tiểu luận tài chính tiền tệ phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái - Pdf 19

Lý thuyết Tài chính – tiền tệ GVHD: Trương Minh Tuấn
1

Tiểu luận

Phân tích mối quan hệ giữa lạm
phát và tỷ giá hối đoái

Lý thuyết Tài chính – tiền tệ GVHD: Trương Minh Tuấn
2 LỜI MỞ ĐẦU

Cơ chế thị trường đã rung lên hồi chuông cảnh báo bao sự thay đổi của
nền kinh tế Việt Nam trong những thập niên gần đây. Trong nền kinh tế thị
trường hoạt động đầy sôi nổi và cạnh tranh gay gắt, để thu được lợi nhuận cao
và đứng vững trên thương trường, các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp
phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề mới của nền kinh tế mới. Bên
cạnh bao vấn đề cần có để kinh doanh còn là những vấn đề nổi cộm khác trong
nền kinh tế. Điển hình là diễn biến của hai chỉ số lạm phát và tỷ giá hối đoái
Liệu rằng giữa hai biến số kinh tế này có mối liên hệ, tác động, ảnh hưởng qua
lại như thế nào. Tất cả những vấn đề đó đã thôi thúc chúng em đi vào “Phân
tích mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái”
Do trình độ và thời gian có hạn, trong quá trình nghiên cứu đề tài chắc
chắn còn nhiều thiếu sót, chúng em kính mong sự góp ý chân thành của Thầy cô
để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!


Lý thuyết Tài chính – tiền tệ GVHD: Trương Minh Tuấn
4

I. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI.
1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài:
Lạm phát và tỷ giá hối đoái là hai biến số kinh tế quan trọng của không
chỉ của một quốc gia nào. Lịch sử đã chứng minh sự ảnh hưởng mạnh mẽ của
chúng đến sự phát triển kinh tế thế giới. Không những lạm phát và tỷ giá hối
đoái có thể tác động đến mọi hoạt động kinh tế mà chúng còn chịu sự tác động
qua lại lẫn nhau. Sự tác động này làm cho diễn biến của chúng ngày càng biểu
hiện khó lường, gây khó khăn cho công tác kiểm soát vĩ mô nền kinh tế của
Chính Phủ.
Trước tình hình thế giới có nhiều thay đổi như hiện nay thì vấn đề ổn
định nền kinh tế luôn là mục tiêu cấp thiết hàng đầu của các quốc gia. Bởi vậy,
nắm bắt được quy luật về mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái sẽ giúp
cho chính phủ các nước có những chính sách kinh tế phù hợp, tạo nên một sự
phát triển kinh tế ổn định và tích cực hơn.
II. MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI.
2.1. Một số khái niệm định nghĩa cơ bản:
2.1.1. Lạm phát:
2.1.1.1. Khái niệm về lạm phát:
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát.
- Nhà kinh tế học Samuelson cho rằng: lạm phát biểu thị sự tăng lên trong
mức giá cả chung. Theo ông thì lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi
phí tăng- giá bánh mì, dầu xăng, xe ô tô tăng, tiền lương, giá đất, tiền thuê tư
liệu sản xuất tăng.
-Milton Friedman cho rằng: lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo
dài.Còn Mác viết trong bộ tư bản rằng: lạm phát là việc tràn đầy các kênh, các
luồng lưu thông các tờ giấy bạc thừa dẫn đến giá cả tăng vọt. Ông cho rằng lạm

6

Đồ thị dưới sẽ minh họa cho 2 trường hợp trên. Hình 2.1. Mô hình tổng cung và tổng cầu
- Lạm phát do cung tiền tăng: Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng
trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền ngoại tệ khỏi mất giá so với
trong nước; hay chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu
của nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây
ra lạm phát.
- Lạm phát do dự kiến: lạm phát do dự kiến là tỷ lệ lạm phát hiện tại mà
mọi người dự kiến nó sẽ tiếp tục trong tương lai. Tỷ lệ này thường được đưa vào
các hợp đồng kinh tế, các kế hoạch hay các thoả thuận khác. Và chính vì mọi
người đều đưa tỷ lệ lạm phát vào các hoạt động của mình nên cuối cùng nó trở
thành hiện thực. Một ví dụ cụ thể của hiện tượng lạm phát do quán tính là khi
nền kinh tế có lạm phát cao, mọi người có xu hướng chỉ giữ lại một lượng tiền
mặt tối thiểu để chi tiêu hàng ngày, họ đem tiền đổi lấy các loại tiền mạnh khác, P

AD
0

y
*
y
0
y

P
0

P
1
P

ASSL
ASLRASSR
1
Lạm phát cầu kéo Lạm phát chi phí đẩy
Lý thuyết Tài chính – tiền tệ GVHD: Trương Minh Tuấn
7

vàng hay các loại hàng hóa để tích trữ giá trị, làm tăng lượng tiền lưu thông trên
thị trường, càng làm đồng tiền mất giá và tăng lạm phát.
Ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác liên quan đến xuất nhập khẩu,
do thiên tai…
2.1.1.3. Ảnh hưởng của lạm phát đến nền kinh tế:
Lạm phát có lợi không và nó có thể gây ra những tác động gì tới nền kinh
tế? Có thể nói lạm phát tác động đến từng cá nhân, từng doanh nghiệp và cả
chính phủ. Lạm phát có thể làm sụp đổ cả một nền kinh thế vững mạnh cũng
như có thể giúp cho một nền kinh tế đi lên nếu biết cách kiềm chế và giữ cho nó
ở mức ổn định. Nói chung lạm phát có cả điểm mạnh và điểm yếu.
- Ảnh hưởng tích cực: lạm phát ở mức độ vừa phải có tác động tích cực
đến sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Khi lạm phát vừa phải xảy ra nó làm
cho đồng nội tệ mất giá nhẹ so với đồng ngoại tệ. Đây là một lợi thế để các

Tỷ giá hối đoái (thường được gọi tắt là tỷ giá) là sự so sánh về mặt giá cả
giữa hai đồng tiền của hai nước khác nhau. Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái là giá
của một đồng tiền này tính bằng giá của một đồng tiền khác.
2.1.2.2 Các loại tỷ giá hối đoái :
- Tỷ giá thả nổi
Chế độ tỷ giá thả nổi hay còn gọi là chế độ tỷ giá linh hoạt là một chế độ
trong đó giá trị của một đồng tiền được phép dao động trên thị trường ngoại hối.
Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi được gọi là một đồng tiền thả nổi.
Nói chung, các nhà kinh tế đều cho rằng, trong phần lớn trường hợp, chế
độ tỷ giá thả nổi tốt hơn chế độ tỷ giá cố định bởi vì tỷ giá thả nổi nhạy với thị
trường ngoại hối. Điều này cho phép làm dịu tác động của các cú sốc và chu kỳ
kinh doanh nước ngoài. Thêm vào đó, nó không bóp méo các hoạt động kinh tế.
- Tỷ giá cố định
Mặc dù việc thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi sẽ hạn chế khả năng
của chính phủ trong vận hành một chính sách tiền tệ nội địa độc lập nhằm duy
Lý thuyết Tài chính – tiền tệ GVHD: Trương Minh Tuấn
9

trì ổn định kinh tế trong nước, song trong thực tế, nhiều chính phủ vẫn thích chế
độ tỷ giá hối đoái cố định bởi nó tạo ra sự ổn định. Trong lịch sử, từ sau Chiến
tranh Thế giới thứ hai đã từng tồn tại hệ thống Bretton Woods cho phép Tây Âu
và Nhật Bản có được tỷ giá cố định so với dollar Mỹ cho đến tận năm 1970. Gần
đây, Trung Quốc, Hong Kong và Malaysia đã rất thành công trong việc duy trì
tỷ giá hối đoái cố định để giữ ổn định kinh tế trong nước. Đồng euro hiện nay
cũng có thể được xem là một chế độ tỷ giá hối đoái cố định giữa các quốc gia
châu Âu tham gia.
Nhiều quan điểm cho rằng tỷ giá hối đoái cố định quá cứng nhắc nên che
mất những thông tin cần thiết cho thị trường hoạt động đúng hướng. Đó là vì
đồng tiền không còn thể hiện giá trị thị trường thực của chúng. Sự che đậy thông
tin nào tạo ra tính không chắc chắn, kích thích các kẻ đầu cơ "tấn công" các


Sự can thiệp của chính phủ.
o
Can thiệp vào thương mại quốc tế.
o
Can thiệp vào đầu tư quốc tế.
o
Can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối.

Các nhân tố khác: Khủng hoảng kinh tế, xã hội, đình công, thiên tai
2.1.2.4 Tác động lên các ngành kinh tế
- Việc điều chỉnh tỷ giá sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp có
các khoản nợ nước ngoài khi phải thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tỷ giá cuối
năm, trong đó có các doanh nghiệp ngành dịch vụ công cộng, xi măng, vận tải
biển và dầu khí. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp ngành dầu khí và vận tải
biển, có nguồn thu ngoại tệ trực tiếp từ việc bán sản phẩm, cung cấp dịch vụ đầu
ra thì cũng đồng thời được hưởng lợi từ việc thay đổi tỷ giá
- Các doanh nghiệp thuộc một số nhóm ngành như vật liệu cơ bản (thép,
nhựa), hàng tiêu dùng (sữa, bánh kẹo), công nghiệp (hóa chất, vận tải kinh
doanh xăng dầu) và dược phẩm phải nhập khẩu phần lớn nguyên vật liệu từ
nước ngoài và chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước cũng chịu tác động từ việc
thay đổi tỷ giá khi chi phí đầu vào gia tăng sẽ phải giải bài toán cân đối giá bán
sản phẩm đầu ra sao cho vừa bù đắp được chi phí đầu vào lại vừa đảm bảo giữ
được thị phần vàdoanhthu.
Lý thuyết Tài chính – tiền tệ GVHD: Trương Minh Tuấn
11

- Trong đó các ngành thủy sản, may mặc, cao su và khoáng sản, các doanh
nghiệp xuất khẩu có nguồn thu ngoại tệ trực tiếp và có kết hợp sử dụng nguồn
nguyên liệu trong nước sẽ được hưởng lợi từ việc điều chỉnh tỷ giá. Điều này


Qua sơ đồ, tỷ giá tác động gián tiếp đến lạm phát chủ yếu thông qua các
con đường như xuất khẩu ròng, cán cân thanh toán, giá hàng hóa nhập khẩu và
đây đều là các mối quan hệ đồng biến. Tuy nhiên, việc tác động của tỷ giá đến
lạm phát thông qua cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế thì mọi
nền kinh tế mở đều tuân theo, nhưng riêng với giá hàng nhập khẩu thì chỉ có
những quốc gia có tỷ trọng nhập khẩu cao so với GDP mới có tác dụng rõ rệt.
- Kênh thứ nhất: Tác động của tỷ giá tới lạm phát qua xuất nhập khẩu
ròng đó là khi đồng nội tệ giảm giá so với đồng tiền nước ngoài, xuất khẩu ròng
tăng lên, cán cân thương mại có thể được cải thiện; do xuất khẩu ròng là một
thành phần của tổng cầu AD, nên khi xuất khẩu ròng tăng, đường AD dịch
chuyển lên trên (trong mô hình AD-AS), tác động làm lạm phát gia tăng.
- Kênh thứ hai: Tác động của tỷ giá tới lạm phát qua cán cân thanh toán.
Cơ chế truyền dẫn này trải qua hai giai đoạn:
Khi tỷ giá tăng, xuất nhập khẩu ròng sẽ tăng lên, góp phần cải thiện tình
trạng cán cân thương mại. Mặt khác khi xuất nhập khẩu ròng tăng, đường IS
dịch chuyển sang phải (mô hình IS-LM), lãi suất trong nước tăng lên, trong ngắn
hạn luồng vốn đổ vào trong nước tăng (nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp)
làm cán cân vốn tăng lên, từ đó cán cân thanh toán tổng thể được cải thiện.
Lý thuyết Tài chính – tiền tệ GVHD: Trương Minh Tuấn
13

Khi cán cân thanh toán tổng thể thặng dư, tức là luồng vốn nước ngoài đổ
vào trong nước tăng lên, lúc này sẽ có hai khả năng xảy ra: (1) NHTW sẽ phải

vọng về lạm phát do cơ sở để xác định lãi suất huy động là kỳ vọng trung bình
Lý thuyết Tài chính – tiền tệ GVHD: Trương Minh Tuấn
14

của nhà đầu tư về lạm phát và lãi suất thực dương. Việc điều chỉnh tỷ giá liên
tục của NHTW có thể khiến cho lãi suất huy động đồng nội tệ tăng cao. Điều
này sẽ làm giảm lòng tin của dân chúng và nhà đầu tư khi có sự kỳ vọng về giảm
giá đồng nội tệ trong tương lai, gây ra vòng xoáy “lạm phát- tỷ giá”.
Ghi chú :
1
Thông qua phương trình trao đổi tiền hàng của Fisher: M.V=P.Y,
trong đó: M là mức cung tiền, V là vòng quay tiền tệ, P là mức giá, Y là sản
lượng. Khi M tăng, các yếu tố khác không đổi sẽ làm cho P tăng tức là lạm phát
tăng lên
2
Ở đây chỉ nghiên cứu tác động của tỷ giá đến lạm phát trong nước,
không xem xét tác động của giá hàng hóa thế giới đến lạm phát trong nước
 Các yếu tố ảnh hưởng tới các kênh tác động từ tỷ giá tới lạm phát
Thứ nhất, cơ chế điều hành lãi suất: Nếu lãi suất do nhà nước ấn định
hoặc chịu sự can thiệp mang tính chất hành chính sẽ không phản ánh đúng bản
chất của lãi suất là giá cả của quyền sử dụng vốn trên thị trường. Như vậy, xem
xét kênh dẫn truyền thứ hai, khi đường IS dịch chuyển làm lãi suất tăng lên
trong ngắn hạn, nhưng NHTW lại ấn định lãi suất (không làm thay đổi mức lãi
suất trên thị trường) nên không thể thu hút các dòng vốn nước ngoài đổ vào
trong nước, như vậy sẽ không cải thiện được cán cân vốn và từ đó, không cải
thiện được cán cân tổng thể.
Thứ hai, mức độ di chuyển vốn quốc tế thể hiện khả năng thay thế cho
nhau giữa tài sản trong nước và tài sản nước ngoài. Mức độ di chuyển vốn hoàn
hảo khi tài sản trong nước và tài sản nước ngoài có thể hoàn toàn thay thế cho
nhau với chi phí thấp và nhanh chóng. Mức độ di chuyển vốn không hoàn

qua cho thấy, lạm phát luôn là vấn đề đối với nền kinh tế Việt Nam, việc xem
xét sự biến động của lạm phát và các nhân tố quyết định lạm phát luôn được các
nhà nghiên cứu kinh tế trong và ngoài nước quan tâm. Trên thực tế, lạm phát
luôn luôn thường trực và gây ra những tổn hại nhất định đối với nền kinh tế Việt
Nam.
Lý thuyết Tài chính – tiền tệ GVHD: Trương Minh Tuấn
16

Trong giai đoạn từ 1980 đến 1990, khi bắt đầu quá trình cải cách, Việt
Nam đã trải qua giai đoạn siêu lạm phát, sau đó chỉ có giai đoạn 1999- 2003 là
lạm phát được duy trì ở mức độ thấp < 5% và ổn định. Sau giai đoạn này, lạm
phát lại tiếp tục gia tăng và biến động khó lường, mức biến động cũng cao hơn
so với các quốc gia trong khu vực.
Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á đã ảnh hưởng tới nhiều nước và hệ
quả của nó là giá cả thế giới và tổng cầu
3
giảm mạnh. Chính vì vậy, giai đoạn
1999-2003 là một giai đoạn Việt Nam có tỷ lệ lạm phát thấp, và riêng năm 2000
còn rơi vào tình trạng giảm phát nhẹ mặc dù trong suốt giai đoạn này cung tiền
và tốc tộ tăng trưởng tín dụng tăng khá cao (khoảng 30-40%/năm) và VND
phá giá mạnh (khoảng 36%) trong giai đoạn 1997-2003. Tuy nhiên, để đánh
giá tác động của tỷ giá đến diễn biến lạm phát Việt Nam giai đoạn 1997-
2011 là một vấn đề rất khó khăn.
Đồ thị 1 cho thấy, từ năm 1997 đến 1999, lạm phát có xu hướng
giảm, tuy nhiên, từ đầu năm 1998 đến 1999, tỷ giá tăng mạnh do đồng VND bị
giảm giá mạnh. Nhiều nhà nghiên cứu nhận định rằng, sự ổn định tỷ giá đóng
vai trò quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, đối với Việt Nam
trong giai đoạn 1997-1999, lạm phát được kiềm chế do tác động của ổn định
tỷ giá không nhiều mà chủ yếu là do kết quả của nhiều giải pháp chính sách
khác, đó là: (1) Không phát hành tiền cho bội chi ngân sách và không cung ứng

2004, nguyên nhân của đợt lạm phát này do: (1) Tác động của việc tăng cung
ứng tiền và tốc độ tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế khá cao diễn ra trong
giai đoạn trước đó; (2) các tác động tiêu cực đối với tăng trưởng của cuộc khủng
hoảng giảm, tổng cầu tăng lên sau giai đoạn khủng hoảng cùng với sự tăng lên
của tiền lương danh nghĩa ở các khu vực kinh tế trong năm 2003 khiến cho giá
cả tăng lên; (3) do những biến động của thế giới tác động làm cho giá cả một số
mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam tăng mạnh như giá xăng dầu, sắt thép… kết
hợp với thiên tai dịch bệnh của năm 2003 đã tạo nên các cú sốc cung là những
nguyên nhân gây ra lạm phát quay trở lại vào giai đoạn này.
Lý thuyết Tài chính – tiền tệ GVHD: Trương Minh Tuấn
18

Đồ thị 2. Mức tăng lạm phát, tổng phương tiện thanh toán, tín dụng của Việt
Nam (1997-2011)

Trước diễn biến lạm phát tăng cao năm 2004, NHNN thực hiện chính
sách tiền tệ thắt chặt khiến cho lãi suất tăng lên, đồng thời duy trì sự ổn định của
tỷ giá nhằm kiềm chế lạm phát từ năm 2004. Rất nhiều biện pháp đã được Chính
phủ và NHNN kết hợp sử dụng, nhưng lạm phát vẫn ở mức cao kể từ 2005 cho
đến năm 2011. Có nhiều lý do để giải thích sự gia tăng lạm phát của giai đoạn
này. Các lý do chủ yếu nhất là trong giai đoạn này có sự gia tăng mạnh của tiền

Chính sự mất giá của VND so với USD đã làm cho hàng hóa nhập khẩu
trở nên đắt đỏ hơn, trong khi tính từ năm 2000 đến nay, nhập khẩu của Việt
Nam liên tục tăng. Điều này khiến cho chi phí sản xuất của các doanh nghiệp
tăng, kéo theo giá thành sản phẩm tăng. Theo các cơ quan kiểm toán cho biết,
báo cáo tài chính của các doanh nghiệp thể hiện khoản mục chi phí do tăng tỷ
giá tăng đột biến vào năm 2008. Vậy tại sao giai đoạn 2006 đến 2010 việc
điều hành tỷ giá của NHNN lại góp phần làm gia tăng lạm phát ở Việt Nam?
Điều này có thể được lý giải như sau: Sức mua của VND năm 2009 giảm
53,2% so với năm 2005 (chỉ số CPI năm 2005 là 100 thì năm 2009 là 153,2%).
Trong cùng khoảng thời gian này, đồng USD giảm giá 13%, đồng CNY giảm
11,4% (tương ứng năm CPI năm 2005 là 100 thì năm 2009 CPI của Mỹ là 113,
Lý thuyết Tài chính – tiền tệ GVHD: Trương Minh Tuấn
20

của Trung Quốc là 111,4). Theo nguyên lý cân bằng sức mua (E = P1/P2), tỷ
giá thực của VND giảm tương ứng 35,5% so với USD và 37,5% so với CNY.
Tuy nhiên, cho đến cuối năm 2009 tỷ giá danh nghĩa của VND (tỷ giá liên
ngân hàng do NHNN công bố) so với USD chỉ tăng 8% (từ mức USD/VND là
15.819 lên 17.069). Như vậy, còn một khoảng cách khá lớn giữa diễn biến tỷ
giá danh nghĩa và tỷ giá thực của VND, dẫn đến đồng VND bị định giá cao
đã gây bất lợi cho xuất khẩu, tăng nhập khẩu, cán cân thương mại thâm hụt là
yếu tố tạo ra sự mất ổn định về kinh tế vĩ mô.
So sánh với một số quốc gia khác cho thấy, trong khi một số nước như
Trung Quốc, Thái Lan đã chấp nhận “đánh đổi” mục tiêu tỷ giá, để cho đồng
tiền của họ lên giá so với USD nhằm thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, do
đó duy trì được tỷ lệ lạm phát thấp ở mức 1 con số (Bảng 1) Lý thuyết Tài chính – tiền tệ GVHD: Trương Minh Tuấn
21

22

Bảng 2. Tỷ giá danh nghĩa và cán cân thanh toán của Việt Nam (1998-2011) Bảng 2 cho thấy, tỷ giá danh nghĩa tăng qua các năm nhưng không cùng
chiều với sự biến động của cán cân thanh toán tổng thể. Tuy nhiên, với giai đoạn
2004-2007 có thể thấy rằng, chính sách duy trì tỷ giá ổn định (NHNN cam
kết tỷ giá biến động không quá 1%) cùng với việc hội nhập đã dẫn đến cán cân
tổng thể thặng dư ngày càng tăng. Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng năm
2008 nên xảy ra hiện tượng các dòng vốn đảo chiều vào 2009.
Qua Biểu đồ 3 cho thấy, diễn biến của lạm phát cùng xu hướng với diễn
biến của cán cân tổng thể, đặc biệt là giai đoạn từ 2003 đến 2011. Do Việt Nam
là một quốc gia có tỷ trọng nhập khẩu cao, đặc biệt là trong những năm gần đây,
tỷ trọng nhập khẩu/GDP trung bình của giai đoạn 2000-2010 là 75,98% GDP
4
.
Lý thuyết Tài chính – tiền tệ GVHD: Trương Minh Tuấn

định thị trường tiền tệ và giá trị đồng VND, nhưng kết quả là lạm phát ở Việt
Nam vẫn ở mức cao và không ổn định. Vì vậy, trong thời gian tới việc điều hành
chính sách tỷ giá phải được NHNN tính toán kỹ các tác động giữa tỷ giá và lạm
Lý thuyết Tài chính – tiền tệ GVHD: Trương Minh Tuấn
24

phát để góp phần kiềm chế lạm phát nhằm đạt mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô
mà Chính phủ đã đề ra.
2.3.2 Lạm phát tác động tới tỷ giá:
Khi một nước có lạm phát, sức mua đồng nội tệ giảm, với tỷ giá hối đoái
không đổi, hàng hoá dịch vụ trong nước đắt hơn trên thị trường nứơc ngoài
trong khi hàng hoá dịch vụ nước ngoài rẻ hơn trên thị trường trong nứơc. Theo
quy luật cung cầu, cư dân trong nước sẽ chuyển sang dùng hàng ngoại nhiều hơn
vì giá rẻ hơn, nhập khẩu tăng, cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng. Tương tự
vì tăng giá, cư dân nước ngoài sẽ dùng ít hàng nhập khẩu hơn. Hoạt động xuất
khẩu giảm sút, cung ngoại tệ trên thị trường giảm, tỷ giá hối đoái tăng. Như vậy
lạm phát ảnh hưởng đến cả cung và cầu ngoại tệ theo hướng tăng giá ngoại tệ,
tác động cộng gộp làm cho tỷ giá hối đoái tăng nhanh hơn. Trên thị trưòng tiền
tệ, lạm phát làm đồng tiền mất giá, người dân sẽ chuyển sang nắm giữ các tài
sản nước ngoài nhiều hơn, cầu ngoại tệ gia tăng đẩy tỷ giá hối đoái tăng. Trong
trường hợp các quốc gia đều có lạm phát thì những tác động trên sẽ phụ thuộc
vào tỷ lệ lạm phát tương đối giữa các quốc gia. Quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát
cao hơn, đồng nội tệ quốc gia đó sẽ mất giá một cách tương đối và tỷ giá hối
đoái tăng.
2.4. Các bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá
hối đoái
- Ilan Goldfajn và Sergio R.C. Werlang (1998) trong một nghiên cứu thực
nghiệm về Cơ chế truyền dẫn từ sự sụt giảm tỷ giá đến lạm phát theo khung dữ
liệu bảng đã thấy rằng có mối quan hệ giữa sự sụt giảm tỷ giá hối đoái và lạm
phát. Bài nghiên cứu của 2 tác giả này sử dụng số liệu thu thập từ 71 quốc gia

chỉ số giá tiêu dùng (CPI – Costumer Price Index) là thấp. Điều này hàm ý rằng
tỷ giá hối đoái tác động không lớn tới lạm phát của các quốc gia Châu Á trong
giai đoạn khủng hoảng;
- Michele Ca’ Zorzi, Elke Hahn vàMarcelo Sánchez (2007) thực hiện
nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn từ tỷ giá hối đoái trong các nền kinh tế mới nổi
(Exchange rate pass through in emerging market). Tác giả kiểm định trong 12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status