Trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh
Khoa Thương mại – Du lịch - Marketing
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
Đề tài:
Tóm tắt lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷ giá hối
đoái và lạm phát
Giáo viên hướng dẫn: Thầy Trương Minh Tuấn
Nhóm thực hiện:
1. Nguyễn Phương Nga
2. Hoàng Châu Hà
3. Trần Thị Huyền Chi
4. Lê Xuân Quỳnh (VB2NT03K12)
5. Nguyễn Trần Định
MỤC LỤC
TIỂU LUẬN MÔN HỌC 1
MỤC LỤC 2
1.1 Khái niệm lạm phát 3
1.2 Phân loại và đo lường lạm phát 3
a) Phân loại lạm phát 3
b) Đo lường lạm phát 5
1.3 Nguyên nhân lạm phát 7
1.4 Tác động của lạm phát đối với nền kinh tế 9
2.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái 14
2.2 Khái quát về tỷ giá hối đoái 14
2.3 Các loại tỷ giá hối đoái 15
a) Tỷ giá hối đoái chính thức và tỷ giá hối đoái song song 15
b) Tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực tế 16
c) Tỷ giá hối đoái song phương và Tỷ giá hối đoái hiệu lực 16
3.1 Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát 17
Chương 1
LẠM PHÁT
ngày. Mọi người có xu hướng tích trữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển sang sử
dụng vàng hoặc các ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch
có giá trị lớn và tích lũy của cải.
Siêu lạm phát (hyper inflation) hay lạm phát phi mã (galloping inflation)
Do hậu quả của chính sách Giá - lương - tiền, Việt Nam đã phải hứng chịu siêu
lạm phát trong các năm 1986-1989.
Siêu lạm phát là lạm phát "mất kiểm soát", một tình trạng giá cả tăng nhanh
chóng khi tiền tệ mất giá trị. Không có định nghĩa chính xác về siêu lạm phát được
chấp nhận phổ quát. Một định nghĩa cổ điển về siêu lạm phát do nhà kinh tế ngưười
Mỹ Phillip Cagan đưa ra là mức lạm phát hàng tháng từ 50% trở lên (nghĩa là cứ 31
ngày thì giá cả lại tăng gấp đôi). Theo định nghĩa này thì cho đến nay thế giới mới trải
qua 15 cuộc siêu lạm phát. Một trường hợp được ghi nhận chi tiết về siêu lạm phát là
nước Đức sau Thế chiến thứ nhất. Giá một tờ báo đã tăng từ 0,3 mark vào tháng 1
năm 1922 lên đến 70.000.000 mark chỉ trong chưa đầy hai năm sau. Giá cả của các
thứ khác cũng tăng tương tự. Từ tháng 1 năm 1922 đến tháng 11 năm 1923, chỉ số giá
đã tăng từ 1 lên 10.000.000.000. Cuộc siêu lạm phát ở Đức có tác động tiêu cực tới
nền kinh tế Đức đến mức nó thường được coi là một trong những nguyên nhân làm
nảy sinh chủ nghĩa Đức quốc xã và Thế chiến thứ hai.
Có một số điều kiện cơ bản gây ra siêu lạm phát. Thứ nhất, các hiện tượng này
chỉ xuất hiện trong các hệ thống sử dụng tiền pháp định. Thứ hai, nhiều cuộc siêu lạm
phát có xu hướng xuất hiện trong thời gian sau chiến tranh, nội chiến hoặc cách mạng,
do sự căng thẳng về ngân sách chính phủ. Vào thập niên 1980, các cú sốc bên ngoài
và cuộc khủng hoảng nợ của Thế giới thứ ba đã đóng vai trò quan trọng trong việc
gây ra siêu lạm phát ở một số nước Mỹ La-tinh.
Theo Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế 29, có bốn tiêu chí để xác định siêu lạm
phát, đó là: (1) người dân không muốn giữ tài sản của mình ở dạng tiền; (2) giá cả
hàng hóa trong nước không còn tính bằng nội tệ nữa mà bằng một ngoại tệ ổn định;
(3) các khoản tín dụng sẽ tính cả mức mất giá cho dù thời gian tín dụng là rất ngắn; và
(4) lãi suất, tiền công và giá cả được gắn với chỉ số giá và tỷ lệ lạm phát cộng dồn
trong ba năm lên tới 100 phần trăm
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Đây là chỉ số đo giá cả các hàng hóa hay được mua bởi "người tiêu dùng thông
thường" một cách có lựa chọn. Trong nhiều quốc gia công nghiệp, những sự thay đổi
theo phần trăm hàng năm trong các chỉ số này là con số lạm phát thông thường hay
được nhắc tới. Các phép đo này thường được sử dụng trong việc chuyển trả lương, do
những người lao động mong muốn có khoản chi trả (danh định) tăng ít nhất là bằng
hoặc cao hơn tỷ lệ tăng của CPI. Đôi khi, các hợp đồng lao động có tính đến các điều
chỉnh giá cả sinh hoạt, nó ngụ ý là khoản chi trả danh định sẽ tự động tăng lên theo sự
tăng của CPI, thông thường với một tỷ lệ chậm hơn so với lạm phát thực tế (và cũng
chỉ sau khi lạm phát đã xảy ra).
Chỉ số giá sản xuất (PPI)
Chỉ số này đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được không tính đến giá bổ
sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu. Nó khác với CPI là sự trợ cấp giá, lợi nhuận và
thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận được bởi các nhà sản xuất là không bằng
với những gì người tiêu dùng đã thanh toán. Ở đây cũng có một sự chậm trễ điển hình
giữa sự tăng trong PPI và bất kỳ sự tăng phát sinh nào bởi nó trong CPI. Rất nhiều
người tin rằng điều này cho phép một dự đoán gần đúng và có khuynh hướng của lạm
phát CPI "ngày mai" dựa trên lạm phát PPI ngày "hôm nay", mặc dù thành phần của
các chỉ số là khác nhau; một trong những sự khác biệt quan trọng phải tính đến là các
dịch vụ.
Chỉ số giá bán buôn
Đo sự thay đổi trong giá cả các hàng hóa bán buôn (thông thường là trước khi
bán có thuế) một cách có lựa chọn. Chỉ số này rất giống với PPI.
Chỉ số giá hàng hóa
Đo sự thay đổi trong giá cả của các hàng hóa một cách có lựa chọn. Trong
trường hợp bản vị vàng thì hàng hóa duy nhất được sử dụng là vàng. Khi nước Mỹ sử
dụng bản vị lưỡng kim thì chỉ số này bao gồm cả vàng và bạc.
Chỉ số giảm phát GDP
Dựa trên việc tính toán của tổng sản phẩm quốc nội: Nó là tỷ lệ của tổng giá trị
GDP giá thực tế (GDP danh định) với tổng giá trị GDP của năm gốc, từ đó có thể xác
Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt
hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính
chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng
cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng
giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát.
Lạm phát do xuất khẩu
Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được
huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm
khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu. Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất
cân bằng.
Lạm phát do nhập khẩu
Khi giá hàng hoá nhập khẩu tăng thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng
tăng. Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên.
Lạm phát tiền tệ
Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ
cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay chẳng hạn do ngân hàng
trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu
thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát.
Ai là nạn nhân của lạm phát?
Khi lạm phát xảy ra thì hầu hết mọi thành phần của nền kinh tế đều trở thành
nạn nhân của lạm phát, bởi nhìn một cách tổng thể thì mỗi người đều là người tiêu
dùng. Tuy nhiên, 3 thành phần chịu nhiều thiệt thòi nhất là:
- Người về hưu: Lương hưu là một trong những “hàng hoá” ổn định nhất về
giá cả, thường chỉ được điều chỉnh tăng lên đôi chút sau khi giá cả hàng hoá đã tăng
lên gấp nhiều lần.
- Những người gửi tiền tiết kiệm: Hẳn nhiên sự mất giá của đồng tiền khiến
cho những người tích trữ tiền mặt nói chung và những người gửi tiền tiết kiệm đánh
mất của cải nhanh nhất.
- Những người cho vay nợ: Khoản nợ trước đây có thể mua được một món
hàng nhất định thì nay chỉ có thể mua được những món hàng có giá trị thấp hơn. Vậy
Nhìn chung, lạm phát vừa phải có thể đem lại những điều lợi bên cạnh những
tác hại không đáng kể; còn lạm phát cao và siêu lạm phát gây ra những tác hại nghiêm
trọng đối với kinh tế và đời sống. Tác động của lạm phát còn tùy thuộc vào lạm phát
đó có dự đoán trước được hay không, nghĩa là công chúng và các thể chế có tiên tri
được mức độ lạm phát hay sự thay đổi mức độ lạm phát là một điều bất ngờ. Nếu như
lạm phát hoàn toàn có thể dự đoán trước được thì lạm phát không gây nên gánh nặng
kinh tế lớn bởi người ta có thể có những giải pháp để thích nghi với nó. Lạm phát
không dự đoán trước được sẽ dẫn đến những đầu tư sai lầm và phân phối lại thu nhập
một cách ngẫu nhiên làm mất tinh thần và sinh lực của nền kinh tế.
Tác động phân phối lại thu nhập và của cải
Tác động chính của lạm phát về mặt phân phối phát sinh từ những loại khác
nhau trong các loại tài sản và nợ nần của nhân dân. Khi lạm phát xảy ra, những ngươi
có tài sản, những người đang vay nợ là có lợi vì giá cả của các loại tài sản nói chung
đều tăng lên, con giá trị đồng tiền thì giảm xuống. Ngược lại, những người làm công
ăn lương, những người gửi tiền, những người cho vay là bị thiệt hại.
Để tránh thiệt hại, một số nhà kinh tế đưa ra cách thức giải quyết đơn giản là
lãi suất cần được điều chỉnh cho phù hợp với tỷ lệ lạm phát. Ví dụ, lãi suất thực là
3%, tỷ lệ tăng giá là 9%, thì lãi suất danh nghĩa là 12%. Tuy nhiên, một sự điều chỉnh
cho lãi suất phù hợp tỷ lệ lạm phát chỉ có thể thực hiện được trong điều lạm phát ở
mức độ thấp.
Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm
Trong điều kiện nền kinh tế chưa dạt đến mức toàn dụng, lạm phát vừa phải
thúc đẩy sự phát triển kinh tế vì nó có tác dụng làm tăng khối tiền tệ trong lưu thông,
cung cấp thêm vốn cho các đơn vị sản suất kinh doanh, kích thích sự tiêu dùng của
chính phủ và nhân dân.
Giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ nghịch biến: khi lạm phát tăng
lên thì thất nghiệp giảm xuống và ngược lại khi thất nghiệp giảm xuống thì lạm phát
tăng lên. Nhà linh tế học A.W. Phillips đã đưa ra “Lý thuyết đánh đổi giữa lạm phát
và việc làm”, theo đó một nước có thể mua một mức độ thất nghiệp tháp hơn nếu sẵn
sàng trả giá bằng một tỷ lệ lạm phát cao hơn.
Ngân Hàng Alan Greenspan - Cái tên gắn liên với FED
• Ngân hàng Trung Ương (Central Bank) nhiệm vụ theo dõi tình hình phát triển
kinh tế và lạm phát để kịp thời đề ra những biện pháp thích nghi. Vũ khí chính của
Cục Dự trữ Liên Bang (FED) là lãi suất cho vay. Khi nào muốn kích thích kinh tế thì
giảm lãi xuất xuống. Ngược lại khi thấy có dấu hiệu lạm phát thì tăng lãi xuất, kềm
hãm sản xuất lại, không để lạm phát có cơ hội phát triển. Một biện pháp khác của
FED là tăng hay giảm lưu lượng (liquidity) đồng dollar đang lưu hành trong dân
chúng. Khi cần rút bớt lưu lượng tiền, FED sẽ bán đấu giá trái phiếu kho bạc (bonds)
của chính phủ nhiều hơn. Khuynh hướng tự nhiên là sẽ giảm hoạt động kinh tế vì các
nhà đầu tư giữ công khố phiếu để lấy lời, không sẵn tiền để hoạt động sản xuất nữa.
Ngược lại khi muốn kích thích kinh tế, FED có thể thu mua trái phiếu và tung thêm
tiền vào lưu lượng sẵn có.
• Mở rộng thị trường lao động bằng cách đưa ra nước ngoài (outsource) một số
kỹ nghệ không có tính cách quốc phòng.
• Thỏa hiệp giữa các nghiệp đoàn chủ nhân và thợ thuyền về lương để đôi bên
cùng có lợi, phần nào ổn định mặt chi phí về lương (cộng thêm phúc lợi có thể chiếm
đến ¾ giá thành sản phẩm tại Mỹ).
• Ổn định các khu vực nóng để kiểm soát các nguồn nguyên liệu tối cần thiết
như dầu hỏa, than mỏ.
• Giữ gìn trật tự toàn cầu, không để những đột biến chính trị và khủng bố làm
mất ổn định khu vực.
Chương 2
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
2.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái (thường được gọi tắt là tỷ giá) là sự so sánh về mặt giá cả giữa
hai đồng tiền của hai nước khác nhau. Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái là giá của một
đồng tiền này tính bằng giá của một đồng tiền khác
2.2 Khái quát về tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái, tức tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền cao hay thấp đựơc quyết
định bởi các lực lượng thị trường, cung và cầu. Cung ngoại tệ là lượng ngoại tệ mà thị
Tỷ giá hối đoái có thể được quy định bởi thị trường trong chế độ tỷ giá hối đoái
thả nổi, và được gọi là tỷ giá thị trường. Tỷ giá hối đoái cũng có thể được quy định
bởi các cơ quan hữu trách trong chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Ở nhiều nước, cả thị
trường lẫn cơ quan hữu trách cùng tham gia quy định tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái
khi đổi tại ngân hàng thương mại và quầy giao dịch ngoại hối phục vụ khách hàng lẻ
thường chênh lệch so với tỷ giá công bố có thể vì một trong hai lý do sau: (1) đã được
tính gộp cả phí dịch vụ; (2) có hai tỷ giá đồng thời, một tỷ giá hối đoái chính thức (có
thể do cơ quan hữu trách qui định, hoặc do cả thị trường lẫn cơ quan hữu trách quy
đinh) và một tỷ giá không chính thức (còn gọi là tỷ giá hối đoái song song hay tỷ giá
chợ đen) do thị trường quyết định.
Ở Việt Nam, ngay cả tỷ giá hối đoái chính thức cũng có vài loại: tỷ giá bình
quân liên ngân hàng, tỷ giá tính thuế xuất nhập khẩu, tỷ giá giao dịch của ngân hàng
thương mại, và tỷ giá hạch toán. Tỷ giá mua vào và bán ra ngoại tệ niêm yết tại một
số ngân hàng để phục vụ khách đổi tiền là tỷ giá giao dịch của ngân hàng thương mại
có tính thêm phí dịch vụ. Còn tỷ giá đổi tiền tại các cửa hàng kinh doanh vàng bạc
ngoại tệ của tư nhân hay khi đổi tiền trong nhân dân chính là tỷ giá hối đoái song
song.
b) Tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực tế
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá hối đoái không xét đến tương quan giá cả
hay tương quan lạm phát giữa hai nước
Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá hối đoái có xét đến tương quan giá cả giữa hai
nước hoặc tương quan tỷ lệ lạm phát giữa hai nước.
Quan hệ giữa hai loại tỷ giá này được thể hiện qua cách tính sau:
Tỷ giá hối đoái thực tế = Tỷ giá hối đoái danh nghĩa x Giá nước ngoài / Giá nội
địa = Tỷ giá hối đoái danh nghĩa x Tỷ lệ lạm phát nước ngoài / Tỷ lệ lạm phát trong
nước.
c) Tỷ giá hối đoái song phương và Tỷ giá hối đoái hiệu lực
Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền được gọi là tỷ giá hối đoái song phương.
Còn tỷ giá hối đoái hiệu lực là tỷ lệ trao đổi giữa một đồng tiền X với nhiều đồng tiền
khác cùng lúc (thông thường là đồng tiền của các bạn hàng thương mại lớn). Tỷ giá
Tỷ giá hối đoái chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó hai nhân tố quan
trọng nhất là sức mua của đồng tiền và tương quan cung cầu ngoại tệ. Khi lạm phát
tăng, sức mua đồng nội tệ giảm so với ngoại tệ, làm cho tỷ giá hối đoái của đồng
ngoại tệ so với nội tệ tăng (hay tỷ giá đồng nội tệ so với ngoại tệ giảm) và ngược lại.
Nếu đồng nội tệ giảm, tỷ giá hối đoái cao có tác dụng:
- Kích thích các hoạt động xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, góp phần tăng thu
ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán.
- Với tỷ giá hối đoái cao sẽ khuyến khích nhập khẩu vốn, kiều hối, hạn chế các
hoạt động chuyển ngoại tệ ra nước ngoài, kết quả là làm cho sức mua của đồng nội tệ
tăng lên.
Tỷ giá hối đoái cao cũng khuyến khích các hoạt động du lịch vào trong nước,
làm cho quan hệ cung cầu về ngoại tệ bớt căng thẳng.
Tỷ giá bị mất giá là kết quả của việc lạm phát gia tăng, Tỷ giá tăng là kết quả
của việc kéo lạm phát xuống thấp. Tỷ giá bị mất giá hay lên giá không phải là nguyên
nhân gây nên tình trạng lạm phát cao hay thấp. Do đó sử dụng biện pháp tăng tỷ giá
để chống lạm phát không phải là liều thuốc hay, nếu uống nhầm thuốc, có khi bệnh
còn bị nặng hơn.
Những tác động tích cực trên đây chỉ có thể có được khi tỷ lệ lạm phát được
kiềm chế ở mức hợp lý. Ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước đã và đang thực hiện chế
độ tỷ giá linh hoạt (thả nổi có kiểm soát), không cố định tỷ giá VND vào USD mà trên
cơ sở rổ tiền tệ và cũng không thả nổi tỷ giá theo quan hệ cung cầu. Bởi trong điều
kiện môi trường vĩ mô chưa ổn định, nếu tỷ giá hối đoái biến động mạnh theo xu
hướng đồng nội tệ giảm giá, thì tâm lý người dân và tổ chức kinh tế lo sợ sự quay trở
lại của lạm phát cao, họ dễ dàng chuyển tiền sang đầu tư vàng, ngoại tệ và các tài sản
có giá khác. Vì vậy khi cần thiết ngân hàng Nhà nước phải can thiệp bằng cả công cụ
hành chính và công cụ gián tiếp để sức mua đối ngoại của VND không bị biến động
lớn.
Xét về mặt lý thuyết, nếu các yếu tố khác như nhau, khi tỷ lệ lạm phát của một
nước tăng tương đối so với lạm phát của một nước khác, mức cầu đồng tiền nước đó
giảm do xuất khẩu giảm vì giá cao hơn so với nước kia. Ngoài ra, người tiêu dùng và
giữa các quốc gia. Quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao hơn, đồng nội tệ quốc gia đó sẽ
mất giá một cách tương đối và tỷ giá hối đoái tăng.
Nhân tố cuối cùng và cũng là nhân tố quan trọng nhất tác động đến tỷ giá hối
đoái đó là tâm lý số đông. Người dân, các nhà đầu cơ, các ngân hàng và các tổ chức
kinh doanh ngoại tệ là các tác nhân trực tiếp giao dịch trên thị trường ngoại hối. Hoạt
động mua bán của họ tạo nên cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Các hoạt động đó lại
bị chi phối bởi yếu tố tâm lý, các tin đồn cũng như các kỳ vọng vào tương lai. Điều
này giải thích tại sao, giá ngoại tệ hiện tại lại phản ánh các kỳ vọng của dân chúng
trong tương lai. Nếu mọi ngưòi kỳ vọng rằng tỷ giá hối đoái sẽ tăng trong tương lai,
mọi người đổ xô đi mua ngoại tệ thì tỷ giá sẽ tăng ngay trong hiện tại; Mặt khác, giá
ngoại tệ rất nhậy cảm với thông tin cũng như các chính sách của chính phủ. Nếu có tin
đồn rằng Chính phủ sẽ hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu để giảm thâm hụt thương
mại, mọi người sẽ đồng loạt bán ngoại tệ và tỷ giá hối đoái sẽ giảm nhanh chóng.
Trong thực tế, tỷ giá hối đoái bị chi phối đồng thời bởi tất cả các yếu tố trên
với mức độ mạnh yếu khác nhau của từng nhân tố, tuỳ vào thời gian và hoàn cảnh
nhất định. Việc tách rời và lượng hoá ảnh hưởng của từng nhân tố là việc làm không
thể. Các nhân tố trên không tách rời mà tác động tổng hợp, có thể tăng cường hay át
chế lẫn nhau, đến tỷ giá hối đoái làm cho tỷ giá hối đoái luôn biến động không ngừng.
Chế độ tỷ giá hối đoái của nền kinh tế
Một nhóm các nhà kinh tế thuộc Quỹ tiền tệ quốc tế gồm: Atish R.
Ghosh; Jonathan D. Ostry; Anne-Marie Gulde và Holger C. Wolf thuộc đại học Tổng
hợp New York đã nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tỷ giá hối đoái đối với lạm phát
và tăng trưởng của các nền kinh tế. Kết quả nghiên cứu đã đi đến kết luận: các nước
áp dụng tỷ giá hối đoái cố định có lạm phát thấp và lạm phát ít có khả năng biến động,
các nhà kinh tế cũng tìm thấy mối quan hệ nhân - quả giữa chế độ tỷ giá hối đoái với
lạm phát. Như một sự đánh đổi, các nền kinh tế áp dụng tỷ giá hối đoái cố định có
năng suất và tăng trưởng thấp. Qua khảo sát các nền kinh tế có chế độ tỷ giá hối đoái
khác nhau trong cùng một thời kỳ cho thấy: những nước áp dụng tỷ giá hối đoái cố
định có lạm phát bình quân 8% một năm; 14% và 16% một năm tương ứng với các
nước áp dụng tỷ giá hối đoái trôi nổi trong một khoảng cho phép và các nước hoàn
Để phát triển kinh tế, hạn chế lạm phát và ổn định xã hội, các nhà chức trách
khi áp dụng bất kỳ chính sách kinh tế vĩ mô nào cần phải hiểu thực trạng và những
đặc trưng của nền kinh tế để nâng cao hiệu quả của chính sách và tránh những ảnh
hưởng đi kèm của nó.