tiểu luận mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và nợ công - Pdf 19

Đề tài 10: Mối quan hệ giữa LPMT và nợ công Nhóm 15

GVHD: Trương Minh Tuấn
1
Tiểu luận

Mối quan hệ giữa ;ạm
phát mục tiêu và nợ công Đề tài 10: Mối quan hệ giữa LPMT và nợ công Nhóm 15

GVHD: Trương Minh Tuấn
2LỜI MỞ ĐẦU
Tiền là hàng hóa trung gian để trao đổi, bản thân tiền cũng trở thành một loại hàng
hóa và vì thế nó cũng có thể bị đầu cơ và kinh doanh như bất cư loại hàng hóa


Đề tài 10: Mối quan hệ giữa LPMT và nợ công Nhóm 15

GVHD: Trương Minh Tuấn
3I.LẠM PHÁT MỤC TIÊU:
I.1.Khái niệm về lạm phát mục tiêu:
Lạm phát mục tiêu là một trong những khuôn khổ chính sách tiền tệ mà theo đó,
NHTW hoặc Chính phủ thông báo một số mục tiêu trung hạn về lạm phát và NHTW
cam kết đạt được những mục tiêu này.

I.2.Điều kiện để thực hiện khuôn khổ lạm phát mục tiêu:
Các điều kiện cơ bản để một quốc gia có thể theo đuổi được khuôn khổ lạm phát
mục tiêu có thể được chia thành 4 nhóm chính:
1. Nhóm điều kiện đầu tiên và có lẽ là quan trọng nhất đó là NHTW được trao quyền
cao và sự tín nhiệm để theo đuổi lạm phát mục tiêu:
- Ngân hàng Trung ương phải có quyền đặc biệt để theo đuổi mục tiêu lạm phát
và tự mình đặt ra các công cụ của chính sách tiền tệ.
- Công chúng phải được thông báo về khuôn khổ chính sách tiền tệ và việc thực
hiện chính sách tiền tệ.

2. Nhóm điều kiện thứ hai liên quan đến vấn đề đảm bảo mục tiêu lạm phát là mục
tiêu chính, không phải là mục tiêu hỗ trợ cho mục tiêu khác. Nhóm này bao gồm các
điều kiện:
- Chính sách tiền tệ không bị chi phối bởi các ưu tiên về ngân sách Chính phủ;
Chính phủ tăng ngân sách bằng việc huy động các nguồn vốn trên thị trường
tài chính và hạn chế tuyệt đối việc cấp tín dụng cho Chính phủ.
- Vị thế bên ngoài đủ mạnh để đảm bảo cho chính sách tiền tệ theo đuổi mục

hiện LPMT. Điều đó có nghĩa là không nhất thiết phải có tất cả các điều kiện này thì
một quốc gia mới có thể thực hiện khuôn khổ lạm phát mục tiêu. Thực tế đã cho
thấy mặc dù gặp khó khăn trong việc thoả mãn một số điều kiện, khuôn khổ lạm
phát mục tiêu vẫn hoạt động tốt. Quyết định có theo đuổi khuôn khổ lạm phát mục
tiêu cần phải dựa trên sự cân nhắc thận trọng các chi phí và lợi ích của khuôn khổ
lạm phát mục tiêu so với các khuôn khổ khác.

I.3.Các bước thực hiện LPMT:
- Hoàn thiện cơ sở pháp lý về hoạt động tiền tệ ngân hàng theo hướng hiện đại
phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Cải cách mạnh mẽ tổ chức và hoạt động của NHTW trở thành NHTW hiện
đại.
- Chuẩn bị điều kiện về hạ tầng kỹ thuật để chuyển sang điều hành chính sách
tiền tệ theo lạm phát mục tiêu sau năm 2010. Thứ tư, tái cơ cấu hệ thống
Đề tài 10: Mối quan hệ giữa LPMT và nợ công Nhóm 15

GVHD: Trương Minh Tuấn
5thanh tra, giám sát ngân hàng theo chuẩn mực của Basel I tiến tới Basel II,
đặc biệt chú trọng chuẩn mực về an toàn và quản trị rủi ro. Thứ năm, tái cơ
cấu toàn diện và triệt để các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng nhân
dân, bao gồm việc cổ phần hoá, tái cơ cấu sở hữu và xây dựng thể chế.
II. NỢ CÔNG:
II.1. Định nghĩa:
Nợ chính phủ, là một phần thuộc Nợ công hoặc Nợ quốc gia, là tổng giá trị các
khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay.
Việc đi vay này là nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách nên nói cách
khác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách luỹ kế đến một thời điểm nào đó. Để dễ

Chỉ tiêu thâm hụt ngân sách khi tính toán thường không điều chỉnh ảnh hưởng của
lạm phát vì trong tính toán chi tiêu của Chính phủ, người ta tính toán các khoản trả
lãi vay theo lãi suất danh nghĩa trong khi đáng lẽ chỉ tiêu này chỉ nên tính theo lãi
suất thực tế. Do lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát, nên
thâm hụt ngân sách đã bị phóng đại. Trong những thời kỳ lạm phát ở mức cao và nợ
chính phủ lớn thì ảnh hưởng của yếu tố này rất lớn.
II.4.2.Tài sản đầu tư:
Nhiều nhà kinh tế cho rằng tính toán nợ chính phủ cần phải trừ đi tổng giá trị của tài
sản chính phủ. Điều này cũng đơn giản như khi xử lý tài sản của cá nhân: khi một cá
nhân vay tiền để mua nhà thì không thể tính anh ta đã thâm hụt ngân sách bằng số
tiền đã vay mà phải trừ đi giá trị của căn nhà. Tuy nhiên khi tính toán theo phương
pháp này lại gặp phải vấn đề những gì nên coi là tài sản của chính phủ và tính toán
giá trị của chúng như thế nào, ví dụ: đường quốc lộ, kho vũ khí hay chi tiêu cho giáo
dục
II.4.3.Các khoản nợ tiềm tang:
Nhiều nhà kinh tế lập luận rằng tính toán nợ chính phủ đã bỏ qua các khoản nợ tiềm
tàng như tiền trợ cấp hưu trí, các khoản bảo hiểm xã hội mà chính phủ sẽ phải chi trả
cho người lao động hay các khoản mà chính phủ sẽ phải chi trả khi đứng ra bảo đảm
cho các khoản vay của người có thu nhập thấp mà trong tương lai họ không có khả
năng thanh toán
II.5.Tác động của nợ chính phủ:
Đề tài 10: Mối quan hệ giữa LPMT và nợ công Nhóm 15

GVHD: Trương Minh Tuấn
7II.5.1.Về tính trung lập của nợ chính phủ:
Có hai quan điểm chính về việc nợ chính phủ có tác động đến nền kinh tế hay
không:

GVHD: Trương Minh Tuấn
8nợ trong nước lớn thì chính phủ buộc phải tăng thuế để trả lãi nợ vay. Thuế
làm méo mó nền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội.
Ngoài ra, còn có một số quan điểm cho rằng việc chính phủ sử dụng công cụ nợ để
điều tiết kinh tế vĩ mô sẽ không có hiệu suất cao vì có hiện tượng crowding out (đầu
tư cho chi tiêu của chính phủ tăng lên).
- Chính phủ muốn tăng chi tiêu công cộng để kích cầu thì phát hành trái phiếu
chính phủ. Phát hành thêm trái phiếu chính phủ thì giá trái phiếu chính phủ
giảm, thể hiện qua việc chính phủ phải nâng lãi suất trái phiếu thì mới huy
động được người mua. Lãi suất trái phiếu tăng thì lãi suất chung của nền kinh
tế cũng tăng. Điều này tác động tiêu cực đến động cơ đầu tư của khu vực tư
nhân, khiến họ giảm đầu tư. Nó còn tác động tích cực đến động cơ tiết kiệm
của người tiêu dùng, dẫn tới giảm tiêu dùng. Nó còn làm cho lãi suất trong
nước tăng tương đối so với lãi suất nước ngoài, dẫn tới luồng tiền từ nước
ngoài đổ vào trong nước khiến cho tỷ giá hối đoái tăng làm giảm xuất khẩu
ròng. Tóm lại, phát hành trái phiếu tuy có làm tăng tổng cầu, song mức tăng
không lớn vì có những tác động phụ làm giảm tổng cầu.
- Nếu coi việc nắm giữ trái phiếu chính phủ là một hình thức nắm giữ tài sản thì
khi chính phủ tăng phát hành trái phiếu sẽ đồng thời phải tăng lãi suất, người
nắm giữ tài sản thấy mình trở nên giàu có hơn và tiêu dùng nhiều hơn. Tổng
cầu nhận được tác động tích cực từ việc tăng chi tiêu chính phủ (nhờ phát
hành công trái) và tăng tiêu dùng nói trên. Tuy nhiên, tăng tiêu dùng dẫn tới
tăng lượng cầu tiền. Điều này gây ra áp lực lạm phát, vì thế tác động tiêu cực
tới tốc độ tăng trưởng thực (bằng tốc độ tăng trưởng danh nghĩa trừ tỷ lệ lạm
phát).

III. MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ NỢ CÔNG:

phát
Những thành tố trên đã làm sáng tỏ một số vấn đề chủ yếu của LPMT là: khuôn
khổ này không chỉ có việc công bố rộng rãi những mục tiêu về lạm phát bằng các
con số cho năm tiếp theo - vấn đề rất quan trọng trong bối cảnh của các quốc gia
thị trường mới nổi. Theo định kì, nhiều quốc gia thường thông báo các con số về
mục tiêu lạm phát trong kế hoạch kinh tế của chính phủ trong năm tiếp theo
nhưng không nên phân loại các nước này thuộc nhóm LPMT, vì khuôn khổ
LPMT còn đòi hỏi phải bao gồm 4 thành tố khác để nó có thể trụ vững trong thời
kì trung hạn
Một khuôn khổ LPMT được vận hành đúng có thể là một công cụ có tác động mạnh
mẽ để giúp tăng cường sự ổn định KTVM tại các quốc gia thị trường mới nổi
Tại sao nền kinh tế thị trường mới nổi lại khác biệt so với các nền kinh tế tiên tiến?
Đề tài 10: Mối quan hệ giữa LPMT và nợ công Nhóm 15

GVHD: Trương Minh Tuấn
10Vì:
- Thể chế tài khóa yếu kém
- Thể chế tài chính yếu kém, bao gồm cả những quy định của chính phủ về
giám sát và bảo đảm an toàn
- Thể chế tiền tệ với uy tín thấp
- Tồn tại vấn đề thay thế tiền tệ và đô la hóa tài sản nợ
- Thể chế tiền tệ với uy tín thấp
- Dễ bị tổn thương khi luồng vốn đột ngột chảy ra (rút vốn bất ngờ)
Hiện tượng thay thế tiền tệ:
Các nước tiên tiến không phải là không gặp những vấn đề về thể chế tài khóa, tài
chính và tiền tệ (3 vấn đề đầu tiên nêu ở trên), nhưng có sự khác biệt lớn về mức độ
nghiêm trọng của vấn đề ở các quốc gia thị trường mới nổi. Sự yếu kém của thể chế

mạnh hoạt động cho vay và trong toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy, đô la hóa tài sản Nợ
có thể trở thành một vấn đề lớn đối với những nền kinh tế khá đóng cửa và có mức
độ nợ cao. Tuy nhiên không phải tất cả các quốc gia thị trường mới nổi đều phải
chịu sự tác động của hiện tượng đô la hóa tài sản nợ.
Hiện tượng rút vốn bất ngờ:
Một vấn đề có tác động mạnh ở các quốc gia thị trường mới nổi, đó là hiện tượng rút
vốn bất ngờ (khi luồng vốn vào là âm với số lượng lớn- vốn đột ngột chảy mạnh ra
nước ngoài), trong khi đó phần lớn vốn chảy ra không dự báo trước được. hiện
tượng này xảy ra với các quốc gia thị trường mới nổi. Vì các thể chế tài khóa, tài
chính của các quốc gia này thường yếu, hơn nữa chỉ gần đây các vấn đề này mới
được đưa ra nghiên cứu thực nghiệm một cách có hệ thống. Ở các quốc gia thị
trường mới nổi hiện tượng rút vốn bất ngờ có nhiều khả năng xảy ra. Hiện tượng này
là hệ quả của các yếu tố bên ngoài tác động đến các quốc gia thị trường mới nổi, có
thể phát sinh từ khủng hoảng từ các quốc gia này, nhưng sự lan truyền qua các quốc
gia thị trường mới nổi khác lại xuất phát từ sự khó khăn xảy ra ngoài các quốc gia
này đặc biệt là sự khó khăn ở các trung tâm tài chính thế giới. Cơ chế lan truyền bắt
đầu từ sự thiếu hụt thanh khoản ở một trung tâm tài chính do số dư trên tài khoản
của các thành viên ở mức thấp hơn so với yêu cầu sau khi họ mất vốn mà không dự
kiên trước được. Từ đó dẫn đến việc trung tâm tài chính bán tống bán tháo chứng
khoán của các thị trường mới nổi với giá thấp, hoặc không tham gia vào các cuộc
đấu giá những công cụ nợ mới do các quốc gia thị trường mới nổi phát hành, cơ chế
này có thể giải thích cho những tác động xấu và mạnh của cuộc khủng hoảng ở các
quốc gia thị trường mới nổi.
Tác động của hiện tượng rút vốn bất ngờ đến tứng quốc gia là không giống nhau, tác
động của luồng vốn thay đổi đột ngột đến mỗi quốc gia cũng khác nhau, phụ thuộc
nhiều vào những điều kiện ban đầu. Vấn đề nợ nần và sự mất cân đối về đồng tiền
dường như đóng vai trò cốt yếu gây ra mức độ của khủng hoảng.
Ổn định tài khóa là điều kiện cần thiết mang tính nền tảng để kiểm soát lạm phát
cũng như đảm bảo cho sự vận hành của LPMT. Chính sách tài khóa tắc trách sẽ làm
tăng áp lực đối với các cơ quan tiền tệ trong việc tài trợ để trả nợ, bởi vậy sẽ làm

chính và ngân hàng từ đó có thể xóa bỏ bất kì cơ chế tiền tệ nào được sử dụng để
kiểm soát lạm phát. Tình trạng thâm hụt lớn của một ngân sách buộc chính phủ phải
tịch thu tài sản đặc biệt là tài sản trong hệ thông ngân hàng. Do sự nghi ngờ này có
thể xảy ra nên những người gửi tiền và các chủ nợ của ngân hàng đã rút vốn ra khỏi
hệ thông ngân hàng: một cuộc khủng hoảng ngân hàng xảy ra và làm giảm hoạt
động cho vay cũng như làm suy giảm các hoạt động kinh tế, tất nhiên những khó
khăn đối với việc kiểm soát lạm phát nảy sinh từ sự mất cân đối tài khóa và khu vực
tài chính, không phải chỉ xảy ra đối với các quốc gia thị trường mới nổi mà cũng là
mối quan ngại của các nước có nền kinh tế tiên tiến. Tuy nhiên đối với các quốc gia
thị trường mới nổi những vấn đề tỏ ra nghiêm trọng hơn nên cần được xem xét ngay
từ đầu nếu muốn có một cơ chế LPMT có đủ khả năng kiểm soát lạm phát. Cải cách
về thể chế tài khóa nhằm tăng cường tính minh bạch của ngân sách chính phủ, tăng
Đề tài 10: Mối quan hệ giữa LPMT và nợ công Nhóm 15

GVHD: Trương Minh Tuấn
13cường các nguyên tắc về ngân sách để giữ cho thâm hụt ngân sách ở mức độ có thể
kiểm soát được - là cần thiết để ngăn chặn sự mất cân đối về tài khóa mà có thể dẫn
đến sự sụp đổ của cơ chế LPMT.
Để ngăn chặn sự mất ổn định về tài chính, cần thực hiện một số cải cách về thể chế:
- Các quy đinh về bảo đảm an toàn trong hệ thống tài chính, ngân hàng phải
được tăng cường
- Hạn chế mạng lưới trợ giúp của chính phủ, của các tổ chức tài chính quốc tế
nhằm hạn chế những động cơ phát sinh rủi ro đạo đức và biểu hiện ở đây là
các ngân hàng quá mạo hiểm và đứng trước quá nhiều rủi ro rong hoạt động
của mình.
- Sự mất cân đối về đồng tiền cần được hạn chế để khi đồng nộ tệ bị phá giá thì
hiện tượng này không bị làm cho giá trị ròng của tài sản doanh nghiệp suy

kiện tiên quyết cho việc hình thành cơ chế LPMT ở các quốc gia thị trường mới nổi.
Do cơ chế LPMT sẽ gắn chính phủ với mục tiêu duy trì lạm phát ở mức thấp nên có
một số lý luận cho rằng cơ chế LPMTcó thể giúp tăng cường quá trình cải cách tài
khóa và tài chính bởi vì với cơ chế này chính phủ phải hỗ trợ cho quá trình cải cách
đó nếu họ muốn có một cơ chế LPMT thành công. Hơn nữa, với cam kết kiểm soát
lạm phát, sẽ khó khăn hơn cho chính phủ nếu họ muốn thực hiện chính sách tài khóa
nới lỏng- điều này trái ngược với mục tiêu về lạm phát. Tuy nhiên một cơ chế
LPMT không phải là phương tiện đảm bảo cho sự thành công của các cuộc cải cách
tài khóa và tài chính.
Cơ chế LPMT có thể là một công cụ hữu hiệu trong việc quản lý CSTT ở các quốc
gia thị trường mới nổi. Tuy nhiên để đảm bảo cơ chế này mang lại những thành quả
KTVM tốt thì các quốc gia thị trường mới nổi cần tập trung hơn nữa vào việc phát
triển các thể chế, trong khi đó IMF có thể trợ giúp bằng việc tạo ra những cơ chế
khuyến khích để các quốc gia này quyết tâm hơn trong quá trình phát triển các thể
chế tài khóa, tài chính và tiền tệ của mình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status