BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA KIỂM TOÁN
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
Đề tài: Mối quan hệ giữa lạm phát mục
tiêu và ngưỡng bội chi
Giáo Viên Hướng Dẫn : Trương Minh Tuấn
Sinh Viên Thực Hiện : Nhóm 8
Lớp
: VB2KI15
Tp. HCM Ngày 30, tháng 10 năm 2012
1
Thông Tin Nhóm 8
Họ Tên
MSSV
Số Báo Danh
Chữ Ký
Vũ Văn Nam
Nguyễn Thị Mỹ Ý
Khả năng áp dụng Chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam ..............................11
II.
Bội chi ngân sách nhà nước ............................................................................................. 15
1.
Khái niệm bội chi NSNN................................................................................................. 15
2.
Nguyên nhân bội chi NSNN........................................................................................... 16
3.
Các giải pháp xử l ý bội chi NSNN ................................................................................17
4.
Thực trạng bội chi ngân sách ở Việt Nam................................................................... 19
III.
Mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và ngưỡng bội chi........................................... 21
IV.
Những vấn đề đặt ra về xử lý bội chi NSNN nhằm kiềm chế lạm phát..................22
TCNS
:
Tài chính ngân sách
GDP
:
Tổng sản phẩm quốc nội
UNDP
:
Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
4
Lời Mở Đầu
Trong thời gian qua, lạm phát cao luôn là mối đe dọa đối với sự ổn định kinh tế vĩ
mô và tăng trưởng kinh tế dài hạn ở Việt Nam. Quá trình hội nhập quốc tế và tự do
hóa tài chính mạnh mẽ trong khi những nền tảng kinh tế vĩ mô còn lỏng lẻo khiến
nhiều người hoài nghi về khả năng ổn định và kiểm soát lạm phát trong những năm
tới. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận lại cơ chế điều hành chính
sách tiền tệ ở nước ta hiện nay. Một câu hỏi đã và đang thu hút sự quan tâm của
nhiều đại biểu Quốc hội và các chuyên gia kinh tế là phải chăng cơ chế điều hành
chính sách tiền tệ hiện nay không thực sự mang lại hiệu quả trong bối cảnh kinh tế
gồm các điều kiện:
- Chính sách tiền tệ không bị chi phối bởi các ưu tiên về ngân sách Chính
phủ; Chính phủ tăng ngân sách bằng việc huy động các nguồn vốn trên thị
trường tài chính và hạn chế tuyệt đối việc cấp tín dụng cho Chính phủ.
- Vị thế bên ngoài đủ mạnh để đảm bảo cho chính sách tiền tệ theo đuổi mục
tiêu lạm phát là mục tiêu hàng đầu.
6
- Khi bắt đầu thực hiện khuôn khổ lạm phát mục tiêu thì lạm phát cần ở mức
thấp để đảm bảo cho sự điều chỉnh kiểm soát tiền tệ thích hợp.
3. Nhóm điều kiện thứ 3 liên quan đến vấn đề phát triển và ổn định thị
trường tài chính để thực hiện khuôn khổ này. Nhóm này bao gồm các điều kiện:
- Cần phải có thị trường tài chính ổn định để đảm bảo cho chính sách tiền tệ
theo đuổi các mục tiêu lạm phát và không bị tác động bởi các lo lắng về sức
khoẻ của thị trường tài chính.
- Thị trường tài chính cần phát triển ở mức nhất định để đảm bảo chính sách
tiền tệ được thực hiện bằng các công cụ thị trường tài chính và đảm bảo việc
thực hiện chính sách tiền tệ không gặp rắc rối do sự yếu kém của thị trường
tài chính.
4. Nhóm điều kiện thứ 4 liên quan đến các công cụ của chính sách tiền tệ:
- NHTW phải ở vị thế tác động đến lạm phát thông qua các công cụ chính
sách và cần thiết phải hiểu các mối quan liên kết giữa vị thế chính sách và
lạm phát.
- Các mục tiêu về tỷ giá phải hỗ trợ cho mục tiêu lạm phát. Do đó, NHTW
nên cố gắng làm sáng tỏ vấn đề can thiệp vào thị trường ngoại hối và các
thay đổi về chính sách lãi suất để tác động đến tỷ giá chỉ nhằm mục đích làm
giảm nhẹ ảnh hưởng của các cú sốc tạm thời.
- Chính sách tài khoá và các hoạt động quản lý nợ công cộng nên hỗ trợ cho
nhiên, nói như vậy không có nghĩa là QH sẽ bị động trước các chỉ tiêu mà Chính
phủ trình. QH vẫn có thể và có khả năng phân tích để chuyển từ thế bị động sang
chủ động quyết định một cách chính xác các chỉ tiêu mà Chính phủ trình.
Các Ủy ban của QH và các ĐBQH cần phân tích những nguyên nhân gây ra lạm
phát của năm báo cáo, dự báo các tình huống có thể xảy ra trong năm kế hoạch để
8
có thể thảo luận về chỉ tiêu lạm phát được Chính phủ trình QH. Nhiệm vụ của các
ĐBQH và các cơ quan của QH là phải phân tích một cách chính xác các nguyên
nhân của lạm phát trong năm trước và dự kiến các khả năng có thể xảy ra trong
năm sau để có thái độ nhìn nhận khách quan về mục tiêu lạm phát của năm kế
hoạch. Ví dụ, mục tiêu chỉ số lạm phát năm 2011 được Chính phủ trình và được
QH thông qua là 7%, nhưng trên thực tế, trong năm 2011, Chính phủ đã phải điều
chỉnh mục tiêu lạm phát đến 3 lần: tháng 5.2011 điều chỉnh mục tiêu lạm phát lên
15%; tháng 7.2011 điều chỉnh lên 17%, tháng 8.2011 mục tiêu lạm phát được điều
chỉnh lên 18% và thực tế là đến tháng 12.2011, chỉ tiêu lạm phát ở mức 18,13%.
Qua ví dụ điển hình cho việc xác định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền và kiểm
soát lạm phát này, có thể thấy, hình như QH chưa phân tích cụ thể những nguyên
nhân tại sao lạm phát năm 2010 lại cao hơn năm 2009 (lạm phát năm 2010 là
11,75% và lạm phát năm 2009 là 6,8%) và phân tích trong năm 2011 sẽ có những
yếu tố gì sẽ tác động đến lạm phát?
Phân tích nguyên nhân lạm phát năm 2010 sẽ thấy: thứ nhất, giá các mặt hàng
xăng dầu, điện, than trong năm 2011 có xu thế ổn định không hay là vẫn có yêu
cầu tăng? Thực tế ngay từ tháng 3.2011 giá các mặt hàng được điều chỉnh tăng liên
tục và dồn dập. Báo chí gọi đó là cú sốc liên tiếp khơi mào cho lạm phát khi mà
ngay từ đầu năm tỷ giá đã tăng 9,3% vào tháng 2, xăng tăng 17% từ tháng 2 và
điện tăng 15,2% từ ngày 1.3. Thứ hai là yếu tố tỷ giá có ổn định hay không? Nhìn
nhận xu thế thị trường của năm 2010 để suy đoán cho năm 2011 sẽ thấy, cuối năm
2010 áp lực điều chỉnh tỷ giá rất lớn, quan hệ cung cầu ngoại tệ luôn luôn căng
thế hệ mai sau không? Khả năng tích luỹ, khả năng tài chính của đất nước ra sao?
Nếu đầu tư cộng với chi tiêu của Chính phủ lớn hơn khả năng tích luỹ và năng lực
tài chính thì sẽ phải bội chi lớn, phải vay nợ nhiều. Vì vậy, cần xác định mức bội
chi hợp lý. Kinh nghiệm chỉ ra rằng, bội chi ngân sách nhỏ hơn hoặc bằng 3%
GDP là mức hợp lý nhất, không gây áp lực cho lạm phát và bảo đảm tăng trưởng
có hiệu quả, bền vững. Thực tế trong nhiều năm đầu đổi mới nước ta đã đạt được
10
mức bội chi xoay quanh 3% GDP. Vì vậy, nếu mục tiêu tăng trưởng không được
đặt ra quá cao thì sẽ giúp giảm bội chi ngân sách và không gây áp lực cho lạm
phát. Giữa tăng trưởng và kiểm soát lạm phát phải tìm ra được điểm cân bằng: vừa
tăng trưởng vừa kiểm soát được lạm phát.
Bên cạnh chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, QH cũng cần phải phân tích
thêm về chính sách thương mại, cán cân thương mại, nhập siêu để thấy được
những tác động của thương mại đến thị trường tiền tệ trong nước. Nhập siêu lớn sẽ
ảnh hưởng ngay đến cung – cầu ngoại tệ, gây áp lực tới sự phá giá đồng bản tệ dẫn
đến tỷ giá không ổn định, thị trường ngoại hối rối ren và ảnh hưởng lớn đến kết
quả kiểm soát lạm phát cũng như hiệu quả của chính sách tiền tệ.
Tất cả những yếu tố trên đây, chúng ta có quyền phân tích và dự báo để thấy rằng,
quyết định lạm phát năm 2011 là 7% nhưng thực tế thực hiện lại cách xa so với
mục tiêu đề ra, làm giảm ý nghĩa của quyết định quan trọng này. Rút kinh nghiệm
của năm 2011, theo tôi, tại Kỳ họp thứ Tư sắp tới, khi thảo luận và quyết định mục
tiêu lạm phát của năm 2013, QH cần phân tích tất cả các yếu tố nêu trên để quyết
định mục tiêu lạm phát sát với thực tế hơn. Vì khi biểu quyết mục tiêu lạm phát,
QH cũng sẽ phải giám sát việc thực hiện mục tiêu đó. Nếu QH quyết định lạm phát
7% mà Chính phủ thực hiện đến 18% thì QH cũng sẽ rất khó khăn trong giám sát
việc triển khai thực hiện mục tiêu mà QH đã quyết định.
5. Khả năng áp dụng Chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam
tránh rủi ro giảm phát. Thật vậy, giảm phát đi cùng với suy thoái kinh tế sâu sắc,
thậm chí là đình đốn như những năm 30 và giảm phát hiện nay ở Nhật Bản là một
13
trong những nguyên nhân làm suy yếu hệ thống tài chính và nền kinh tế. Các mức
lạm phát mục tiêu trên 0 sẽ làm giảm khả năng có những thời kỳ giảm phát. Cuối
cùng, lựa chọn khôn ngoan của các quốc gia trong những năm gần đây là theo đuổi
mục tiêu lạm phát dương nếu muốn chống lại sự suy giảm mức lương danh nghĩa.
Trên thực tế, tất cả các nhà điều hành lạm phát mục tiêu ở các quốc gia công
nghiệp (và cả các khung khổ “lai ghép” như ở Đức hay Ngân hàng Trung ương
Châu Âu) đều chọn các mục tiêu lạm phát lớn hơn 0 rất nhiều: khoảng mục tiêu
lạm phát trong dài hạn xoay quanh 1% đối với Ngân hàng Trung ương Châu Âu,
1,5% cho New Zealand, 1,75% cho Đức trước khi gia nhập EMU, 2% cho
Canada, Thụy Điển và Phần Lan (và Tây Ban Nha trước khi gia nhập EMU),
2,5% cho Úc và Vương quốc Anh. Tựu chung lại, các nước công nghiệp hóa đều
có các mục tiêu lạm phát nằm trong khoảng 1% đến 3%. Hàn Quốc nằm trong
phần cao nhất khoảng hẹp này, với mục tiêu là 3% +/- 1%. Bên cạnh đó, một số
nước phi công nghiệp hóa cũng có các mục tiêu lạm phát nằm trong khoảng này,
ví dụ như 2% ở Peru, 2% ở Cộng hòa Séc và 2,5% ở Phần Lan. Ba nước khác, bao
gồm Chile, Hungary và Mexico đều có mục tiêu là 3% và Colombia nằm trong
khoảng 2-4%. Chỉ có duy nhất một nước có mục tiêu trên 5% là Ghana với 8,7%
(theo nghiên cứu của Gill Hammond, 2012).
Mặc dù vậy, hầu như không có nghiên cứu nào chỉ ra mức lạm phát bao nhiêu là
tối ưu tại các nước đang phát triển và các quốc gia mới nổi. Theo Samuelson
(2012) thì mức lạm phát tối ưu tại các nước này nên cao hơn một chút so với các
nước công nghiệp.
Từ kinh nghiệm của các quốc gia đi trước đã gặt hái được những thành công nhất
định trong quá trình thực thi chính sách lạm phát mục tiêu, Việt Nam có thể học
hỏi và đối chiếu với các điều kiện cụ thể về kinh tế, chính trị và văn hóa của quốc
B. Thu về vốn (bán tài F. Cho vay thuần
sản nhà nước).
C. Bù đắp thâm hụt.
(= cho vay mới - thu nợ
gốc).
- Viện trợ.
- Lấy từ nguồn dự trữ.
15
Vay thuần (= vay mới trả nợ gốc).
A + B +C = D + E + F
Công thức tính bội chi NSNN của một năm sẽ như sau:
Bội chi NSNN = Tổng chi - Tổng thu = (D + E + F) - (A + B) = C
2. Nguyên nhân bội chi NSNN
Bội chi ngân sách xảy ra khi Chính phủ chi tiêu nhiều hơn số thu ngân sách huy
động được. Ngược lại, khi chi ngân sách nhỏ hơn số thu ngân sách thì có bội thu
ngân sách (hay thặng dư ngân sách). Chi ngân sách là một trong những công cụ
chính sách quan trọng của Nhà nước nhằm tác động đến sự phát triển kinh tế - xã
hội. Khi sản lượng của nền kinh tế thấp dưới mức sản lượng tiềm năng, thì Chính
phủ có thể tăng mức chi ngân sách, chấp nhận bội chi để thúc đẩy hoạt động kinh
tế. Vì vậy, bội chi ngân sách không chỉ diễn ra phổ biến đối với các nước nghèo,
kém phát triển mà xảy ra ngay cả đối với những nước thuộc nhóm các nền kinh tế
phát triển nhất (nhóm OECD). Đối với các nước đang phát triển, bội chi ngân sách
thường để đáp ứng nhu cầu rất lớn về đầu tư cơ sở hạ tầng ban đầu như: Giao
thông, điện, nước... Nhiều nước phát triển và đang phát triển trong khu vực Đông
kinh tế vĩ mô. Có nhiều cách để chính phủ bù đắp thiếu hụt ngân sách như tăng thu
từ thuế, phí, lệ phí; giảm chi ngân sách; vay nợ trong nước, vay nợ nước ngoài;
phát hành tiền để bù đắp chi tiêu;... Sử dụng phương cách nào, nguồn nào tùy
thuộc vào điều kiện kinh tế và chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của
mỗi quốc gia.
17
Bội chi NSNN tác động đến kinh tế vĩ mô phụ thuộc nhiều vào các giải pháp nhằm
bù đắp bội chi NSNN. Mỗi giải pháp bù đắp đều làm ảnh hưởng đến cân đối kinh
tế vĩ mô. Về cơ bản, các quốc gia trên thế giới thường sử dụng các giải pháp chủ
yếu nhằm xử lý bội chi NSNN như sau:
Thứ nhất: Nhà nước phát hành thêm tiền. Việc xử lý bội chi NSNN có thể thông
qua việc nhà nước phát hành thêm tiền và đưa ra lưu thông. Tuy nhiên, giải pháp
này sẽ gây ra lạm phát nếu nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp bội
chi NSNN. Đặc biệt, khi nguyên nhân bội chi NSNN là do thiếu hụt các nguồn vốn
đối ứng để đầu tư cho phát triển gây "tăng trưởng nóng" và không cân đối với khả
năng tài chính của quốc gia.
Thứ hai: Vay nợ cả trong và ngoài nước. Để bù đắp thâm hụt NSNN, nhà nước có
thể vay nợ nước ngoài và trong nước. Việc vay nợ nước ngoài quá nhiều sẽ kéo
theo vấn đề phụ thuộc nước ngoài cả về chính trị lẫn kinh tế và làm giảm dự trữ
ngoại hối quá nhiều khi trả nợ, làm cạn dự trữ quốc gia sẽ dẫn đến khủng hoảng tỷ
giá. Vay nợ trong nước sẽ làm tăng lãi suất, và cái vòng nợ - trả lãi - bội chi sẽ làm
tăng mạnh các khoản nợ công chúng và kéo theo gánh nặng chi trả của NSNN cho
các thời kỳ sau...
Thứ ba: Tăng các khoản thu, đặc biệt là thuế. Việc tăng các khoản thu, đặc biệt là
thuế có thể sẽ bù đắp sự thâm hụt NSNN và giảm bội chi NSNN. Tuy nhiên, đây
không phải là giải pháp cơ bản để xử lý bội chi NSNN, bởi vì nếu tăng thuế không
hợp lý sẽ dẫn đến làm giá cả hàng hóa tăng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời
vào việc cắt giảm chi tiêu công, tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên (ngoài phần
tiết kiệm 10% dự toán từ đầu năm), nhưng tổng số chi NSNN vẫn vượt dự toán
9,7% (70.400 tỷ đồng) và đây là mức tăng khá lớn. Chính phủ dự kiến bố trí 9.100
19
tỷ đồng từ nguồn tăng thu ngân sách trung ương để giảm bội chi NSNN năm 2011,
đưa xuống mức 111.500 tỷ đồng, tương đương 4,9% GDP, giảm 0,4% so với dự
toán đầu năm.
Trong bối cảnh tình hình kinh tế-xã hội có nhiều biến động, việc Chính phủ phấn
đấu giảm bội chi thể hiện sự cố gắng, nỗ lực trong quản lý và điều hành NSNN.
Đây là mức giảm khá, tạo cơ sở cho việc giảm bội chi theo lộ trình và hạ dần mức
nợ công. Mặt khác, việc bố trí tăng chi trả nợ năm 2011 (15.000 tỷ đồng) cũng có
thể coi như gián tiếp giảm bội chi.
Ủy ban Tài chính - Ngân sách Quốc hội cho rằng trên cơ sở đánh giá dự toán thu
NSNN năm 2012 đã được Chính phủ xây dựng, chi NSNN năm 2012 phải được nỗ
lực cân đối để thực hiện những nhiệm vụ trong bối cảnh nền kinh tế đứng trước
nhiều khó khăn thách thức. Do vậy, việc cắt giảm bội chi, giảm đầu tư công đột
ngột có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, giải quyết chính sách xã hội. Đa số
ý kiến trong Ủy ban TCNS tán thành với Chính phủ mức bội chi NSNN là 140.200
tỷ đồng, bằng 4,8% GDP.
Tuy nhiên, có ý kiến nói rằng nếu tính thêm phần vốn trái phiếu Chính phủ (45.000
tỷ đồng) vào bội chi NSNN thì tỷ lệ bội chi NSNN năm 2012 là 6,3%GDP, theo
phương án tăng trưởng bình quân 6,5% trong kế hoạch tài chính 5 năm Chính phủ
trình, bội chi NSNN năm 2015 dự kiến là 202.500 tỷ đồng, nếu tính cả trái phiếu
Chính phủ năm 2015 (45.000 tỷ đồng) thì bội chi là 247.500 tỷ đồng, bằng
5,5%GDP (dự kiến GDP đến năm 2015 là 4.500 nghìn tỷ đồng). Do đó, để thực
III. Mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và ngưỡng bội chi
Ngân sách có mối quan hệ nhân quả với lạm phát. Lạm phát sẽ xảy ra từ việc thâm
hụt ngân sách quá lớn được bù đắp từ việc phát hành tiền.
21
Tùy vào liều lượng của thu chi ngân sách ở mức ngân sách cho phép nhằm đẩy đầu
tư phát triển nhanh lên và tiếp theo là đưa tăng trưởng kinh tế lên cao mà không
kéo theo lạm phát cao. Tăng chi ngân sách để kích thích tiêu dùng, tăng cầu tiêu
dùng, kích thích đầu tư phát triển, tăng trưởng kinh tế, tăng chi quá mức, thâm hụt
ngân sách, gánh nặng nợ do bù đắp thâm hụt bằng việc đi vay nợ quá lớn,kết quả là
đưa đến kích cầu quá mức thì ở chu kỳ sau sẽ kéo theo lạm phát, mà lạm phát cao,
giảm đầu tư phát triển, giảm tăng trưởng.
Các chuyên gia kinh tế cho rằng: Mức bội chi ngân sách cao hàm ý rằng, chính
sách tài khóa sẽ không còn nhiều dư địa để tiếp tục hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế.
Thêm vào đó, việc nới lỏng quá mức chính sách tài khóa với mức bội chi ngân
sách vượt ngưỡng cho phép làm tăng lãi suất do Chính phủ phải tăng cường vay nợ
để bù đắp bội chi. Kết quả là đưa đến kích thích tiêu dùng. Và khi kích cầu quá
mức thì ở chu kỳ sau sẽ kéo theo lạm phát cao. Như vậy, rõ ràng, bội chi NSNN có
quan hệ nhân quả với lạm phát. Điều này cũng có nghĩa, mọi cố gắng của Chính
phủ trong kiềm chế lạm phát sẽ trở nên vô nghĩa, việc thực hiện chính sách lạm
phát mục tiêu sẽ càng trở nên khó khăn, gây ảnh hưởng rất lớn đến sự điều hành
thành công chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu ở một quốc gia.
IV. Những vấn đề đặt ra về xử lý bội chi NSNN nhằm kiềm
chế lạm phát
Thực tế trong những năm qua, chúng ta đã kiểm soát được mức bội chi NSNN ở
giới hạn cho phép (không quá 5% GDP/năm) và nguồn vay chủ yếu chi đầu tư phát
triển. Ngoài ra, chúng ta cũng tích lũy được một phần từ nguồn thu thuế, phí, lệ phí
- Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên. Đây
là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách áp lực bội chi ngân
sách (nhất là ngân sách các địa phương). Chúng ta có thể thấy, thông qua cơ chế
23
phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung từ
ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Ngân sách địa phương được phân cấp
nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và được xác định cụ thể trong dự toán
ngân sách hằng năm. Vì vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi bảo
đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành các công trình khi hoàn
thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, làm
giảm hiệu quả đầu tư. Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách, để công
trình vận hành và phát huy tác dụng, luôn phải đòi hỏi nhu cầu kinh phí cho hoạt
động. Để có nguồn kinh phí này hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêu
cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả hai trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN.
- Liệu có tồn tại vấn đề bội chi ngân sách địa phương ở Việt Nam hay không? Biện
pháp xử lý ra sao? Quản lý vấn đề này thế nào? Đó là những vấn đề cần được xem
xét kỹ càng hơn. Theo khoản 3, Điều 8, Luật NSNN năm 1996, ngân sách địa
phương được cân đối theo nguyên tắc tổng số chi không vượt quá tổng số thu,
trường hợp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhu cầu đầu tư kết cấu hạ
tầng thì được phép huy động vốn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và phải
cân đối vào ngân sách địa phương để trả nợ khi đến hạn. Luật NSNN sửa đổi năm
2002 mở rộng thêm quyền chủ động trong việc huy động vốn của ngân sách địa
phương. Vay vốn đầu tư thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5 năm do hội đồng
nhân dân tỉnh quyết định (không phải theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
quy định như trước đây). Như vậy, mặc dù chúng ta chấp nhận về nguyên tắc là
không có việc bội chi ngân sách địa phương nhưng thực tế lại vẫn cho phép địa
phương vay để đầu tư.
cầu vốn rất cao. Nhưng nếu chúng ta không kiểm soát chặt chẽ các khoản vay nợ
của NSNN, nhất là vay của ngân sách địa phương, thì nguy cơ ảnh hưởng đến an
25