TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KẾ TOÁN
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI 1: TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
GVHD : TRƯƠNG MINH TUẤN
LỚP : VB15KT002
THỰC HIỆN : NHÓM 1 STT
CHỮ KÍ
Nguyễn Thị Hằng 31
Đào Thị Thúy Nga 79
Quách Tú Quyên 110
Mai Thị Minh Thư 133
Khâu Thị Phương Uyên 152
Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng GVHD: Trương Minh Tuấn
Tháng 11 năm 2012
LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng và lạm phát luôn là những chỉ tiêu vô cùng quan trọng trong
các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và dành được sự quan tâm hàng đầu của các nhà quản
lý, nhà hoạch định cũng như công chúng. Không những thế tăng trưởng và lạm
phát còn được xem là những đề tài hấp dẫn và mới mẻ trong nghiên cứu kinh tế
đặc biệt là trong nền kinh tế hiện đại. Dù bạn là ai đi nữa thì hàng ngày, hàng
giờ, tăng trưởng và lạm phát đều đang ảnh hưởng đến đời sống của bạn. Tăng
trưởng có thể giúp bạn trở nên giàu có thì lạm phát chính là “kẻ móc túi” vô
hình luôn thường trực bên bạn.
Mối liên hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế là vấn đề thu hút được sự
quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế. Trong thời gian gần đây, kinh tế thế
giới có nhiều biến động, đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, làm
giảm tốc độ tăng trưởng và khiến lạm phát tăng cao ở nhiều nước, trong đó có
(20%,100%,200% ) một năm.
Siêu lạm phát: hiện tương cực hiếm chỉ xảy ra vào thời kỳ chiến tranh hay
chuyển đổi cơ chế kinh tế, tốc độ gia tăng giá vượt xa mức lạm phát phi mă và
cùng không ổn định. Đă từng có những siêu lạm phát mà tốc độ mất giá của tiền
cũng như tăng giá hàng năm ở 8-10 chữ số không trong một năm.
1.2.2. Căn cứ vào nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát
Lạm phát cầu dư thừa tổng quát .
Lạm phát chi phí đẩy.
Lạm phát cơ cấu.
Lạm phát nhập khẩu.
Thực hiện: Nhóm 1 3
Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng GVHD: Trương Minh Tuấn
1.2.3. Căn cứ vào tính chủ động, bị động của chính phủ đối phó với lạm
phát
Lạm phát cân bằng và có thể dự đoán trước: là lạm phát mà toàn bộ giá cả
các hàng hoá dịch vụ đều tăng với chỉ số ổn định trong sự chờ đợi có tính mặc
nhiên, có thể dự báo được và mọi tinh toán thu nhập cũng tăng theo tương ứng.
Lạm phát không cân bằng và không dự báo trước được: là loại lạm phát mà
giá cả các hàng hoá dịch vụ tăng không đều nhau và nhà nước không dự báo
cũng như không chủ động điều tiết được. Đây là hiện tượng phổ biến nhất ở các
nước đang phát triển.
1.2.4. Căn cứ vào quá trình bộc lộ hiện hình lạm phát người ta phân biệt:
Lạm phát ngầm: là lạm phát đang ở giai đoạn ẩn náu, tiềm ẩn bị kiềm chế
về tốc độ tăng giá hoặc biểu hiện ở dạng giá cả không tăng nhưng sự khan hiếm
hàng hoá hoặc giảm chất lượng hàng hoá và dịch vụ cung cấp.
Lạm phát công khai: có sự biểu hiện tăng phổ biến giá cả hàng háo, dịch vụ
rõ rệt trên thị trường
1.3. Nguyên nhân gây ra lạm phát:
Chính phủ phát hành lượng tiền quá lớn để bù đắp bội chi ngân sách.
Chính phủ tăng chi tiêu đầu tư để cứu vãng khủng hoảng kinh tế.
điều lạm phát ở mức độ thấp.
Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm
Trong điều kiện nền kinh tế chưa dạt đến mức toàn dụng, lạm phát vừa phải
thúc đẩy sự phát triển kinh tế vì nó có tác dụng làm tăng khối tiền tệ trong lưu
thông, cung cấp thêm vốn cho các đơn vị sản suất kinh doanh, kích thích sự tiêu
dùng của chính phủ và nhân dân.
Giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ nghịch biến: khi lạm phát tăng
lên thì thất nghiệp giảm xuống và ngược lại khi thất nghiệp giảm xuống thì lạm
phát tăng lên. Nhà linh tế học A.W. Phillips đã đưa ra “Lý thuyết đánh đổi giữa
Thực hiện: Nhóm 1 5
Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng GVHD: Trương Minh Tuấn
lạm phát và việc làm”, theo đó một nước có thể mua một mức độ thất nghiệp
tháp hơn nếu sẵn sàng trả giá bằng một tỷ lệ lạm phát cao hơn.
Các tác động khác
Trong điều kiện lạm phát cao và không dự đoán được, cơ cấu nền kinh tế dễ
bị mất cân đối vì khi đó các nhà kinh doanh thường hướng đầu tư vào những
khu vực hàng hóa có giá cả tăng lên cao, nhưng ngành sản suất có chu kỳ ngắn,
thời gian thu hồi vốn nhanh, hạn chế đầu tư vào những ngành sản suất có chu kỳ
dài, thời gian thu hồi vốn chậm vì có nguy cơ gặp phải nhiều rủi ro. Trong lĩnh
vực lưu thông, khi vật giá tăng quá nhanh thì tình trạng đầu cơ, tích trữ hàng hóa
thường là hiện tượng phổ biến, gây nên mất cân đối giả tạo làm cho lưu thông
càng thêm rối loạn. Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, lạm phát xảy ra
làm tăng tỷ giá hối đoái. Sự mất giá của tiền trong nước so với ngoại tệ tạo điều
kiện tăng cường tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu, tuy nhiên nó gây bất lợi
cho hoạt động nhập khẩu. Lạm phát cao và siêu lạm phát làm cho hoạt động của
hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng. Nguồn tiền trong xã hội bị sụt
giảm nhanh chóng,nhiều ngân hàng bị phá sản vì mất khả năng thanh toán, lam
phát phát triển nhanh, biểu giá thường xuyên thay đổi làm cho lượng thông tin
được bao hàm trong giá cả bị phá hủy, các tính toán kinh tế bị sai lệch nhiều
theo thời gian, từ đó gây khó khăn cho các hoạt động đầu tư. Lạm phát gây thiệt
một năm).
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị tính bằng tiền của toàn bộ
hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra trên lãnh thổ của nước đó (thuộc
về người trong nước hay người nước ngoài) trong một thời gian nhất định
thường là một năm).
2.2. Vai trò của tăng trưởng kinh tế
Thành tựu kinh tế vĩ mô của một quốc gia thường được đánh giá theo
những dấu hiệu chủ yếu như: ổn định, tăng trưởng, công bằng xã hội. Trong đó,
Thực hiện: Nhóm 1 7
Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng GVHD: Trương Minh Tuấn
tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện hàng loạt vấn đề kinh tế, chính trị, xã
hội.
Trước hết, tăng trưởng kinh tế thể hiện bằng sự tăng lên về số lượng, chất
lượng hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất ra nó, do đó tăng trưởng kinh tế
là tiền đề vật chất để giảm bớt tình trạng đói nghèo. Tăng trưởng kinh tế nhanh
là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi quốc gia trên con đường khắc phục
sự lạc hậu, hướng tới giàu có, thịnh vượng.
Tăng trưởng kinh tế làm cho mức thu nhập của dân cư tăng, phúc lợi xã hội
và
chất lượng cuộc sống của cộng đồng được cải thiện như: kéo dài tuổi thọ, giảm
tỷ lệ suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em, giúp cho giáo dục, y tế, văn hoá phát
triển.
Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, giảm thất nghiệp.
Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên
nhân quan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động. Vì vậy, tăng trưởng
kinh tế nhanh thì thất nghiệp có xu hướng giảm. Mối quan hệ giữa tăng trưởng
thực tế và tỷ lệ thất nghiệp ở nước phát triển đã được lượng hoá dưới tên gọi quy
luật Okum1 (hay quy luật 2,5% -1). Quy luật này xác định, nếu GNP thực tế
tăng 2,5% trong vòng một năm so với GNP tiềm năng của năm đó thì tỷ lệ thất
nghiệp giảm đi 1%.
đồng thời làm gia tăng lạm phát; đường cong Phillips nổi tiếng về sự đánh đổi
giữa mục tiêu lạm phát và thất nghiệp.
• Stagflation nghĩa là suy thoái và lạm phát, tình trạng nền kinh tế vừa có
những dấu hiệu của lạm phát, mà cơ bản nhất là giá cả leo thang, tiền mất
giá nhưng lại vừa có những biểu hiện của suy thoái như sản xuất đình trệ,
thất nghiệp gia tăng, lạm phát cao, tăng trưởng thấp.
• Lạm phát có thể tác động tiêu cực lên tăng trưởng như: dấu hiệu bất ổn
kinh tế vĩ mô; tăng sự không chắc chắn của các hoạt động đầu tư; lạm
phát làm thay đổi giá cả tương đối, làm méo mó quá trình phân bổ nguồn
lực; lạm phát còn được xem như là một loại thuế đánh vào nền kinh tế.
Giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế tồn tại một quan hệ tỷ lệ ước chế lẫn
nhau. Lạm phát chỉ có thể ở một mức nhất định mới phù hợp cho tăng trưởng
kinh tế. Vì thế kiểm soát lạm phát là một trong nhiều mục tiêu quan trọng của
kinh tế vĩ mô.Về lý thuyết, nếu lạm phát ở mức có thể kiểm soát được thì nền
kinh tế có thể tránh được mọi hậu quả xấu. Nếu không sẽ xảy ra hậu quả như
sau:
Lạm phát cao sẽ kìm sự tăng trưởng do nó làm lệch lạc cơ cấu giá cả, kéo
theo tài nguyên nguồn lực không được phân bố hiệu quả, kết cụa là tăng trưởng
chậm.
Lạm phát là kẻ thù của tăng trưởng và đầu tư dài hạn. Nếu các nhà đầu tư
không biết chắc chắn mức giá cả trong tương lai, kéo theo không biết lãi suất
Thực hiện: Nhóm 1 10
Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng GVHD: Trương Minh Tuấn
thực thì họ sẽ không dám đầu tư nhất là các dự án dài hạn. Lạm phát sẽ đẩy mức
lãi suất lên cao do các chủ nợ muốn có sự đảm bảo cho các rủi ro lớn. Lãi suất
cao kìm hãm đầu tư do đó kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế.
Lạm phát cao gây khó khăn trong thu chi ngân sách của nhà nước.
Thực tế những nước đã trải qua lạm phát cho rằng không kiểm soát được
lạm phát là vấn đề đáng sợ nhất, toàn bộ hoạt động kinh tế sẽ bị méo mó biến
dạng nghiêm trọng, tâm lý xã hội phức tạp, lãng phí tiềm lực sản xuất. Mặt khác
• Nghiên cứu của Li (2006): Số liệu cho 90 nước đang phát triển, giai
đoạn 1961-2004, ngưỡng là 14%/năm.
• Nghiên cứu của Christoffersen và Doyle (1998) tìm ra ngưỡng là
13% cho các nền kinh tế chuyển đổi.
Kết luận: ngưỡng tiêu cực của lạm phát là từ 11%-14% trở lên
Tương đồng với nghiên cứu trên, tác giả Tú Anh - Ngân hàng Nhà nước
(NHNN) cũng cho rằng: giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát thường có mối
quan hệ nhất định. Tuy nhiên, mức độ gắn kết như thế nào là vấn đề còn tranh
cãi. Một số nghiên cứu và thực nghiệm cho thấy, lạm phát có thể tác động tiêu
cực đến tăng trưởng kinh tế khi nó vượt qua một ngưỡng nhất định. Fischer là
người đầu tiên nghiên cứu vấn đề này đã kết luận, khi lạm phát tăng ở mức độ
thấp, mối quan hệ này có thể không tồn tại, hoặc mang tính đồng biến, và lạm
phát ở mức cao mối quan hệ này là nghịch biến. Bằng các nghiên cứu khác
nhau, các nhà kinh tế học đã tìm ra một ngưỡng lạm phát, mà tại ngưỡng đó nếu
lạm phát vượt ngưỡng sẽ có tác động tiêu cực (tác động ngược chiều) đến tăng
trưởng. Theo Sarel, ngưỡng lạm phát là 8%, theo Shan và Senhadji, ngưỡng lạm
phát cho các nước đang phát triển là 11-12%, các nước công nghiệp khoảng 1-
3%. Gần đây nhất là nghiên cứu của tác giả Khan (2005) đã tập trung nghiên
cứu xác định mức lạm phát tối ưu. Kết quả Khan đã tìm ra mức lạm phát tối ưu
đối với các nước vùng Trung Đông và Trung Á là khoảng 3,2%.
Thực hiện: Nhóm 1 12
Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng GVHD: Trương Minh Tuấn
Học thuyết kinh tế vĩ mô đã khẳng định, nếu sản lượng thực tế vượt sản
lượng tiềm năng sẽ làm lạm phát gia tăng. Thực tế 2005-2006, lạm phát thế giới
gia tăng, ngoài nguyên nhân giá dầu còn do nền kinh tế nhiều nước phát triển
quá nóng.
Mặc dù nhiều quan điểm chưa thống nhất nhưng các nhà kinh tế đều thừa
nhận sự thành công về sự tăng trưởng nhanh nhất trong giai đoạn dài là việc tạo
ra môi trường kinh tế - tài chính ổn định, thuận lợi trong đó duy trì mức lạm phát
8% so với mức trung bình 18% ở các nước đang phát triển khác trong 30 năm
tốc độ tăng trưởng”.
Việc muốn tăng cung tiền, chấp nhận lạm phát là hệ quả trực tiếp của quan
điểm về lạm phát như: lạm phát, tăng cung tiền là tăng vốn đầu tư cho nền kinh
tế; có sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng, chấp nhận lạm phát để tăng
trưởng; hai quan điểm này tuy khác nhau nhưng có tác động bổ sung cho nhau
và làm cho các nhà hoạch định chính sách tin rằng lạm phát có lợi hơn là có hại
cho nền kinh tế (đặc biệt tỉ lệ lạm phát dưới hai chữ số), lạm phát tăng cung tiền
để thêm vốn đầu tư từ ngân sách là giải pháp tốt nhất để đạt mức tăng trưởng
nhanh. Cùng quan điểm tăng cung tiền là tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế, ý kiến
của ông Vũ Ngọc Nhung cho rằng “Lạm phát tạo vốn lớn và cực rẻ cho phát
triển kinh tế, vốn phát hành tiền chỉ tốn chi phí in tiền nên cực rẻ”; hoặc “Lạm
phát giúp ngân sách vay ngân hàng nhiều hơn để chi cho sản xuất, tăng thu nhập
của người dân”.
Các nhà kinh tế cho rằng tỉ lệ lạm phát cao, tác động tiêu cực đến sản lượng
sản xuất của nền kinh tế thông qua các kênh như đầu tư, tín dụng, tiêu dùng;
người cho vay không có động lực để cho vay vì lãi suất cho vay thường âm
trong thời kỳ này và cho vay thời hạn càng dài càng bị lỗ, với chi phí huy động
vốn cao, đẩy lãi suất cho vay cao, các doanh nghiệp dù thiếu vốn cũng rất e ngại
vay vốn vì làm chi phí tăng cao, hệ quả là kênh tín dụng bị thu hẹp; những kết
quả thực tế theo công bố của NHNN cho thấy dư nợ tín dụng 10 tháng đầu năm
Thực hiện: Nhóm 1 14
Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng GVHD: Trương Minh Tuấn
2008 chỉ tăng hơn 19,6%, thấp hơn mức tăng 37,73% so với cùng kỳ năm 2007
(3); tỉ lệ lạm phát cao làm cho thu nhập hộ gia đình giảm, chỉ số lạm phát đến
tháng 10/2008 là 22,14% cũng có nghĩa với việc giảm hơn 22% thu nhập so với
cuối năm 2007. Mọi người phải tiết kiệm chi tiêu dẫn đến giảm tiêu dùng; các
nhà đầu tư tiềm năng sẽ giảm đầu tư vì độ rủi ro cao và hậu quả là làm giảm sản
lượng sản xuất của nền kinh tế. Như vậy, việc sử dụng lạm phát cao để thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế thực chất đây là liệu pháp “sốc” với mong muốn tăng trưởng
nhanh để đạt được thành tích mong muốn, nhưng hậu quả tiêu cực gây ra cho
trưởng phải là vấn đề của Chính phủ trong việc phát triển nguồn lực, vốn và
công nghệ kĩ thuật
Đối với Việt Nam mức lạm phát nào là tối ưu cho tăng trưởng kinh tế? Các
ngưỡng cùng với các phân tích nêu trên có thể cung cấp một mức chuẩn cho
Việt Nam, với một thực tế rằng, các doanh nghiệp Việt Nam và người tiêu dùng
không thích một mức lạm phát cao và không ổn định. Mức lạm phát chuẩn của
Việt Nam có thể gần với mức lạm phát của các nước Đông Nam Á. Nghiên cứu
bước đầu của IMF (2006) về mức độ lạm phát ở Việt Nam với các nước Đông
Nam Á cũng đã chỉ ra rằng, mức lạm phát tối ưu cho tăng trưởng kinh tế ở các
nước vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam khoảng 3,6%. Một thực tế rằng,
các kết quả nghiên cứu về ngưỡng lạm phát tốt cho tăng trưởng đều không đưa
ra với mức tăng trưởng kinh tế là bao nhiêu. Đây là câu hỏi quan trọng cho Việt
Nam, bởi vì lạm phát mục tiêu được đưa ra trong mối quan hệ với tăng trưởng
kinh tế.
Qua phân tích số liệu trong hơn 20 năm qua, dường như mối quan hệ giữa
lạm phát và tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam cũng tuân theo quy luật.
Thực hiện: Nhóm 1 16
Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng GVHD: Trương Minh Tuấn
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng là mối quan hệ phi tuyến tính. Ở
mức lạm phát thấp (thường là 1 con số) thì lạm phát không có tác động tiêu cực
lên tăng trưởng. Thậm chí ở mức lạm phát thấp, gia tăng lạm phát thường gắn
liền với tăng trưởng cao hơn. Khi lạm phát đạt đến một ngưỡng cao nhất định,
thì lạm phát bắt đầu tác động tiêu cực lên tăng trưởng.
Ngưỡng đối với các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi là
dao động từ 11% đến 14%/năm.
Qua phân tích số liệu trong hơn 20 năm qua, dường như mối quan hệ giữa
lạm phát và tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam cũng tuân theo quy luật
chung. Việc Việt Nam thực thi chính sách tiền tệ và tài khóa nới lỏng trong
những năm qua để thúc đẩy tăng trưởng có thể là phù hợp, nhưng hiện nay, khi