ
chế xác định tỷ gía trên thị trường; các quyết định về việc lựa chọn các công cụ và
biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu đề ra.
Là một công cụ của chính sách tiền tệ, mục tiêu của chính sách tỷ giá được quyết
định bởi mục tiêu của chính sách tiền tệ. Theo đó, mục tiêu chính của chính sách
tiền tệ là ổn định giá trị đối ngoại của bản tệ. Mục tiêu của chính sách tỷ giá được
cụ thể hóa như sau:
- Chính sách tỷ giá phải hỗ trợ các hoạt động kinh tế đối ngoại góp phần cân
bằng cán cân thánh toán quốc gia trong từng thời kỳ.
- Chính sách tỷ giá cần phối hợp hài hòa với các chính sách tiền tệ khác
nhằm góp phần ổn định giá trị tiền tệ, kiểm soát lạm phát, và thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế.
phá giá nội tệ.
13
- Quy định hạn chế đối tượng được mua ngoại tệ, quy định hạn chế mục đích
sử dụng ngoại tệ, quy định hạn chế số lượng mua ngoại tệ, quy định hạn chế thời
điểm được mua ngoại tệ. Tất cả các biện pháp này đều nhằm mục đích giảm cầu
ngoại tệ, hạn chế đầu cơ và tác động giữ cho tỷ giá ổn định.
- Với xu thế mở cửa nền kinh tế, tự do hóa thương mại và tự do hóa tài
chính, thì các biện pháp can thiệp hành chính ngày càng trở nên không phù hợp.
Chính vì vậy, xu thế trên thế giới là ngày càng hạn chế can thiệp hành chính và
chuyển sang sử dụng các công cụ thị trường.
Nhóm công cụ tác động gián tiếp lên tỷ giá: Bao gồm các công cụ như lãi suất tái
chiết khấu, thuế quan, hạn ngạch, giá cả, v.v… Trong số các công cụ gián tiếp thì
công cụ lãi suất tái chiết khấu thường được sử dụng nhiều nhất và tỏ ra hiệu quả
nhất.
- Lãi suất tái chiết khấu: với các yếu tố khác không đổi, khi ngân hàng trung
ương tăng mức lãi suất tái chiết khấu, sẽ có tác động làm tăng mặt bằng lãi suất thị
trường; lãi suất thị trường tăng hấp dẫn các luồng vốn ngoại tệ chạy vào làm cho nội
tệ lên giá. Khi lãi suất tái chiết khấu giảm sẽ có tác động ngược chiều.
- Thuế quan: thuế quan cao có tác dụng làm hạn chế nhập khẩu; nhập khẩu
giảm làm cho cầu ngoại tệ giảm; kết quả là làm cho nội tệ lên giá. Khi thuế quan
thấp sẽ có tác dụng ngược lai.
- Hạn ngạch: hạn ngạch có tác dụng làm hạn chế nhập khẩu, do đó có tác
dụng lên tỷ giá giống như thuế quan cao. Dỡ bỏ hạn ngạch có tác dụng làm tăng
nhập khẩu, do đó có tác dụng lên tỷ giá giống như thuế quan thấp.
- Giá cả: thông qua hệ thống giá cả, chính phủ có thể trợ giá cho những mặt
hàng xuất khẩu chiến lược hay trong giai đoạn đầu sản xuất. Trợ giá xuất khẩu làm
cho khối lượng xuất tăng, làm tăng cung ngoại tệ, khiến cho nội tệ lên giá. Chính
15
của cải, giải quyết gánh nặng nợ nần cho hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tỷ giá
hối đoái có tác động trực tiếp đến hoạt động ngoại thương cụ thể như sau:
Tác động tỷ giá lên kim ngạch xuất khẩu: Khi tỷ giá giảm, lượng ngoại tệ thu về
từ hoạt động xuất khẩu sẽ giảm xuống, doanh thu từ hoạt động xuất khẩu tính ra nội
tệ bị thu hẹp, xuất khẩu không được khuyến khích hay xu thế chung thường gặp là
một sự sút giảm trong hoạt động xuất khẩu.
Tác động tỷ giá lên cơ cấu hàng xuất khẩu: Đối với cơ cấu mặt hàng xuất khẩu,
các mặt hàng nông sản, nguyên liệu thô nhạy cảm hơn đối với mọi biến động tăng,
giảm của tỷ giá hối đoái so với các mặt hàng như máy móc, thiết bị, xăng dầu…Lý
do được đưa ra nhằm giải thích cho vấn đề này đó là độ co giãn của các mặt hàng
nông sản, nguyên liệu thô đối với giá xuất khẩu hoặc tỷ giá hối đoái áp dụng là rất
cao, do đây là các mặt hàng có thể thay thế được trong khi độ co giãn của các mặt
hàng máy móc, thiết bị toàn bộ, các mặt hàng không thể thay thế được như xăng,
dầu … là rất thấp. Tỷ giá hối đoái giảm xuống khiến giá hàng xuất khẩu bị đắt
tương đối, các mặt hàng dễ bị thay thế là danh mục đầu tiên bị loại ra khỏi danh
sách sử dụng của người tiêu dùng nước ngoài và các mặt hàng này cũng sẽ mất dần
trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu.
Tác động tỷ giá lên tính cạnh tranh của xuất khẩu: Đối với cạnh tranh về giá hàng
xuất khẩu, một sự giảm xuống của tỷ giá nước này so với các nước khác sẽ khiến
hàng hóa xuất khẩu nước này trở nên kém tính cạnh tranh do giá cả đắt hơn, ngược
lại nếu tỷ giá tăng sẽ khiến giá hàng xuất khẩu trở nên rẻ tương đối, tính cạnh tranh
về giá tăng lên.
Tác động của tỷ giá hối đoái lên hoạt động nhập khẩu: Phần còn lại của ngoại
thương chính là hoạt động nhập khẩu. Có quan niệm cho rằng để ngoại thương phát
triển cần tăng cường xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, nhập khẩu làm tổn hại nền kinh
tế, làm tiêu tốn ngoại tệ dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại. Quan niệm này chưa
chính xác bởi chính hoạt động nhập khẩu lại góp phần thúc đẩy xuất khẩu, nhập
17
tác động của tỷ giá hối đoái lên tổng thể hoạt động ngoại thương. Thông thường,
tác động của tỷ giá lên ngoại thương được xem có hiệu quả nếu nó đem lại thặng dư
cán cân thương mại và kém hiệu quả khi cán cân thương mại thâm hụt.
2.1.5.2 Đối với lạm phát:
Ngoài tác động đến ngoại thương tỷ giá hối đoái còn tác động đến khía cạnh khác
của nền kinh tế là lạm phát. Khi tỷ giá tăng (nội tệ mất giá) và giả định các yếu tố
khác trong nền kinh tế không đổi thì sẽ làm mặt bằng giá cả trong nước tăng lên tức
gây ra lạm phát. Bên cạnh đó tỷ giá tăng sẽ hạn chế nhập khẩu, giúp phát triển các
ngành sản xuất bằng nguồn lực trong nước tạo khả năng cạnh tranh của hàng nội
địa, tăng sản lượng quốc gia, tạo thêm việc làm, giảm thất nghiệp. Ngược lại nếu tỷ
giá giảm (nội tệ tăng giá) và giả định các yếu tố khác không đổi thì lạm phát sẽ
giảm, khả năng cạnh tranh giảm, giảm sản lượng quốc gia, giảm việc làm, tăng thất
nghiệp. Khi tỷ giá giảm (nội tệ tăng giá) sẽ thúc đẩy nhập khẩu, nếu nhập khẩu hàng
tiêu dùng sẽ trực tiếp làm biến động mức giá chung của nền kinh tế phụ thuộc vào
tỷ trọng hàng nhập khẩu; nếu nhập khẩu nguyên vật liệu để sản xuất trong nước sẽ
trực tiếp làm thay đổi chi phí sản xuất, phụ thuộc vào tỷ trọng nguyên vật liệu nhập
khẩu chiếm trong giá thành sản phẩm, và doanh nghiệp phải thay đổi giá bán để bù
đắp chi phí làm giá cả hàng hoá trong nước thay đổi, lạm phát gia tăng…...
Tỷ giá có ảnh hướng tới mọi thành phần kinh tế khi hội nhập. Việc giảm tỷ giá có
thể làm cho những nhà sản xuất trong nước khó khăn trong việc bán hàng của họ ở
nước ngoài và có thể tăng sự cạnh tranh của hàng nước ngoài tại nước ta vì giá hàng
ngoại giảm đi. Tỷ giá hối đoái là một biến số có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong
các nền kinh tế đang chuyển đổi. Tỷ giá hối đoái có tác động trực tiếp đến các
quyết định của những người sản xuất, người tiêu dùng, các nhà đầu tư và đến giá cả
trong một quốc gia. Việc phân tích về tỷ giá phải được đặt trong các mô hình kinh
tế vĩ mô của một nền kinh tế mở mới thấy được mối quan hệ của tỷ giá và các biến
19
tăng, kích thích tăng khối lượng xuất khẩu, hạn chế khối lượng nhập khẩu, cải thiện
cán cân thương mại.
Hiệu ứng giá cả: Khi tỷ giá tăng (phá giá), giá hàng hóa xuất khẩu khi tính
bằng ngoại tệ giảm, giá nhập khẩu tính theo đồng ngoại tệ tăng, CCTM thâm hụt.
Hiệu ứng khối lượng: Khi tỷ giá tăng (phá giá), giá hàng hóa xuất khẩu tính
bằng ngoại tệ giảm làm tăng khối lượng xuất khẩu trong khi hạn chế khối lượng
nhập khẩu. Cán cân thương mại cải thiện.
Hiệu ứng ròng của cán cân thương mại (xấu đi hay được cải thiện) tùy thuộc vào
hiệu ứng giá cả và hiệu ứng số lượng cái nào trội hơn.
Trong ngắn hạn, khi tỷ giá tăng trong lúc giá cả và tiền lương trong nước tương đối
cứng nhắc sẽ làm giá hàng hóa xuất khẩu rẻ hơn, nhập khẩu trở nên đắt hơn: các
hợp đồng xuất khẩu đã được ký kết với tỷ giá cũ, các doanh nghiệp trong nước chưa
huy động đủ nguồn lực để sẵn sàng tiến hành sản xuất nhiều hơn trước nhằm đáp
ứng nhu cầu xuất khẩu tăng lên, cũng như nhu cầu trong nước tăng lên. Ngoài ra,
trong ngắn hạn, cầu hàng nhập khẩu không nhanh chóng giảm còn do tâm lý người
tiêu dùng. Khi phá giá, giá hàng nhập khẩu tăng lên, tuy nhiên, người tiêu dùng có
thể lo ngại về chất lượng hàng nội hay trong nước chưa có hàng thay thế xứng đáng
hàng nhập làm cho cầu hàng nhập khẩu chưa thể giảm ngay. Do đó, số lượng hàng
xuất khẩu trong ngắn hạn không tăng lên nhanh chóng và số lượng hàng nhập cũng
không giảm mạnh. Vì vậy, trong ngắn hạn hiệu ứng giá cả có tính trội hơn hiệu ứng
số lượng làm cho cán cân thương mại xấu đi.
Trong dài hạn, giá hàng nội địa giảm đã kích thích sản xuất trong nước và người
tiêu dùng trong nước cũng đủ thời gian tiếp cận và so sánh chất lượng hàng trong
nước và hàng nhập. Mặc khác, trong dài hạn, doanh nghiệp có thời gian tập hợp đủ
các nguồn lực để tăng khối lượng sản xuất. Lúc này sản lượng bắt đầu co giãn, hiệu
ứng số lượng có tính trội hơn hiệu ứng giá cả làm CCTM được cải thiện.