TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH T Ế TP HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài số 6:
MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ
HỐI ĐOÁI VÀ LÃI SUẤT GVHD: Trương Minh Tuấn
Nhóm: 9
Lớp: KT02
Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lãi suất
Tỷ giá hối đoái là đại lượng biểu thị mối tương quan về mặt giá trị giữa
hai đồng tiền. Nói cách khác, tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ
nước này được biểu hiện bằng một số lượng đơn vị tiền tệ của nước khác.
Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lãi suất Trang 2
Sự biến đổi của tỷ giá hối đoái có tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt đông
kinh tế, từ hoạt động xuất nhập khẩu đến sản xuất kinh doanh và tiêu dùng
trong nước qua biến đổi của giá cả hàng hóa. Do vậy, tỷ giá hối đoái là một
công cụ để ngân hàng trung ương thực thi chính sách tiền tệ của mình. Tuy
nhiên, khi vận dụng công cụ này không phải là việc ngân hàng trung ương đẩy
tỷ giá lên cao hay kéo tỷ giá xuống thấp, mà là ổn định tỷ giá ở một mức độ
nào đó được coi là hợp lý, phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tế của đất
nước trong từng giai đoạn, để tác động chung cuộc của nó đối với kinh tế là
tốt nhất.
Khi vận hành công cụ tỷ giá hối đoái, ngân hàng trung ương có thể ấn
định, hoặc thả nổi tỷ giá theo quan hệ cung - cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại
hối. Giữa hai thái cực: tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi hoàn toàn, còn có nhiều
tỷ giá khác như: tỷ giá cố định nhưng di động khi cần thiết, tỷ giá thả nổi có
quản lý.
Tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi hoàn toàn đều có những nhược điểm cơ
bản. Cụ thể, cung cầu ngoại hối biến đổi không ngừng, do vậy, nếu ngân hàng
trung ương ấn định một mức tỷ giá cố định, thì có nghĩa là ngân hàng trung
ương đã vi phạm một trong những quy luật kinh tế khách quan( quy luật cung
- cầu). Còn nếu như thả nổi tỷ giá cho quan hệ cung - cầu ngoại hối quyết định
thì tình trạng thăng trầm của tỷ giá hối đoái là tất yếu xẩy ra, và kéo theo nó là
sự thăng trầm của nền kinh tế.
Tỷ giá cố định nhưng di động khi cần thiết là tỷ giá do ngân hàng trung
Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng vốn, việc thay đổi lãi suất sẽ kéo
theo sự biến đổi của chi phí tín dụng, từ đó tác động đến việc thu hẹp hay mở
rộng khối lượng tín dụng trong nền kinh tế. Do đó, lãi suất là một trong những
công cụ chủ yếu của chính sách tiền tệ. Thực tế cho thấy tùy theo điều kiện
thực tế và trình độ phát triển của thị trường tài chính. Ngân hàng trung ương
có thể sử dụng công cụ lãi suất để điều hành chính sách tiền tệ như sau:
Ngân hàng trung ương kiểm soát trực tiếp lãi suất thị trường bằng cách
quy định các loại lãi suất:
Lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay theo từng kỳ hạn.
Sàn lãi suất tiền gửi và tràn lãi suất cho vay để tạo khung lãi suất
giới hạn.
Công bố lãi suất cơ bản cộng với biên độ giao dịch.
Dựa vào các loại lãi suất đã được ấn định, ngân hàng trung gian áp dụng
để dao dịch kinh doanh với khác hàng. Cơ chế này đã tồn tại ở Việt Nam trong
thời kỳ áp dụng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, cũng như ở các
nước đang phát triển trước đây. Một trong những lý do chính để giải thích tại
Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lãi suất Trang 4
sao ngân hàng trung ương không để thị trường quyết định lãi suất mà phải quy
định chặt chẽ lãi suất nhue vậy là vì trình độ phát triển thị trường tiền tệ còn
thấp, năng lực cạnh tranh của các ngân hàng trung gian còn kém.
Ngân hàng trung ương áp dụng chính sách tự do hóa để lãi suất tự hình
thành theo cơ chế thị trường và để can thiệp vào lãi suất thị trường, ngân hàng
trung ương có thể gián tiếp can thiệp thông qua các chính sách:
Công bố lãi suất cơ bản để hường dẫn lãi suất thị trường.
Sử dụng công cụ lãi suất tái cấp vốn và kết hợp với lãi suất thị
trường mở để can thiệp và điều chỉnh lãi suất thị trường.
nhưng không thể bắt buộc các ngân hàng trung gian phải đi vay. Nghĩa là ngân
hàng trung ương bị lệ thuộc vào nhu cầu của các ngân hàng trung gian khi sử
dụng công cụ này.
Từ đó, các nhà kinh tế có đề xuất những biện pháp cải cách công cụ tái
cấp vốn. Đề xuất được sự đồng tình rộng rãi nhất là đề xuất gắn lãi suất tái
chiết khấu với một lãi suất thị trường, vì nhận thấy nhiều điểm lợi:
Hầu hết những biến động trong khoảng cách giữa lãi suất thị trường và
lãi suất tái chiết khấu sẽ bị loại trừ, điều này sẽ xóa bỏ được một nguyên nhân
chính gây ra các biến động trong khối lượng các khoản xin tái chiết khấu.
Thứ hai, ngân hàng trung ương vẫn có thể tiếp tục sử dụng công cụ tái
cấp vốn để thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng, mà không sợ các ngân
hàng lợi dụng. Bởi vì lúc này các ngân hàng trung gian sẽ không còn đi vay ở
của sổ chiết khấu để sinh lợi được nữa, bắt buộc nó phải cân nhắc kỹ trước khi
dẫn thân vào một cuộc mạo hiểm trong kinh doanh.
Thực hiện chính sách tự do hóa lãi suất đòi hỏi nền kinh tế cần phải có
những điều kiện cơ bản nhất định:
Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định.
Hành lang pháp lý ổn định, hoàn chỉnh và đồng bộ.
Hệ thống ngân hàng hoạt động hữu hiệu, có sức mạnh cạnh tranh
cao.
Thị trường tài chính vận hành có hiệu quả.
Các nguồn lực trong nước được phân phối và sử dụng hợp lý.
Trong xu thế hội nhập, việc thực hiện chính sách tự do hóa lãi suất là cần
thiết, song cần tiến hành một cách thận trọng, cân nhắc kỹ càng, tránh nóng
vội để có thể loại bỏ được những tác động tiêu cực của nó đối với nền kinh tế -
xã hội.
Có thể nói, lãi suất vừa là đối tượng quản lý, vừa là một công cụ quan
trọng của chính sách tiền tệ. Lãi suất nếu được sử dụng đúng đắn và phù hợp
với những điều kiện, tình hình kinh tế trong từng thời kỳ nhất định sẽ có tác
Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lãi suất
tạo ra mối quan hệ lãi suất giữa hai quốc gia và phần bù hoặc chiết khấu kỳ
hạn. Kinh doanh chênh lệch lãi suất có phòng ngừa có liên quan đến việc đầu
tư ra nước ngoài và phòng ngừa để chống lại rủi ro về tỷ giá.
Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lãi suất Trang 7
Tỷ suất sinh lợi đầu tư ra nước ngoài, thông qua phòng ngừa rủi ro
bằng cách sử dụng thị trường có kì hạn đã làm cho nhà đầu tư nhận được tỷ
suất sinh lợi thặng dư cao hơn đầu tư trong nước. Nhưng tỷ suất thặng dư này
sẽ nhanh chóng không còn nữa vì thị trường lúc nào cũng thông minh, lựa
chọn phương án kinh doanh có khả năng sinh lợi cao, và kết quả là thị trường
ngoại hối và thị trường kinh tế sẽ bị tác động ngay sau đó.
Nếu chúng ta thừa nhận rằng, lãi suất chỉ được điều chỉnh cho đến khi
tỷ giá của đồng tiền ngoài đủ thấp dưới mức tỷ giá giao ngay để bù đắp cho
ưu thế về lãi suất. Lãi suất ở nước ngoài cao hơn lãi suất trong nước, nhưng
nhà đầu tư trong nước có thể kiếm được lợi nhuận từ kinh doanh chênh lệch
lãi suất có phòng ngừa cho đến khi tỷ giá kì hạn thấp hơn tỷ giá giao ngay
đúng bằng chênh lệch lãi suất.
Theo đó, với hai nước cho sẵn thì quốc gia nào có lãi suất cao hơn lãi
suất nước ngoài, đồng tiền của quốc gia đó sẽ mất một khoản chiết khấu kỳ
hạn (forward discount) trên tỷ giá kỳ hạn bằng với chênh lệch lãi suất trong
nước so với lãi suất nước ngoài. Ngược lại, quốc gia có lãi suất trong nước
thấp hơn lãi suất nước ngoài sẽ nhân được một phần bù kì hạn (forward
premium) trên tỷ giá kỳ hạn. Mối quan hệ này có thể diễn đạt bằng công thức
sau:
F
n
=S
tiền của nước đó giảm do giá cao hơn. Ngoài ra, người tiêu dùng và các công
ty trong nước có lạm phát cao có xu hướng tăng nhập khẩu. Cả hai lực này
làm tăng áp lược giả giá đồng tiền của nước có lạm phát cao. Tỷ lệ lạm phát
thường khác nhau giữa các quốc gia, tạo nên những kiểu mẫu mậu dịch quốc
tế để điều chỉnh thích hợp và ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái.
Một trong những lý thuyết nổi tiếng nhất và gây nhiều tranh cãi nhất
trong tài chính quốc tế là thuyết ngang giá sức mua, tập trung vào mốt liên hệ
giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái và có nhiều hình thức khác nhau của lý thuyết
này. Theo hình thức tuyệt đối, còn được gọi là “luật một giá” cho rằng giá cả
của các sản phẩm giống nhau của hai nước khác nhau sẽ bằng nhau khi tính
bằng một đồng tiền chung. Nếu có chênh lệch trong một giá cả được tính bằng
một đồng tiền chung hiện hữu, mức cầu sẽ dịch chuyển để các giá cả này gặp
nhau.
Hình thức tương đối của lý thuyết này là một hình thức khác giải thích
cho khả năng bất hoàn hảo của thị trường như chi phí vận chuyển, thuế quan
và hạn ngạch. Hình thức này công nhận rằng do bất hoàn hảo của thị trường,
giá cả của những sản phẩm giống nhau ở các nước khác nhau sẽ không nhất
thiết bằng nhau khi tính bằng một đồng tiền chung.
Tuy nhiên, tỷ lệ thay đổi trong giá cả sẽ phần nào giống nhau khi được
tính băng một đồng tiền chung miễn là chi phí vận chuyển và các hàng rào
mậu dịch không thay đổi.
P
h
, I
h
chỉ số giá cả, tỷ lệ lạm phát trong nước.
P
f
, I
f
cả mới.
Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lãi suất Trang 9
P
f
(1+I
f
)(1+e
f
) = P
h
(1+I
h
)
e
f
= P
h
(1+I
h
)/[P
f
(1+I
f
)]- 1
P
h
t
)và chênh lệch lạm phát, như dưới đây:
S
t+1
= S
t
[1+(I
h
-I
f
)]
3. Lý thuyết hiệu ứng Fisher
Theo lý thuyết định lượng, nếu cung tiền tệ tăng 1% thì lạm phát sẽ tăng
1%. Theo đẳng thức Fischer, 1% tăng lên của lạm phát sẽ tạo ra 1% tăng lên
của lãi suất danh nghĩa. Mối quan hệ một - một giữa tỷ lệ lạm phát và lãi suất
danh nghĩa được gọi là hiệu ứng Fischer.
Một cách diễn đạt khác: Hiệu ứng Fisher cho rằng, Trong dài hạn, tỷ lệ lạm
phát tác động vào lãi suất danh nghĩa theo tỷ lệ 1:1. Do đó, trên thị trường vốn
vay, người cho vay muốn duy trì mức lãi suất thực dương, mọi biến đổi của tỷ
lệ lạm phát sẽ được chuyển vào mức lãi suất danh nghĩa.
Nghĩa là: Lãi suất thực r = lãi suất danh nghĩa i - Tỷ lệ lạm phát
Lý thuyết hiệu ứng Fisher quốc tế: (IFE – International Fisher Effect) sử
dụng lãi suất để giải thích tại sao tỷ giá hối đoái thay đổi theo thời gian, nhưng
nó có liên quan mật thiết với lý thuyết ngang giá sức mua vì lãi suất thường có
sự quan hệ mật thiết với tỷ lệ lạm phát. Do đó, chênh lệch lãi suất giữa các
quốc gia có thể là kết quả chênh lệch trong lạm phát.
Ta biết rằng nếu có ngang giá lãi suất (IRP) thì tỷ suất sinh lợi của nhà
đầu tư từ kinh doanh chênh lệch lãi suất có phòng ngừa không cao hơn tỷ suất
sinh lợi trong nước. Theo điều kiện này, 1 công ty có tiền mặt ngắn hạn thặng
Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lãi suất
13%. Cho rằng các nhà đầu tư ở Canada cũng đòi hỏi 1 tỷ suất sinh lợi lợi thực
là 2%, mức lạm phát dự kiến ở Canada phải là 11%. Theo lý thuyết ngang giá
sức mua, đồng đôla Canada cao hơn 5%). Vì vậy, các nhà đầu tư Mỹ sẽ không
được lợi từ việc đầu tư ở Canada vì chênh lệch lãi suất 5% sẽ được bù trừ bằng
Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lãi suất Trang 11
đầu tư vào 1 đồng tiền khác có giá trị giảm 5% vào cuối kỳ. Các nhà đầu tư
Mỹ sẽ kiếm được 8% từ đầu tư Canada, bằng với mức mà họ có thể đạt được ở
Mỹ.
Minh họa hiệu ứng Fisher Quốc tế từ các góc độ khác nhau của nhà đầu tư
Nhà
đầu tư
tại
Đầu tư
vào
Chênh lệch lạm
phát dự kiến (I
h
-I
f
)
% thay
đổi tỷ
giá dự
kiến
(ef)
Lãi
M
ỹ
3%
-
6% =
-
3%
-
3%
8%
5%
3%
2%
Canada
3%
-
11% =
-
8%
2%
M
ỹ
8%
8%
6%
2%
Canada
6%
-
11% =
-
5%
-
5%
13%
8%
6% = 5%
5%
8%
13%
11%
2%
Canada
13%
13%
11%
2%
Theo thông tin này, chênh lệch lạm phát dự kiến giữa Canada và Nhậ là
8%. Theo lý thuyết ngang giá sức mua, chênh lệch lạm phát này cho thấy đồng
đôla Canada sẽ giảm giá 8% so với đồng Yên. Vì vậy, ngay cả khi các nhà đầu
tư Nhật sẽ kiếm thêm được 1 lãi suất 8% từ 1 đầu tư ở Canada, đôla Canada sẽ
bị giảm giá 8% vào cuối kỳ. Theo các điều kiện này, các nhà đầu tư Nhật sẽ
Tức là: r=i
h
Trong đó r là tỷ suất sinh lợi có hiệu lực từ ký thác nước ngoài và i
h
là lãi
suất ký thác trong nước. Chúng ta có thể xác định mức độ mà đồng ngoại tệ
phải thay đổi để làm cho đầu tư ở cả 2 nước cùng có tỷ suất sinh lợi bằng
nhau. Lấy công thức tính r và cho r bằng ih ta có: r = (1 + i
h
)(1 + e
f
) – 1 = i
h
Bây giờ ta đi tìm e
f
: (1 + i
f
)(1 + e
f
) = (1 + i
h
)
(1 + e
f
) = (1 + i
h
) / (1 + i
f
) => e
f
Trang 13
Ví dụ cho ký thác ngân hàng trong nước thời hạn 1 năm là 11% và lãi
suất ký thác ngân hàng nước ngoài kỳ hạn 1 năm là 12%. Để tỷ suất sinh lợi
thực của 2 đầu tư này bằng nhau từ góc nhìn của các nhà đầu tư trong nước,
đồng ngoại tệ sẽ phải thay đổi trong thời kỳ đầu tư theo tỷ lệ phần trăm sau
đây:
Có nghĩa là đồng ngoại tệ của ký thác nước ngoài sẽ cần giảm giá 0,89%
để làm cho tỷ suất sinh lợi thực từ ký thác nước ngoài bằng 11% từ góc nhìn
của các nhà đầu tư trong nước. Điều này sẽ làm cho tỷ suất sinh lợi từ đầu tư
nước ngoài bằng với tỷ suất sinh lợi từ đầu tư trong nước. Một công thức đơn
giản hóa nhưng không chính xác bằng hiệu ứng Fisher quốc tế là: e
f
= i
h
– i
f
.
Tức là, phần trăm thay đổi tỷ giá hối đoái trong thời kỳ đầu tư sẽ bằng chênh
lệch lãi suất giữa 2 nước. Thí dụ, nếu lãi suất cho ký thác 6 tháng của Anh cao
hơn của Mỹ 2%, đồng bảng Anh sẽ giảm giá khoảng 2% qua 6 tháng theo hiệu
ứng Fisher quốc tế. Nếu điều này xảy ra, các nhà đầu tư Mỹ sẽ thu được tỷ
suất sinh lợi từ ký thác Anh bằng với tỷ suất sinh lợi từ ký thác Mỹ. Như vậy,
đầu tư nước ngoài sẽ không có lợi dù ngay cả khi đầu tư nước ngoài có 1 mức
lãi suất cao hơn đầu tư trong nước.
Hiệu ứng Fisher quốc tế có đúng không?
Do hiệu ứng Fisher quốc tế căn cứ trên ngang giá sức mua, nó cũng
không luôn luôn đúng. Do ngoài lạm phát nó còn có những yếu tố khác ảnh
hưởng đến tỷ giá hối đoái, cho nên tỷ giá hối đoái không điều chỉnh theo
được 1 nhà đầu cơ Mỹ vay và thanh toán tiền vay. Chiến lược này được tiếp
tục định kỳ qua thời gian. Nếu hiệu ứng Fisher quốc tế đúng cho các thời kỳ
này, mức chênh lệch tính trung bình sẽ bằng 0 (không tính chi phí giao dịch).
Xu hướng của các mức chênh lệch trong suốt các thời kỳ khác nhau được trình
bày trong đồ thị ở trên cho thấy thì các mức chênh lệch dương.
Quá trình trình bày ở đây được tái lập từ góc nhìn của các nhà đầu tư đầu
cơ ở 7 nước lớn. Không kể từ góc nhìn nào, mức chênh lệch được tìm thấy
trung bình đều lớn hơn 0 rất đáng kể. Các kết quả này bác bỏ lý thuyết hiệu
ứng Fisher quốc tế.
Một cuộc nghiên cứu liên hệ của Thomas đã kiểm định lý thuyết hiệu ứng
Fisher quốc tế bằng cách xem xét các kết quả của : (1) các hợp đồng kỳ hạn
mua các đồng tiền với lãi suất cao có chiết khấu (so với giá giao ngay) và (2)
các hợp đồng kỳ hạn bán các đồng tiền với lãi suất thấp có phần bù.
Nếu các đồng tiền có lãi suất cao giảm giá và các đồng tiền lãi suất thấp
tăng giá ở mức độ như lý thuyết hiệu ứng Fisher quốc tế dự báo, chiến lược
mô tả ở đây sẽ không phát sinh tỷ suất sinh lợi đáng kể. Tuy nhiên 123 (57%)
trong số 216 giao dịch do chiến lược này tạo nên có lợi nhuận. Ngoài ra, mức
tỷ suất sinh lợi trung bình cao hơn mức lỗ trung bình. Tỷ suất sinh lợi trung
Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lãi suất Trang 15
bình 77%/năm. Cuộc nghiên cứu này cho thấy rằng hiệu ứng Fisher quốc tế
không đúng – điều này không có nghĩa là tất cả các công ty đa quốc gia sẽ
ngay lập tức đầu tư tất cả tiền mặt thặng dư vào các đồng tiền lãi suất cao. Có
1 rủi ro đáng kể trong 1 chiến lược như thế, như được chứng minh bằng các
khoản lỗ phát sinh trong một số thời kỳ nghiên cứu.
Ứng dụng hiệu ứng Fisher quốc tế vào cuộc khủng hoảng tài chính Châu
Á.
hiệu ứng Fisher quốc tế (IFE)
Lý thuyết
Các biến số chính củ
a lý
thuyết
Tóm tắt lý thuyết
Ngang giá lãi su
ấ
t
(IRP)
Phầ
n bù (hay
chiết khấu) kỳ
hạn
Chênh lệ
ch
lãi suất
Tỷ giá kỳ hạn của 1 đồng tiền so vớ
i
1 đồng tiền khác sẽ chứa 1 phầ
n bù
(hay chiết khấu) được xác định bở
i
chênh lệch trong lãi suất giữa 2 quố
c
gia. Kết quả, kinh doanh chênh lệ
ch
lãi suất có phòng ngừa sẽ thu đượ
c 1
tỷ suất sinh lợi không cao hơn tỷ
c
ngoài.
Hiệu ứ
ng Fisher
quốc tế (IFE)
Phầ
n trăm
thay đổi
trong
tỷ
giá giao
ngay
Chênh lệ
ch
lãi suất
Tỷ giá giao ngay của 1 đồng tiề
n so
với 1 đồng tiền khác sẽ thay đổ
i theo
sai biệt trong lãi suất giữa 2 nướ
c.
Kết quả, tỷ suất sinh lợi từ
kinh
doanh chênh lệch không phòng ngừ
a
trên thị trường tiền tệ nước ngoài
tính bình quân sẽ không cao hơn tỷ
suất sinh lợi trên thị trường tiền tệ
Theo lý thuyết ngang giá về lãi suất, đồng tiền của một quốc gia nào đó
có lãi suất thấp hơn thì nhất định sẽ là bù kỳ hạn cho hợp đồng kỳ hạn đối với
đồng tiền của một quốc gia nọ có lãi suất cao hơn. Nói cách khác, trừ kỳ hạn
hoặc bù kỳ hạn trên giá kỳ hạn là xấp xỉ tương đương với chênh lệch lãi suất
giữa hai đồng tiền. Ngược lại, hiệu ứng Fisher quốc tế chú trọng đến việc tỷ
giá giao ngay của một đồng tiền sẽ thay đổi theo thời gian, khẳng định rằng tỷ
giá giao ngay sẽ thay đổi theo chênh lệch lãi suất giữa hai nước.
Từ phân tích theo lý thuyết ngang giá lãi suất và hiệu ứng Fisher quốc
tế, có thể thấy rằng lãi suất là công cụ giúp các nhà quản trị tài chính dự đoán
và xác định tỷ giá trong tương lai để hoạch định chiến lược phòng chống rủi ro
và chiến lược kinh doanh hiệu quả. Lãi suất đóng vai trò quan trọng trên thị
trường hối đoái bởi vì các khoản tiền gởi lớn được buôn bán tại đó đều được
trả lãi, mỗi khoản có một lãi suất, tùy theo đồng tiền mà nó được định danh.
Lợi tức của các khoản tiền gởi được mua bán trên thị trường hối đoái
phụ thuộc vào lãi suất và các thay đổi dự kiến của tỷ giá hối đoái.
PPP
T
ỷ
giá có k
ỳ
h
ạ
n ph
ầ
n bù ho
ặ
c
u
ứ
ng Fisher qu
ố
c t
ế
(IEF)
Ngang giá lãi su
ấ
t
Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lãi suất Trang 18
Sự cân bằng thị trường hối đoái đòi hỏi sự ngang bằng về tiền lãi, điều
kiện mà theo đó lợi tức dự kiến của các khoản tiền gởi của hai loại tiền bất kỳ
là tương đương thì được đo bằng một loại tiền (nghĩa là đo bằng các đơn vị có
thể so sánh với nhau được). Chỉ khi tất cả các tỷ suất lợi tức dự kiến đều bằng
nhau, tức là khi đó điều kiện ngang bằng tiền lãi, thì sẽ không có tình trạng dư
cung về một số dạng tiền gởi nào đó và cũng không có tình trạng dư cầu về
một số loại tiền gởi khác. Thị trường hối đoái sẽ cân bằng khi không một loại
tiền gởi nào ở trong tình trạng dư cầu hoặc dư cung. Do vậy, có thể nói rằng
thị trường hối đoái sẽ cân bằng khi có điều kiện ngang bằng về tiền lãi.
Khi phân tích lãi suất tác động đến tỷ giá, chúng ta dựa trên nguyên tắc
cetacis paribas, nghĩa là khi nghiên cứu tác động của một nhân tố thì chúng ta
cố định các nhân tố khác. Đó là cách làm để đơn giản hóa việc phân tích. Tuy
quốc tế có ý nghĩa các số liệu kinh tế, sử dụng tỷ giá xác định theo ngang giá
lãi suất hơn là tỷ giá do thị trường xác định.
Những điều kiện diễn giải trên cho thấy rằng, sự thay đổi trong tỷ giá
hối đoái dự kiến trong tương lai phụ thuộc vào các nguyên nhân kinh tế của sự
thay đổi về lãi suất. Chúng ta thấy các tỷ giá hối đoái luôn luôn điều chỉnh để
duy trì sự ngang bằng tiền lãi. Làm thế nào để điều chỉnh tỷ giá hối đoái? Để
trả lời câu hỏi này, chúng ta sẽ so sánh các mối quan hệ có khả năng khác
nhau giữa lãi suất và tỷ giá hối đoái dự kiến trong tương lai và việc tỷ giá hối
đoái sẽ được sử dụng thế nào cùng với lãi suất để tính ra các tỷ suất lợi tức có
thể so sánh được.
Tỷ giá hối đoái được xác định tại thị trường ngoại hối. Thị trường hối
đoái sẽ cân bằng khi các khoản tiền gởi của mọi loại tiền đều có một tỷ suất
lợi tức dự kiến như nhau, điều kiện mà theo đó những người nắm giữ các
khoản tiền gởi ngoại tệ tiềm năng sẽ coi các khoản tiền nầy như những tài sản
được mong muốn như nhau, sẵn sàng nắm giữ tất cả các nguồn cung ứng tiền
gởi hiện có của mọi đồng tiền. Nói cách khác, một tỷ giá hối đoái ổn định
được thị trường sẽ là một tỷ giá khiến cho những người tham gia thị trường
bằng lòng nắm giữ các nguồn cung ứng hiện có về các khoản tiền gởi bằng tất
cả các đồng tiền. Như vậy, tỷ giá cân bằng được xác định theo nhu cầu đối với
ngoại tệ.
Vì tỷ giá hối đoái là giá tương đối của hai tài sản, nên hợp lý nhất là coi
chúng như một loại giá tài sản. Nguyên lý cơ bản của việc định giá tài sản là ở
chỗ giá trị hiện tại của tài sản, phụ thuộc vào sức mua tương lai dự kiến của
chúng. Khi đánh giá tài sản, người tiết kiệm xem xét tỷ suất lợi tức dự kiến mà
tài sản đó mang lại, tức là tỷ suất mà theo đó giá trị của một khoản đầu tư vào
tài sản dự kiến sẽ tăng lên qua một thời gian.
1. Công cụ điều chỉnh tỷ giá.
Lãi suất là công cụ được các ngân hàng trung ương sử dụng để điều
chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trường, điều chỉnh giá trị đối ngoại của nôi tệ.
Chính sách lãi suất cao có xu hướng hỗ trợ sự lên giá của nội tệ, bởi vì nó hấp
nghĩa của đồng tiền A cao hơn của đồng tiền B là 2%/năm, nhưng lãi suất thực
thì ngược lại, lãi suất của đồng tiền B lại cao hơn so với đồng tiền A là
2%/năm. Theo cách phân tích này, chỉ có lãi suất thực mới tạo ra được sự
nhập vốn; ngược lại, khi đồng tiền có lãi suất thực thấp thì sẽ dẫn tới hiện
tượng nhận tín dụng, bởi vì người ta hy vọng rằng, khi thanh toán tín dụng
người ta chỉ cần phải chi phí ít đơn vị nội tệ để mua lại số ngoại tệ đã vay,
thậm chí còn ít hơn cả khi chưa trao đổi giá trị tín dụng.
Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, mức lãi suất cao là công
cụ để chống lạm phát và nó thường được sử dụng để đáp ứng yêu cầu can
thiệp vào nền kinh tế. Ngoài ra, chính sách lãi suất còn được sử dụng vào mục
đích điều chỉnh giá trị đối ngoại của nội tệ. Phương pháp dùng lãi suất tái chiết
khấu để điều chỉnh tỷ giá hối đoái có thể nó là phương pháp thường được sử
Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lãi suất Trang 21
dụng với mong muốn có những thay đổi cấp thời về tỷ giá. Cơ chế tác động
của công cụ này đến tỷ giá hối đoái như sau: Trong thế cân bằng ban đầu của
cung cầu ngoại tệ trên thị trường, khi lãi suất tái chiết khấu thay đổi, sẽ kéo
theo sự thay đổi cùng chiều của lãi suất trên thị trường. Từ đó, tác động đến xu
hướng dịch chuyển của các dòng vốn quốc tế làm thay đổi tài khoản vốn
(trong cán cân thanh toán quốc tế) hoặc ít nhất cũng làm những người sở hữu
vốn trong nước chuyển đổi đồng vốn của mình sang đồng tiền có lãi suất cao
hơn để thu lợi và làm thay đổi tỷ giá hối đoái. Cụ thể, nếu lãi suất tăng sẽ dẫn
đến xu hướng là một đồng vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ đổ vào
trong nước và những người sở hữu vốn ngoại tệ trong nước sẽ có khuynh
hướng chuyển đổi đồng ngoại tệ của mình sang nội tệ để thu lãi cao hơn. Kết
quả là tỷ giá giảm (đồng nội tệ tăng). Trong trường hợp ngược lại, nếu muốn
tỷ giá tăng thì sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu.
Một là, trước thế chiến 2, Anh là một trong những nước điển hình về
việc sử dụng lãi suất chiết khấu để can thiệp vào thị trường hối đoái và đã thu
được nhiều kết quả đáng kể, do nền kinh tế và tiền tệ nước Anh lúc đó khá ổn
định.
Hai là, có thể lấy cuộc khủng hoảng USD thời kỳ 1971-1973 làm ví dụ.
Tổng thống Mỹ Nixon, đã phải áp dụng những biện pháp khẩn cấp để cứu
nguy cho USD bằng cách tăng lãi suất chiết khấu lên rất cao để thu hút vốn
ngắn hạn trên thị trường tiền tệ quốc tế. Vào lúc này, mặc dù lãi suất trên thị
trường New York cao gấp rưỡi thị trường London, gấp 3 lần thị trường
Frankfurk, nhưng vốn ngắn hạn cũng không được chuyển vào Mỹ mà lại đưa
đến Tây Đức và Nhật Bản, dù rằng các nước này thực hiện chính sách lãi suất
thấp, vì lúc đó USD đang đứng bên bờ của nguy cơ mất giá.
Như vậy, chính sách lãi suất chiết khấu cũng chỉ có ảnh hưởng nhất định
và có giới hạn đối với tỷ giá hối đoái, bởi vì giữa tỷ giá và lãi suất chỉ có quan
hệ lôgic chứ không phải quan hệ nhân quả, lãi suất không phải là nhân tố duy
nhất quyết định sự vận động vốn giữa các nước. Tuy nhiên, không nên hoàn
toàn coi thường chính sách chiết khấu. Nếu tình hình tiền tệ của các nước đều
đại thể như nhau, thì phương hướng đầu tư ngắn hạn vẫn hướng vào những
nước có lãi suất cao. Do vậy, hiện nay chính sách lãi suất chiết khấu vẫn có ý
nghĩa của nó. Đồng thời, can thiệp vào tỷ giá là phải có một thị trường vốn
(nhất là thị trường vốn ngắn hạn) đủ mạnh, tự do và linh hoạt: tài khoản vốn
đã được mở cửa.
III. Kết luận
Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lãi suất Trang 23
Lãi suất và tỷ giá là hai yếu tố nhạy cảm trong nền kinh tế và là các công
cụ hữu hiệu của chính sách tiền tệ. Lãi suất và tỷ giá luôn có mối quan hệ chặt