Báo cáo nghiên cứu khoa học " MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM THỜI KỲ 1995 - 2004 " - Pdf 14


61

MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM THỜI KỲ 1995 - 2004
Phan Thanh Hoàn, Nguyễn Đăng Hào
Trường Đại học Kinh tế,Đại học Huế

Thực tiễn cho thấy, sự biến động của tỷ giá hối đoái có quan hệ mật thiết
với kết quả của nền kinh tế vĩ mô. Đây là một biến số quan trọng ảnh hưởng đến
sự cạnh tranh của hàng hoá ngoại thương và những biến số khác trong nền kinh
tế. Sự thay đổi trong cán cân thương mại do biến động của tỷ giá là một vấn đề
quan trọng và cơ bản trong chính sách kinh tế vĩ mô. Có hai lý do cho vấn đề này
đó là: (i) những nhà hoạch định chính sách thường quan tâm đến việc ở mức độ
nào thì cán cân thương mại là tối ưu cho một nước; (ii) sự biến động của cán
cân thương mại ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập quốc dân trong ngắn hạn, vì
vậy, nghiên cứu tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại giúp cho
việc hoạch định mục tiêu của thu nhập quốc dân. Đối với Việt Nam, việc nghiên
cứu và thảo luận về chính sách tỷ giá hối đoái trong thời gian qua là một vấn đề
nhạy cảm, không những vì chính bản thân tầm quan trọng của nó mà còn vì ảnh
hưởng lớn lao của nó đến nền kinh tế. Trong những năm qua, xuất khẩu của Việt
Nam tăng trưởng khá ấn tượng, tuy vậy cán cân thương mại của Việt Nam luôn
thâm hụt. Do vậy, vấn đề đặt ra ở đây là quan hệ giữa chính sách tỷ giá với ngoại
thương là như thế nào? Liệu chính sách tỷ giá trong thời gian qua đã hỗ trợ cho
hoạt động xuất khẩu? Kết quả trả lời những câu hỏi trên sẽ là căn cứ cho việc
hoạch định chính sách tỷ giá nhằm đạt được một chính sách ngoại thương hợp lý,

62

phục vụ tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc
tế ngày càng sâu sắc của Việt Nam trong thời gian tới.

ttt
uqB  )ln()ln(
10


Trong đó: Bt là tỷ số thương mại; ln biểu thị logarit tự nhiên và u là độ
nhiễu. Ở đây, cán cân thương mại được biểu thị bằng tỷ số thương mại giữa kim
ngạch xuất khấu và kim ngạch nhập khẩu. Lý do chính của việc sử dụng này là
có thể dùng logarit của biến tỷ số thương mại này trong các mô hình kiểm định.
Đây là phương trình quan hệ được sử dụng trong nghiên cứu này nhằm xác định
mối quan hệ giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái.
1.2. Mô hình định lượng
Với mô hình biểu thị mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương
mại đã xác định ở trên (biểu thức 3), chúng tôi áp dụng phương pháp phân tích
mối quan hệ này bằng lý thuyết Đồng liên kết (Cointegration theory) và mô hình
cơ chế hiệu chỉnh sai số (ECM – Error Correction Model).
Phân tích biến động dài hạn – Mô hình Đồng liên kết
Trong nghiên cứu kinh tế, chúng ta thường giả lập mô hình mà ở đó các
biến số kinh tế có quan hệ với nhau và thường được mô tả dưới dạng các cân
bằng, chẳng hạn như:

1
Paul R. Krugman, Maurice Obstfeld, International Economics: Theory and Policy, 5
th
Edition, Addison-
Wesley Publishing Company, p. 466-468.

64

ttt

2
sẽ bị lệch. Nói một cách khác,
hồi quy lệch sẽ cho kết quả các kiểm định thống kê t và R
2
rất tốt nhưng mô hình
có thể hoàn toàn không có ý nghĩa. Vì vậy, trước khi xây dựng và phân tích mô
hình, cần phải có kiểm định thuộc tính tĩnh của các biến chuỗi trước khi đưa vào
sử dụng.
Hai biến chuỗi y
t
và x
t
được coi là đồng liên kết (cointegrated) nếu tồn tại
một tham số để:
ttt
xyu


cũng là một biến chuỗi tĩnh (stationary variable).

2
Jack Johnston, John Dinardo (2003), Econometric Methods, Fourth Editions, McGRAW - HILL
International Editions

65

Dựa vào lý thuyết về Đồng liên kết như trên, chúng ta có phương pháp kiểm
định và phân tích mô hình sử dụng như sau:
(i) Kiểm tra thuộc tính biến tĩnh của dữ liệu;
(ii) Nếu các biến sử dụng là biến tĩnh liên kết cùng bậc thì tiến hành

uqB 
110
)ln()ln(


Trong đó 
1
là hệ số co giãn xuất khẩu ngắn hạn của tỷ giá thực đa phương,
 là hệ số của biến điều chỉnh sai số chỉ tốc độ mà hệ thống tiếp cận đến trạng
thái cân bằng dài hạn. Cụ thể, mức độ trễ trung bình của quá trình điều chỉnh đến
trạng thái cân bằng dài hạn là -1/. Điều này có nghĩa là giá trị tuyệt đối của 
càng lớn thì quá trình điều chỉnh diễn ra càng nhanh.
Nghiên cứu về tác động của tỷ giá thực lên xuất khẩu của Việt Nam, Lord
(2002) đã sử dụng mô hình ECM để tính hệ số co giãn xuất khẩu mặt hàng giày
dép của tỷ giá thực trong ngắn hạn và dài hạn. Kết quả hồi quy của nghiên cứu
này cho thấy tác động của tỷ giá thực lên xuất khẩu giày dép có ý nghĩa về mặt
thống kê trên thị trường toàn cầu và trên một số thị trường khu vực. Hệ số co
giãn xuất khẩu giày dép của tỷ giá thực trên thị trường toàn cầu là 1,8 trong ngắn
hạn và 2,0 trong dài hạn. Trong ngắn hạn hệ số này là 0,1 đối với thị trường
ASEAN-5 và 0,3 đối với thị trường Mỹ. Trong dài hạn hệ số này là 0,4 đối với
thị trường Mỹ và 1,9 đối với thị trường EU
3
.
Lord còn cho rằng chỉ số đo lường mức cạnh tranh thích hợp hơn cho từng
thị trường là tỷ giá thực so sánh (cross-rates) giữa Việt Nam và các đối tác
thương mại quan trọng. Sử dụng chỉ số tỷ giá thực so sánh tác giả chỉ ra rằng tính
cạnh tranh của Việt Nam trong những năm gần đây tăng lên trên thị trường
Trung Quốc, Mỹ, trong khi lại giảm xuống trên những thị trường khác như
ASEAN, Nhật Bản và EU. Việc giảm tính cạnh tranh trên thị trường EU được
giải thích là do đồng đô la lên giá so với đồng euro và mối liên quan chặt chẽ

chúng tôi sử dụng biến giả (dummy) DU
99
với giá trị = 1 ở các quý năm 1999,
thời gian còn lại biến giả có giá trị bằng 0. Lý do của việc lựa chọn mốc thời gian
cho biến giả này là sau khủng hoảng tài chính tiền tệ, năm 1999 các nước trong

68

khu vực đã điều chỉnh lại tỷ giá hối đoái của nước mình cho phù hợp với điều
kiện mới.
Các bước phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại được
thực hiện như sau: quan sát biểu đồ, chạy mô hình hồi quy đồng liên kết, hồi quy
hiệu chỉnh sai số và kết luận.
Bảng 1: Tỷ giá danh nghĩa, thực tế song phương và đa phương của
Việt Nam thời kỳ 1995 - 2004
Năm T
ỷ giá danh
nghĩa
1
Tỷ giá thực
tế
2
NEER
3
REER
4
Tỷ số th
ương
mại
5

15.646 15.276 183,62 129,38 79,98
2004
15.777 15.172 191,48 129,48 82,42
Ghi chú: 1: Tỷ giá danh nghĩa USD/VND (Số VND=1USD)
2: Tỷ giá thực tế USD/VND (Số VND=1 USD)
3: Chỉ số tỷ giá hiệu lực danh nghĩa đa phương (%, năm
1990=100)

70

4: Chỉ số tỷ giá hiệu lực thực tế đa phương (%, năm 1990=100)
5: Tỷ số xuất khẩu/nhập khẩu (%)
Nguồn: Niên giám thống kê 2004, Thống kê tài chính quốc tế - IFS
(International Financial Statistics), 2005, Ngân hàng thế giới, 2005, Kinh tế Việt
Nam và Thế giới 2004-2005.
Từ năm 1992 đến năm 1997, chính sách tỷ giá hối đoái được điều chỉnh để
chống lạm phát và thu hút đầu tư nước ngoài. Để thực hiện mục tiêu chống lạm
phát, chính sách tỷ giá được điều hành cố gắng duy trì sự ổn định của tỷ giá hối
đoái danh nghĩa. Vì vậy, thời kỳ này tỷ giá hiệu lực thực tế đa phương (REER)
đã giảm tới 11%.
Sự ổn định tỷ giá hối đoái danh nghĩa những năm này đã tạm thời góp phần
tích cực vào việc kiềm chế lạm phát, thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế với tốc độ cao trên 8% năm. Nhưng việc duy trì tỷ giá hối đoái
danh nghĩa gần như cố định trong điều kiện lạm phát đã được kiềm chế song vẫn
cao hơn lạm phát của Mỹ (nước có đồng tiền chiếm tỷ trọng chủ yếu trong giỏ
ngoại tệ để xác định tỷ giá của Việt Nam) và các nước có quan hệ thương mại
chủ yếu của Việt Nam, đồng thời đồng USD có xu hướng tăng giá từ năm 1995
đã làm cho VNĐ có xu hướng ngày càng bị đánh giá cao hơn thực tế. Điều này
đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu mà biểu hiện ở tỷ số
thương mại đã giảm từ 101,53% xuống còn 78,68%.

Q3 2002
Q1 2003
Q3 2003
Q1 2004
Q3 2004
Q1 2005
Q3 2005
Tỷ số thương mại REER

Biểu đồ trên đây cho thấy biến động của tỷ giá hiệu lực đa phương và tỷ số
thương mại của Việt Nam với các bạn hàng chủ yếu thời kỳ 1995-2005. Nhìn
chung, xu hướng biến động của hai biến số này là tăng lên theo thời gian. Ở một
vài thời kỳ như 1995-1996, 1997-1999, 1999-2001, khi tỷ giá hiệu lực tăng hay
giảm thì tỷ số thương mại cũng biến động theo chiều hướng tương tự. Điều này
chứng tỏ đã có mối liên hệ nhất định giữa tỷ giá thực với cán cân thương mại của
Việt Nam trong thời gian qua, có nghĩa là sự xuống giá thực của đồng Việt Nam
so với đồng tiền của các đối tác thương mại chủ yếu đã làm tăng sức cạnh tranh
của hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam trên các thị trường đó, từ đó xuất khẩu gia
tăng, làm tăng tỷ số thương mại; hay nói cách khác là cải thiện cán cân thương
mại.
Kết quả mô hình hồi quy đồng liên kết và cơ chế hiệu chỉnh sai số của các
biến tỷ giá hiệu lực đa phương và cán cân thương mại như sau:
Bảng 2: Kiểm định nghiệm đơn vị các biến trong mô hình đồng liên kết

72

Biến số Kiểm định ADF (t statistics)
Ln(Tỷ số TM) -1.551
Ln(Chỉ số RER) 1.278
∆(Ln(Tỷ số TM)) -2.264*

-1
0,559 0,801 0,423

74

Ln(REER)
-2
-0,673 -0,966 0,334
Ln(REER)
-3
1,409* 2,199 0,027
Ln(REER)
-4
-0,535 -0,901 0,367
(Sai số trễ)
-1
-1,016 -6,432 0,000
R-square: 0,618, F test: F(6,32) = 8,65 (0,000), Durbin-Watson test = 2,126
Ghi chú: * có ý nghĩa thống kê ở mức 5%
-1;-2 biểu thị mức độ trễ theo quý
Kết quả mô hình thể hiện ở các bảng trên cho thấy tỷ giá hối đoái và cán
cân thương mại có quan hệ với nhau trong dài hạn và ngắn hạn. Các tham số
thống kê của các mô hình đều chứng tỏ các mô hình là phù hợp và có ý nghĩa.
Mô hình hồi quy đồng liên kết chỉ rõ có mối liên kết giữa hai biến số phân tích.
Hệ số ước lượng của tỷ giá hiệu lực đa phương mang dấu dương (0,704) và có ý
nghĩa thống kê, tức là trong dài hạn, một sự tăng lên của tỷ giá hiệu lực đa
phương có tác động tích cực đến cán cân thương mại mà ở đây chính là tỷ số
thương mại. Điều này hoàn toàn phù hợp với giả thiết nghiên cứu ban đầu. Biến
số DU99 không có ý nghĩa thống kê, điều đó có nghĩa là sự biến động mạnh của
các đồng tiền liên quan trong cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ khu vực năm

cân thương mại hay không? Đây là một vấn đề phức tạp bởi để thúc đẩy xuất
khẩu đòi hỏi một hệ thống biện pháp khác nhau, không đơn thuần là chính sách
tỷ giá. Mặt khác, tỷ giá là một biến số vĩ mô rất nhạy cảm tác động đến nhiều
biến số vĩ mô khác như thương mại, cán cân thanh toán, ngân sách chính phủ, nợ
nước ngoài Do đó, việc xem xét chính sách tỷ giá phải được đặt trong một tổng

76

thể chính sách của Chính phủ. Có một số lý do cho thấy cần phải thận trọng khi
xem xét quyết định có nên phá giá hay không như sau:
Thứ nhất, trong mô hình cân bằng dài hạn (Cointegration Model) và mô
hình biến động ngắn hạn (ECM) giữa tỷ giá thực và cán cân thương mại của
nghiên cứu này mới đề cập đến tác động của tỷ giá thực lên xuất, nhập khẩu chứ
chưa xem xét tác động đến các biến số vĩ mô khác. Bên cạnh đó, việc phá giá
đồng Việt Nam sẽ làm cho nhập khẩu sẽ trở nên đắt đỏ hơn đối với các nhà sản
xuất trong nước. Hiện tại, nhiều ngành kinh tế của Việt Nam còn phụ thuộc nặng
nề vào đầu vào nhập khẩu như nông nghiệp, dệt may, công nghiệp hóa chất, điện
tử Do đó, phá giá sẽ đẩy chi phí sản xuất của những ngành này lên cao có thể
gây nên lạm phát do chi phí (cost-push) đối với toàn nền kinh tế. Từ đó, giá cả
hàng hoá xuất khẩu cũng gia tăng tính bằng nội tệ, dẫn đến hiệu ứng tích cực của
phá giá đối với xuất khẩu trở nên bằng không. Thứ hai, phá giá sẽ làm nợ nước
ngoài của chính phủ và những tổ chức kinh tế khác gia tăng tính theo đồng Việt
Nam khiến cho ngân sách Chính phủ thêm khó khăn, những doanh nghiệp vay
ngoại tệ của ngân hàng để tiến hành kinh doanh trên thị trường nội địa cũng sẽ bị
thiệt hại do ngoại tệ lên giá so với đồng Việt Nam. Vì những lý do trên, cần phải
tính toán rất cẩn thận những lợi ích và chi phí của việc phá giá đồng Việt Nam tr-
ước khi ra những quyết định quan trọng về vấn đề này.
III. Kết luận
Đề cập đến chính sách tỷ giá ở Việt Nam là một vấn đề hết sức nhạy cảm,
liên quan đến hàng loạt các yếu tố cấu trúc kinh tế và cả các vấn đề chính trị, xã

hay đa phương) để phân tích ảnh hưởng lên cán cân thương mại là không chuẩn
xác, mà phải sử dụng đến tỷ giá thực và chủ yếu là tỷ giá thực đa phương.

4
Trần Ngọc Thơ, Tiền đồng được định giá cao hay thấp?, Thời báo kinh tế Sài Gòn, số 30-2006 (814)

78

Thứ hai, để thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng mạnh hơn thì tỷ giá thực không
thể quá thấp như ở Việt Nam trong suốt thời gian qua. Vấn đề điều chỉnh tỷ giá là
để tỷ giá thực đạt mức bao nhiêu là hợp lý.
Tóm lại, trong những nhân tố tác động đến hoạt động ngoại thương của Việt
Nam trong thời gian qua, tỷ giá hối đoái có một vai trò hết sức quan trọng. Các
nghiên cứu trong và ngoài nước trong thời gian qua đã khẳng định mối quan hệ
và tác động giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại ở Việt Nam với các mức
độ khác nhau. Nghiên cứu này nhằm phân tích một cách sâu hơn mối quan hệ
giữa hai biến số đó và đã cho một kết quả tương tự. Điều này góp phần làm vững
chắc cơ sở cho việc hoạch định chính sách tỷ giá nhằm phục vụ tốt hơn hoạt
động ngoại thương của Việt Nam trong thời gian tới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Jack Johnston, John Dinardo. Econometric Methods, Fourth Editions,
McGRAW - HILL International Editions (2003)
2. Kenichi Ohno. Exchange Rate Management of Vietnam, Re-examination
of Policy Goals and Modality, Research paper, The National Graduate
Institute for Policy Studies, Japan (2003)
3. Nguyễn Văn Tiến. Tỷ giá thực và tác động của nó đến cán cân thương
mại, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 12 (2003)
4. Paul R. Krugman, Maurice Obstfeld, International Economics: Theory
and Policy, 5
th


evidence of the J-curve effect, which indicates that the trade balance initially
deteriorates in response to devaluations. More specifically, the result shows the
trade balance adjusts gradually to the exchange rate change, requiring a period
of about two quarters. In the long-run, we find that devaluation improves the
trade balance. Our results thus confirm the potency of the exchange rate as a
long-run tool of trade policy.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status