1
CHƢƠNG 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƢƠNG MẠI.
1.1 Tỷ giá hối đoái và cán cân thƣơng mại
1.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái.
Trong điều kiện của một nền kinh tế mở, thương mại quốc tế trở thành
phổ biến, việc thanh toán giữa các quốc gia nhất thiết phải sử dụng tiền tệ của
nước này hay nước khác. Để thực hiện việc chuyển đổi tiền tệ các nước, các quốc
gia phải dựa vào tỷ giá hối đoái.
Theo quan điểm kinh tế học, tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế
quan trọng trong thương mại, đầu tư quốc tế. Tỷ giá ảnh hưởng tới giá cả và tác
động đến các hoạt động kinh tế xã hội trong và ngoài nước.
Theo các nhà kinh doanh, tỷ giá hối đoái là sự so sánh mối tương quan
giá trị giữa hai đồng tiền phát sinh trong các hoạt động liên quan đến xuất nhập
khẩu hàng hóa, đầu tư, giao dịch tài chính quốc tế… Hoặc tỷ giá là giá cả của
một đồng tiền được biểu thị bằng số lượng đơn vị tiền tệ khác.
Bảng 1.1 Tỷ giá của một số ngoại tệ ngày 28/03/2010
Mã NT Tên ngoại tệ Mua tiền mặt Bán tiền mặt
USD US DOLLAR 19,050.00 19,100.00
EUR EURO 25,122.90 25,198.50
JPY JAPANESE YEN 201.41 207.48
( Theo tỷ giá công bố của Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam – Vietcombank)
1.1.2 Những nhân tố tác động đến tỷ giá
Về dài hạn có 4 nhân tố tác động tới tỷ giá :Năng suất lao động, mức giá
cả tương đối ở thị trường trong nước, thuế quan và hạn mức nhập khẩu, ưa thích
hàng nội so với hàng ngoại.
- Năng suất lao động(NSLĐ)trong nƣớc: đóng một vai trò quan trọng
trong việc ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ. NSLĐ trong nước tăng
Chính sách tỷ giá hối đoái là một hệ thống các công cụ được dùng để tác
động vào quan hệ cung - cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, từ đó giúp điều
chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm đạt tới những mục tiêu cần thiết. Về cơ bản, chính
sách tỷ giá tập trung chú trọng vào giải quyết hai vấn đề lớn: lựa chọn chế độ tỷ
giá hối đoái và điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
3
1.1.3.2 Mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái
Chính sách tỷ giá hối đoái nằm trong hệ thống chính sách tài chính-tiền tệ,
là một trong những hệ thống chính sách cơ bản để thực hiện các mục tiêu cuối
cùng của nền kinh tế.
Trong nền kinh tế mở cửa, động cơ của việc hoạch địch chính sách nói
chung, chính sách tài chính - tiền tệ và chính sách tỷ giá nói riêng là nhằm đạt
được các cân đối bên trong và bên ngoài của nền kinh tế. Các cân đối bên trong
và bên ngoài của một nền kinh tế luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tỷ giá
hối đoái là một biến số có khả năng ảnh hưởng đến cả hai cân đối đó lẫn mối
quan hệ giữa chúng. Vì vậy, mục tiêu của chính sách tỷ giá cũng nhằm phục vụ
để đạt được cả hai mục tiêu này.
1.1.3.3 Các công cụ của chính sách tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái là một biến số quan trọng có liên quan đến rất nhiều biến
số kinh tế khác nên mọi sự thay đổi của các biến số kinh tế ít nhiều đều có tác
động đến những giao dịch dân cư, Chính phủ một nước với dân cư và nền kinh tế
thế giới và như vậy sẽ có tác động đến tỷ giá hối đoái. Vì vậy, tất yếu sẽ có rất
nhiều các công cụ và thách thức khác nhau để thực hiện cơ chế tác động của
chính sách tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, ngoài các biện pháp có tính chất hành
chính mà các nước thường sử dụng điều chỉnh tỷ giá hối đoái thì có hai công cụ
cơ bản và mang tính kinh tế thuần túy thường được các nước phát triển sử dụng
để can thiệp vào điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Hai công cụ đó là lãi suất chiết khấu
được phối hợp với nghiệp vụ thị trường mở trên thị trường tiền tệ tương ứng.
Việc mua bán đồng nội - ngoại tệ diễn ra đồng thời với việc mua bán chứng
khoán. Kết quả của sự phối hợp các nghiệp vụ này chỉ dẫn đến sự thay đổi trong
mức dự trữ quốc tế của một nước, chứ không làm thay đổi mức cung tiền và do
đó không dẫn đến sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái và giá trị của các đồng tiền.
Ngoài hai công cụ cơ bản và thuần túy mang tính chất kinh tế trên, các
quốc gia còn sử dụng một loạt các công cụ khác mang tính hành chính như : quy
định quản lý ngoại hối, điều chỉnh các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ trên thị
trường, những điều chỉnh trong chính sách tài chính (thuế khóa, chi tiêu...) để
điểu chỉnh tỷ giá hối đoái .
1.1.4. Cán cân thƣơng mại.
1.1.4.1 Khái niệm cán cân thƣơng mại
5
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân
thanh toán quốc tế. Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu
và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc
năm) cũng như mức chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng.
Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư.
Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt.
Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng.
Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương
mại. Khi cán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại
mang giá trị dương. Khi cán cân thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng
dư thương mại mang giá trị âm. Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại.
1.1.4.2 Những nhân tố tác động đến cán cân thƣơng mại
- Ảnh hƣởng của thu nhập quốc dân (GDP): Thu nhập thực tế (đã điều
của các quốc gia Châu Á.
Công trình nghiên cứu của các tác giả Khim _Sen Liewa, Kian_Ping Limb
và Huzaimi Hussainc xem xét mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân
thương mại, thông qua việc nghiên cứu tình hình thay đổi tỷ giá hối đoái và cán
cân thương mại của Các quốc gia Asean (Thái Lan, Malaysia, Indonesia
,Singapore, Philippin) với Nhật Bản - một quốc gia có mối quan hệ giao thương
chính.
Thế nhưng kết quả thu được không mấy rõ ràng về mối quan hệ giữa tỷ
giá hối đoái và cán cân thương mại. Bởi lẽ theo lý thuyết, khi đồng nội tệ giảm
giá thì thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu từ đó cải thiện cán cân thương
mại, tuy nhiên trong một số mốc thời gian thì lý thuyết này không đúng và không
đưa ra một sự giải thích rõ ràng cho kết quả thu được. Các nhà nghiên cứu đã đưa
ra giả thuyết là có nhân tố khác tác động nhiều hơn đến cán cân thương mại thay
vì sự thay đổi tỷ giá hối đoái. Bài nghiên cứu này đề cập đến yếu tố cung tiền
thực (real money). Những vấn đề về cung tiền thực và hiệu ứng cung tiền thực
được trình bày trong phần phụ lục.
Nghiên cứu cho thấy rằng cán cân thương mại nhạy cảm với cung tiền
thực hơn là nhạy cảm với tỷ giá hối đoái. Thông qua đó, nghiên cứu đã chỉ ra tỷ
giá hối đoái của quốc gia sẽ cải thiện nếu cung tiền thực của chúng nhỏ hơn cung
tiền thực của Nhật . Về mặt logic kinh tế của giả thuyết thì bất cứ khi nào cung
tiền thực của quốc gia nội địa nhỏ hơn cung tiền thực của Nhật , thì sức mua của
7
đồng nội tệ sẽ tăng lên tương đối so với đồng Yên Nhật. Chính vì vậy , hàng hóa
trong nước và dịch vụ được xem là rẻ hơn trong mắt người Nhật, vì thế có sự
tăng lên trong xu hướng là Nhật sẽ nhập khẩu nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn từ
quốc gia nội địa. Mặt khác, người dân trong nước sẽ mua ít hàng hóa và dịch vụ
từ Nhật Bản, vì họ thấy rằng hàng hóa từ Nhật đắt hơn. Từ đó cho thấy cán cân
tác động tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại phải cân nhắc kỹ cho câu hỏi từ 2
hướng là phân tích và kinh nghiệm dự báo tương lai. Những kết quả nghiên cứu
gần đây là một sự tiến bộ, một phát hiện mới mẻ trong chuỗi các nghiên cứu về
kinh tế lượng.
Nghiên cứu này xem xét, kiểm định tác động trong ngắn hạn và dài hạn
của tỷ giá hoái đoái thực lên cán cân thương mại của 3 quốc gia ASean : Thái
Lan, Malaysia, và Indonesia với Mỹ và Nhật Bản để xác định có hay không sự
biến đổi trong ngắn hạn của cán cân thương mại. Và dựa vào mô hình nghiên
cứu véc tơ hiệu chỉnh sai số kiểm định tính ổn định của các biến số để khẳng
định lại một lần nữa rằng trong dài hạn thì sẽ có mối quan hệ bền vững và ổn
định giữa cán cân thương mại, tỷ giá hối đoái.
Nghiên cứu tìm thấy trong thương mại song phương giữa Indonesia,
Malaysia với Mỹ, Nhật Bản và giữa Thái Lan với Mỹ có hiệu ứng đường cong
chữ J trong ngắn hạn. Với sự giảm giá của tỷ giá hối đoái ban đầu dẫn đến sự trì
trệ trong cán cân thương mại ở 4 quý trong ngắn hạn, nhưng lại được cải thiện
đáng kể trong dài hạn. Thái Lan đối diện với biến động trong cán cân thương mại
song phương với Nhật : một sự giảm giá đột ngột trong tỷ giá hối đoái ban đầu
giúp cán cân thương mại được cải thiện rồi thâm hụt và sau đó lại được cải thiện.
Tóm lại, theo kết quả nghiên cứu là neo giữ đồng nội tệ trong dài hạn với
mức độ biến đổi của hiệu ứng đường cong J trong ngắn hạn. Những tìm kiếm này
có nhiều ứng dụng cho cán cân của những quốc gia khu vực Đông Á với Nhật và
Mỹ. Điều căn bản đó là tiếp tục giảm giá tiền tệ của các quốc gia Đông Á so với
đồng USD và Yên Nhật để có thể dẫn đến một sự cải thiện trong cán cân thương
mại của họ với Nhật và Mỹ. Dù thế nào đi nữa thì sự cải thiện này cũng sẽ xảy ra
chỉ trong 3 hoặc 4 thời kỳ sau khi có sự giảm giá thực sự.
1.3. Kinh nghiệm quốc tế trong việc sử dụng chính sách tỷ giá để cải thiện
cán cân thƣơng mại.
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc:
(Nguồn: Ngân hàng Phát triển đầu tư Châu Á – ADB)
10
Vào tháng 7/2005, Trung Quốc tiến hành điều chỉnh tỷ giá theo hướng
nâng giá đồng Nhân dân tệ và tỷ giá giữa đồng đô la và Nhân dân tệ vào thời
điểm này là 1 USD = 8.27 CNY sau đó Ngân hàng trung ương tiến hành cải cách
tỷ giá, cho phép thả nổi tỷ giá trong giới hạn biên độ 0.3% so với tỷ giá chính
thức của Ngân hàng Trung ương. Các phản ứng của Trung Quốc về tỷ giá hối
đoái khá linh hoạt và gắn với từng mối quan hệ thương mại cụ thể với từng thời
điểm cụ thể.
Trong điều kiện đồng đô la lên giá, Trung Quốc đã tìm cách để định giá
đồng nhân dân tệ thấp. Với cách thức này, Trung Quốc đã gần như khai thác triệt
để lợi thế thương mại không chỉ với Hoa Kỳ mà còn với các đối tác thương mại
khác.
Cụ thể hơn, trong giai đoạn 2001 – 2005, tốc độ tăng GDP bình quân mỗi
năm đạt 9,5% (năm 2006 đạt 11,5%). Tính theo USD, GDP của Trung Quốc đã
tăng gấp đôi, từ 1.325 tỷ USD năm 2001 lên 2.235 tỷ USD năm 2005. Trước đây,
Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ 6 thế giới; sau 5 năm, Trung Quốc đã đứng thứ
3. Chất lượng hàng hóa của Trung Quốc được cải thiện nhiều để đạt tiêu chuẩn
quốc tế và ngành dịch vụ mở rộng với quy mô chưa từng có. Mức tăng trưởng
thương mại của Trung Quốc cũng nhanh nhất thế giới và hiện nay Trung Quốc là
nước có giá trị thương mại lớn thứ 3 sau EU và Mỹ. Kim ngạch thương mại
chiếm 40% GDP năm 2001 đã lên đến 80% GDP năm 2005.
Và có thể thấy trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng của nền kinh
tế Trung Quốc được đánh giá là cao, cùng với sự thặng dư trong cán cân thương
mại, và nguồn dự trữ ngoại tệ khá lớn.
Bảng 1.3: Tình hình kinh tế Trung Quốc những năm 2005-2008
triển giúp kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ 9,4% trong một thập kỷ cho
12
đến năm 1996. Các yếu tố mang lại thành công kinh tế đó là nhờ Thái Lan đã
tận dụng được nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động dồi dào và rẻ, chủ nghĩa
bảo thủ tài chính, các chính sách đầu tư nước ngoài cởi mở và sự khuyến khích
lĩnh vực tư nhân, thực hiện chính sách mở cửa kinh tế và phát triển mạnh theo
hướng phục vụ xuất khẩu.
Kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan trong những năm gần đây chủ yếu
tăng được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.4: Tỷ giá và cán cân thương mại của Thái Lan từ năm 2003-2008
ĐVT: Triệu USD
Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007 2008
E(THB/USD) 39.59 41.08 41.03 36.05 33.72 34.90
Cán cân
thương mại
4,496 1,809 -7,983 -49 11,114 -5,291
(Nguồn: Tổng hợp từ Ngân hàng phát triển Châu Á ADB)
Có được những thành quả trên, Chính phủ Thái Lan đã có những nỗ lực
cải thiện cán cân thương mại như: cải thiện môi trường kinh tế, cải thiện cơ cấu
chính sách thương mại và phá giá mạnh đồng Bath và tác động đến cán cân thanh
toán quốc tế của Thái Lan.
Do khó khăn về tài chính, thiếu ngoại tệ nghiêm trọng nên trong giai đoạn
trước khủng hoảng, các nước Đông Á neo giữ tỷ giá cố định so với USD. Với
Thái Lan, việc thi hành chính sách tỷ giá hối đoái cố định so với đồng USD đồng
nghĩa với việc đánh giá quá cao giá trị của đồng Baht trong khi giá trị của USD
với JPY và các đồng tiền khác tăng rất mạnh. Tuy tỷ giá chính thức giữa Baht với
USD có tăng lên, nhưng nếu theo học thuyết ngang giá sức mua thì đồng Baht đã
35.00
40.00
45.00
50.00
1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
(Nguồn: Nhóm tác giả, Ngân hàng phát triển Châu Á – ADB)
Dưới áp lực của những khoản nợ đến hạn và thâm hụt thương mại kéo dài,
mặc dù đã bán ra gần 15 tỷ USD trong gần 40 tỷ USD dự trữ ngoại hối, nhưng
Thái Lan đã không thể duy trì được mức tỷ giá hiện thời. Thái Lan đứng trước
việc đồng Baht bị phá giá và kéo theo đó là cuộc khủng hoảng với những tổn
thương nghiêm trọng đến nền kinh tế.
14
Chỉ trong 1 ngày sau khi Chính phủ tuyên bố phá giá, đồng Baht mất hơn
20% giá trị rồi tiếp tục giảm xuống sau đó. Tỷ giá Baht/USD tăng lên từ 25,61
đến 47,25. Tỷ giá này làm tăng khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu của Thái Lan
nói chung, nông thủy sản nói riêng, hạn chế nhập khẩu. Kết quả là Thái Lan giảm
nhập siêu từ 9,5 tỷ USD năm 1991 xuống còn 4,624 tỷ USD năm 1997 và thặng
dư là 11,973 tỷ USD năm 2007.
Hình 1.3: Cán cân thương mại Thái Lan giai đoạn 1994-2008
cán cân thương mại Thái Lan
-50000
0
50000
100000
150000
200000
thế giới hiện nay, nội tệ tăng giá so với USD là chính sách có lợi hơn. 15
1.3.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc:
Chỉ hơn 25 năm sau, vào cuối thập kỷ 80, từ một nước nông nghiệp nghèo
nàn, GDP đầu người chỉ khoảng 87USD thì giờ đây Hàn Quốc đã đạt được
những thành tựu kinh tế được cả thế giới biết đến như “Kỳ tích trên sông Hàn”.
Chính phủ Hàn Quốc đã áp dụng hàng loạt các biện pháp nhằm quản lý, điều tiết
nền kinh tế, trong đó đặt trọng tâm là hướng về xuất khẩu.
- Chính sách hƣớng về xuất khẩu: Trong những năm 60, nền kinh tế
Hàn Quốc đang phải đối mặt với những khó khăn lớn; không có thị trường trong
nước cho các loại hàng hóa sản xuất, tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn. Để đối
phó với vấn đề này, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện chính sách hướng về xuất
khẩu với 2 bước đi quan trọng đó là khuyến khích và tăng cường tiết kiệm thông
qua việc tăng lãi suất, cải thiện thâm hụt thương mại bằng việc phá giá đồng nội
tệ. Bên cạnh đó, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện hàng loạt biện pháp nhằm hỗ
trợ xuất khẩu như giảm thuế nhập khẩu, hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp
xuất khẩu một cách hợp lý, ưu đãi về tài chính cho các ngành công nghiệp mũi
nhọn, điều chỉnh chế độ tỷ giá linh hoạt.
Hình 1.4: Cán cân thương mại Hàn Quốc giai đoạn 1994-2008
Cán cân thương mại Hàn Quốc
-100000
0
100000
200000
300000
Trong giai đoạn từ năm 1994-1996, nhập khẩu tăng, sản xuất trong nước chưa
đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, cán cân thương mại bị thâm hụt. Từ
sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 cho đến nay, thì cán cân
thương mại của Hàn Quốc luôn thặng dư, tốc độ tăng ổn định. Trong suốt giai
đoạn 2001-2008, xuất khẩu tăng với tốc độ rất cao.
- Thành công từ chính sách tỷ giá: Để có được những kết quả trên, Hàn
Quốc đã khá thành công trong việc sử dụng công cụ tỷ giá hối đoái hướng vào
xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế.
Hình 1.5: Xu hướng biến động tỷ giá KRW/USD giai đoạn 1994-2008
tỷ giá hối đoái của Hàn Quốc
0.00
200.00
400.00
600.00
800.00
1000.00
1200.00
1400.00
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
Qua nghiên cứu các bài học kinh nghiệm của Trung Quốc, Hàn Quốc,
Thái Lan , một số bài học kinh nghiệm được rút ra cho Việt Nam như sau:
- Cần có phản ứng chính sách linh hoạt về tỷ giá trong những tình huống
cụ thể và cần có định hướng rõ ràng về tỷ giá trong dài hạn làm căn cứ cho các
điều chỉnh ngắn hạn. Do đó, cần có cơ chế giám sát và theo dõi chặt chẽ sự biến
động của tỷ giá cả thị trường trong nước và thị trường nước ngoài để nhận dạng
xu hướng vận động của tỷ giá hối đoái đặc biệt giữa các đồng tiền đại diện cho
các trung tâm kinh tế lớn và toàn cầu như đồng đô la, đồng EUR …
- Cần có sự phối hợp đồng bộ các chính sách kinh tế vĩ mô trong cải cách.
Trong chính sách tỷ giá hối đoái, việc điều chỉnh tỷ giá có ảnh hưởng đến giá cả
trong nước và quốc tế, thay đổi tỷ giá cũng là điều kiện tiên quyết trong thay đổi
chính sách thương mại, đặc biệt trong điều kiện mở cửa. Tuy nhiên, không có
thay đổi trong chính sách thương mại thì việc thay đổi tỷ giá sẽ vận hành không
có hiệu quả. Trong sự phối hợp với các lĩnh vực khác của nền kinh tế, việc điều
chỉnh theo hướng thay đổi tỷ giá không mang tính chất cứng nhắc mà được xem
như là phù hợp với các giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế.
- Phải duy trì một chính sách tỷ giá hối đoái phù hợp với chiến lược phát
triển kinh tế của quốc gia trong từng giai đoạn. Một chính sách tỷ giá hối đoái
được coi là phù hợp bao gồm:
18
+ Lựa chọn thời điểm phá giá đồng nội tệ phù hợp. Thành công trong
việc phá giá tiền tệ thể hiện rõ nét ở thời điểm phá giá và mức điều chỉnh tỷ giá
hối đoái. Nhờ sự nhạy bén của các công cụ trong chính sách tỷ giá mà Trung
Quốc đã đạt được sự ổn định giá cả trong nước và cân bằng tài chính tiền tệ với
bên ngoài.
+ Duy trì tỷ giá phù hợp với mục tiêu phát triển theo hướng nâng cao
năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy việc
và cán cân thương mại, đề cập đến các nghiên cứu điển hình trên thế giới về mối
quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại, cùng với việc xem xét các chính sách
điều hành tỷ giá của các quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc và Thái Lan … Và
tác giả cũng đã rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc điều
hành chính sách tỷ giá để cải thiện cán cân thương mại.
21
trường liên ngân hàng tăng 3,45%, tỷ giá trên thị trường tự do tăng 3,18% so với
năm 1999. Năm 2001 tỷ giá tăng 3,9% so với cuối năm 2000. Trong năm 2002 tỷ
giá bình quân VND/USD trên thị trường liên ngân hàng tăng 1,97%, so với năm
2001. Năm 2003 tỷ giá tăng khoảng 1% so với năm 2002.
Hình 2.1: Xu hướng biến động tỷ giá giai đoạn từ năm 1999-2002
Tỷ giá danh nghĩa VND/USD
13000
13500
14000
14500
15000
15500
16000
Q1/1999
Q2/1999
Q3/1999
Q4/1999
Q1/2000
Q2/2000
Q3/2000
Q4/2000
Q1/2001
Q2/2001
Q3/2001
Q4/2001
Q1/2002
Q2/2002
Q3/2002
xuống còn -8,8 %GDP năm 2006, góp phần cải thiện cán cân tài khoản vãng lai
từ -4,9 % GDP năm 2003 xuống còn -0,3 % GDP năm 2006, đã tiếp tục cải thiện
được cán cân thanh toán quốc tế, qua đó dự trữ ngoại tệ tiếp tục tăng. Đồng thời,
sự ổn định của tỷ giá đã góp phần tăng thu hút đầu tư nước ngoài, từ đây các
nhân tố lạm phát được nuôi dưỡng, tốc độ tăng trưởng GDP ổn định.
Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu kinh tế của Việt Nam từ 2003 đến 2006
Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006
Tốc độ tăng trưởng GDP (%) 7,3 7,8 8,4 8,2
Lạm phát (%) 4,3 7,8 8,4 6,6
FDI (tỷ USD) 3,15 4,22 6,34 10,2
Cán cân thương mại (%GDP) -12,8 -12,1 -8,1 -8,8
Cán cân TK vãng lai (%GDP) -4,9 -3,4 -0,9 -0,3
Dự trữ ngoại tệ (tỷ USD) 5,6 6,3 8,5 11,5 23
( Nguồn: NHNN, IMF, Tổng cục thống kê)
Đầu năm 2007, có những biến động lớn trong điều hành tỷ giá của ngân
hàng Nhà nước:
Nới rộng biên độ tỷ giá: Ngày 02/01/2007, NHNN đã nới rộng biên độ tỷ
giá ngoại tệ từ + 0,25% lên so với tỷ giá liên ngân hàng. Việc điều chỉnh này
được cho là mở đường cho sự giảm giá của VND so với USD.
Sự can thiệp vào chính sách tỷ giá của +0,5% NHNN:
- Trong ngày 2 và 3 tháng 01 năm 2007, NHNN đã mua ngoại tệ của các
NHTM với số lượng nhiều hơn nhằm giảm bớt tình trạng thừa USD trên thị
trường.Ước tính trong 2 ngày, NHNN đã mua vào trên 140 triệu USD.
- Tỷ giá VND/USD bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng áp
dụng cho ngày giao dịch do Ngân hàng Nhà nước công bố có cao hơn một chút
(nếu ngày 26.1.2006 là 16.090 thì ngày 2.1.2007 là 16.101, ngày 3.1 là 16.096,
ngày 4.1 là 16.100);
khoản vãng lai thâm hụt và mức lạm phát tương đối lớn là27,9 %.
Ngày 24/12/2007 Ngân hàng Nhà nước quyết định mở rộng biên độ từ +/-
0.5% lên +/-0.75% nhằm tăng tính thanh khoản cho thị trường và tăng cường sự
linh hoạt của tỷ giá trong bối cảnh nguồn vốn đổ vào Việt Nam ngày càng lớn,
tạo điều kiện cho dòng vốn ra và vào nhịp nhàng hơn. Theo NHNN, việc mở
rộng biên độ lần này nằm trong chủ trương tạo điều kiện để nền kinh tế Việt Nam
thích nghi với mức độ mở cửa, hội nhập nền kinh tế thế giới.
Tỷ giá có tính thị trường hơn, nhưng khi mà cung lớn hơn cầu thì điều đó
đồng nghĩa với việc tỷ giá sẽ phải giảm. Sau gần 10 ngày kể từ khi NHNN chính
thức nới rộng biên độ, tỷ giá đã mất hơn 30 VND/USD, tụt xuống dưới ngưỡng
16.000 VND/USD.
Tóm lại, trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2007, VND đã giảm giá danh
nghĩa khoảng 14% so với USD do Chính phủ tiếp tục thực hiện chính sách tỷ giá
theo hướng khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu. Tuy nhiên, trong bối
25
cảnh đồng USD đang giảm giá so với các ngoại tệ mạnh và các dòng vốn lớn
đang vào Việt Nam làm phức tạp thêm nỗ lực ngăn cản VND lên giá.
Từ tháng 10/2007 đến 04/04/2008, nhất là sau khi NHNN nới lỏng biên
độ dao động tỷ giá từ 0,75% lên 1%, tỷ giá danh nghĩa USD/VND giảm khoảng
1,2% (VND lên giá), tỷ giá ngày 04/04/2008 là 1USD =15.960 VND. Kim ngạch
xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2008 đạt 23,39 tỷ USD tăng 27,2% so với cùng kỳ
năm 2007. Trong khi 5 tháng đầu năm 2008, nhập khẩu đạt 37,81 tỷ USD, tăng
67,0% so với cùng kỳ năm 2007.
Như vậy, 5 tháng đầu năm 2008, nhập siêu đạt mức quá cao (14,4 tỷ
USD), cao hơn mức nhập siêu cả năm 2007 (14 tỷ USD).Nửa đầu năm 2008 lạm
phát và nhập siêu gia tăng đã khiến nhiều người dân và doanh nghiệp chuyển tài