Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Danh sách nhóm 1
HỌ VÀ TÊN STT
Nguyễn Cao Lê Hương 29
Phạm Ngọc Huynh 23
Nguyễn Thị Mai 39
Nguyễn Hà Phương Ngân 48
Phạm Thị Thùy Trang 75
GVHD: Trương Minh Tuấn Trang 1
SVTH : nhóm 1
Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Mục lục
Danh sách nhóm 1 1
Mục lục 2
Mở đầu 3
1.Mục tiêu đề tài 4
2.Tìm hiểu về lạm phát và tăng trưởng kinh tế 4
2.1 Lạm phát [4; 5] 4
2.2Tăng trưởng kinh tế [4;5] 5
3.Các lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế 7
3.1 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Keynes [3] 7
3.2 Lý thuyết tiền tệ và thu nhập quốc dân của M. Friedman [1] 8
3.3 Nghiên cứu “Ngưỡng tác động trong mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng” của Mohsin S.
Khan và Abdelhak S. Senhadji [7-11] 10
4.Đánh giá các lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế 11
4.1 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của J.M.Keynes 11
4.2 Lý thuyết tiền tệ và thu nhập quốc dân của M. Friedman 12
4.3 Nghiên cứu “Ngưỡng tác động trong mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng” của Mohsin S.
Khan và Abdelhak S. Senhadji 12
5.Nhận định về các lý thuyết và nghiên cứu thông qua tình hình về tăng trưởng và lạm phát tại Việt Nam
những năm qua 13
như phân tích được những khuyết điểm của các lý thuyết trên. Từ đó rút ra được
mối quan hệ: lạm phát ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế như thế nào trong bối
cảnh kinh tế hiện nay.
GVHD: Trương Minh Tuấn Trang 3
SVTH : nhóm 1
Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
1. Mục tiêu đề tài
Bài tiểu luận này giúp chúng ta hiểu thêm về các quan niệm lạm phát và
tăng trưởng kinh tế là gì. Từ đó đặt ra câu hỏi : “ lạm phát ảnh hưởng như thế nào
đến tăng trưởng kinh tế ?”
Tập trung vào xem lại nền tảng của lý thuyết truyền thống về mối quan hệ
giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, cũng như nghiên cứu thực nghiệm về ảnh
hưởng của lạm phát đến tăng trưởng từ sau giai đoạn khủng hoảng dầu mỏ (1073-
1974).
Đánh giá được tính đúng đắn cũng như những vấn đề còn tồn tại chưa giải
quyết được trong từng lý thuyết, nghiên cứu của các trường phái kinh tế, cũng như
các nhà kinh tế tiêu biểu.
Tìm hiểu tình hình tăng trưởng và lạm phát của Việt Nam giai đoạn từ năm
2000 đến 2011, từ đó phân tích được mối quan hệ của lạm phát và tăng trưởng là
mối quan hệ tuyến tính hay phi tuyến tính.
Nhận định xem các lý thuyết, nghiên cứu của các nhà kinh tế học, lý thuyết
nào phù hợp với xu thế phát triển của kinh tế Việt Nam.
2. Tìm hiểu về lạm phát và tăng trưởng kinh tế
2.1 Lạm phát [4; 5]
Có nhiều phát biểu khác nhau về khái niệm lạm phát. Một số nhà kinh tế
học cho rằng “lạm phát là hiện tượng tiền được cung ứng nhiều hơn mức cần thiết
hoặc là do khối lượng tiền thực tế trong lưu thông lớn hơn khối lượng tiền cần
thiết” hoặc cho rằng “lạm phát là quá nhiều tiền được bỏ ra để săn lùng quá ít hàng
hoá”, “lạm phát là hiện tượng bội chi lâu dài của ngân sách nhà nước”, “lạm phát
GVHD: Trương Minh Tuấn Trang 4
trưởng là"cặp đôi"trong nội dung khái niệm tăng trưởng kinh tế.
GVHD: Trương Minh Tuấn Trang 5
SVTH : nhóm 1
Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Hiện nay, trên thế giới người ta thườngtính mức gia tăng về tổng giá trị của
cải của xã hội bằng các đại lượng tổng sản phẩmquốc dân hoặc tổng sản phẩm
quốc nội.
- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là tổng giá trị tính bằng tiền của những
hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra từ các yếu tố sản xuất của
mình (dù là sản xuất ở trong nước hay ở nước ngoài) trong một thời kỳ nhất
định (thường là một năm).
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị tính bằng tiền của toàn bộ
hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra trên lãnh thổ của nước đó (dù
nó thuộc về người trong nước hay người nước ngoài) trong một thời gian
nhất định (thường là một năm).
So sánh tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
ta thấy:
GNP = GDP + thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài.
Thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài = thu nhập chuyển về nước của công
dân nước đó làm việc ở nước ngoài trừ đi thu nhập chuyển ra khỏi nước của người
nước ngoài làm việc tại nước đó.
Tăng trưởng kinh tế là mức gia tăng GDP hay GNP năm sau so với năm
trước. GNP và GDP là hai thước đo tiện lợi nhất để tính mức tăng trưởng kinh tế
của một nước biểu hiện bằng giá cả. Vì vậy, để tính đến yếu tố lạm phát người ta
phân định GNP, GDP danh nghĩa và GNP, GDP thực tế. GNP, GDP danh nghĩa là
GNP và GDP tính theo giá hiện hành của năm tính; còn GNP và GDP thực tế là
GNP và GDP được tính theo giá cố định của một năm được chọn làm gốc. Với tư
cách này, GNP, GDP thực tế loại trừ được ảnh hưởng của sự biến động của giá cả
(lạm phát). Do đó, có mức tăng trưởng danh nghĩa và mức tăng trưởng thực tế.
Từ các quan niệm về lạm phát và tăng trưởng kinh tế đặt ra câu hỏi: “ lạm
Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
được lợi nhuận nhiều hơn (trong điều kiện chi phí sản xuất chưa thay đổi). Cóthể
nói, đây là một trong các động lực trực tiếp của các nhà sản xuất kinh doanh, góp
phần vào tăng trưởng kinh tế.
J.M.Keynes (1936) cho rằng: trong ngắn hạn sẽ có sự đánh đổi giữa lạm
phát và tăng trưởng; nghĩa là, muốn cho tăng trưởng đạt tốc độ cao thì phải chấp
nhận một tỷ lệ lạm phát nhất định; trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng và lạm
phát di chuyển cùng chiều; sau giai đoạn này, nếu tiếp tục chấp nhận tăng lạm
phát để thúc đẩy tăng trưởng thì GDP cũng không tăng thêm mà có xu hướng
giảm (đường cong Phillips nổi tiếng về sự đánh đổi giữa mục tiêu lạm phát và thất
nghiệp); mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát mang dấu dương.
3.2 Lý thuyết tiền tệ và thu nhập quốc dân của M. Friedman [1]
+ Nhân tố quyết định sự tăng trưởng của sản lượng quốc gia là mức cung
tiền tệ. Theo M.Friedman, các biến số vĩ mô như: giá cả, sản lượng, công ăn việc
làm phụ thuộc vào mức cung tiền tệ chứ không phải vào chính sách tài chính (thuế
và chi tiêu ngân sách).
Mức cung tiền tệ thường không ổn định và phụ thuộc vào quyết định chủ
quan của chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Nếu ngân hàng trung ương
phát hành không đủ tiền thì dễ dẫn đến khủng hoảng kinh tế, còn nếu phát hành
thừa tiền thị lại bị lạm phát.
Mức cầu tiền tệ có tính ổn định cao, nó được quyết định bởi thu nhập. Mức
cầu danh nghĩa về tiền đuợc xác định bởi công thức:
Md = f(Yn,i)
Trong đó:
- Md: mức cầu danh nghĩa về tiền tệ
- Yn: thu nhập danh nghĩa
- i: Lãi suất danh nghĩa.
Qua công thức trên, những người trọng tiền hiện đại cho rằng sự thay đổi
cầu về tiển tệ phụ thuộc vào sự thay đổi của thu nhập, còn lãi về tiền là nhân tố
ngọai sinh của nền kinh tế.
cực lên tăng trưởng như: dấu hiệu bất ổn kinh tế vĩ mô; tăng sự không chắc chắn
của các hoạt động đầu tư; lạm phát làm thay đổi giá cả tương đối, làm méo mó quá
trình phân bổ nguồn lực; lạm phát còn được xem như là một loại thuế đánh vào
nền kinh tế. Vì vậy từ năm 1960 đã có nhiều nghiên cứu nhằm kiểm nghiệm lại
GVHD: Trương Minh Tuấn Trang 9
SVTH : nhóm 1
Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Nhưng những nghiên cứu ban
đầu (những năm 60) không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê nào. Cho
đến giai đoạn sau khủng hoảng dầu hỏa 1973-1974, tìm thấy quan hệ âm giữa lạm
phát và tăng trưởng.
3.3 Nghiên cứu “Ngưỡng tác động trong mối quan hệ giữa lạm phát và
tăng trưởng” của Mohsin S. Khan và Abdelhak S. Senhadji [7-11]
Khan & Senhadji (2001) đã phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và tăng
trưởng riêng cho các nước công nghiệp và các nước đang phát triển. Điều đã làm
điều tra này đặc biệt thú vị từ một quan điểm phương pháp luận của
xem là việc sử dụng các công cụ mới của kinh tế. Các tác giả kiểm tra lại
vấn đề về sự tồn tại của hiệu ứng "ngưỡng" trong quan hệ giữa
lạm phát và tăng trưởng, bằng cách sử dụng các kỹ thuật kinh tế được phát triển
bởi Chan và Tsay (1998), và Hansen (1999, 2000). Nghiên cứu đặc biệt tập trung
vào các câu hỏi sau đây:
Có một mức ngưỡng có ý nghĩa thống kê của lạm phát có ảnh hưởng đến
tăng trưởng khác biệt so với một tỷ lệ thấp hơn?
Là “hiệu ứng ngưỡng” tương tự giữa các nước phát triển và các nước công
nghiệp?
Những ngưỡng giá trị có khác nhau?
Phát hiện Bruno-Easterly về mối quan hệ tiêu cực giữa lạm phát và tăng
trưởng chỉ tồn tại cho quan sát lạm phát cao và tần số dữ liệu cao có tác dụng
mạnh mẽ như thế nào?
Nghiên cứu của Khan & Senhadji (2001) được thực hiên trên 140 quốc gia
Khái niệm của Keynes vẫn chưa nên được đúng bản chất kinh tế - xã hội
của lạm phát. Lý thuyết của Keynes về vai trò chi phối của nhà nước bằng ngân
sách chi cho rằng có sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp, tức là muốn tạo
nhiều việc làm hay là nhằm đạt tốc độ phát triển kinh tế cao thì cái giá phải trả là
lạm phát cao. Ngược lại, muốn giữ lạm phát thấp, thất nghiệp sẽ cao. Tại sao giá
tăng cao lại có thể đưa đến phát triển, ít nhất là trong ngắn hạn? Đó là vì giá tăng
GVHD: Trương Minh Tuấn Trang 11
SVTH : nhóm 1
Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
cao, tiền lương không tăng hoặc không tăng kịp do đó đưa đến lợi nhuận cao và có
tác dụng khuyến khích tăng sản xuất. Nhưng trên thực tế khi lạm phát cao và kéo
dài, người dân sẽ kỳ vọng là lạm phát tiếp tục cao, đòi hỏi lương cao, do đó về dài
lâu không có sự đánh đổi này, mà sẽ tạo ra hiện tượng đình lạm (vừa lạm phát cao
vừa suy thoái). Điều này làm cho kinh tế ngày càng lún sâu vào suy thoái, cuộc
sống người dân gặp nhiều khó khăn.
4.2 Lý thuyết tiền tệ và thu nhập quốc dân của M. Friedman
Với cách lập luận này về lạm phát là quá đơn giản vì đặt nền kinh tế vào
trong một trạng thái tĩnh tại, đó là khi tăng cung tiền thì sẽ dẫn đến một khối lượng
tiền nhiều hơn dùng để mua một khối lượng hàng hoá như cũ, do đó sẽ làm cho
giá cả tăng lên. Điều này sẽ không lý giải được tại sao giá cả không thay đổi trong
trường hợp vẫn tăng cung tiền.
Quan điểm về lạm phát tiền tệ gặp phải một trở ngại là việc xác định khối
lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông là không khả thi, vì thực tế tổng lượng hàng
hoá, dịch vụ luân chuyển trong nền kinh tế luôn biến động. Ngoài ra, vòng quay
tiền cũng không ổn định và mục đích sử dụng tiền cũng luôn thay đổi. Do vậy,
chúng ta chỉ có thể nhận diện ra lạm phát qua dấu hiệu hàng hoá, dịch vụ tăng giá.
Vì những nguyên nhân này mà đa số các nhà kinh tế học đã đồng nhất tỷ lệ lạm
phát với tỷ lệ tăng giá.
Tuy sự nhìn nhận về lạm phát còn đơn giản, nhưng quan điểm trên cũng đã
tạo ra một tiền đề cho việc nhận thức về lạm phát sau này của các nhà kinh tế.
Giai đoạn 2004-2010: là thời kỳ lạm phát cao trở lại, gần như lặp đi lặp lại,
cứ 2 năm tăng cao mới có 1 năm tăng thấp hơn: năm 2004 tăng 9,5%, năm 2005
tăng 8,4%, thì năm 2006 chỉ tăng 6,6%; năm 2007 tăng 12,63%, năm 2008 tăng
19,89%, năm 2009 chỉ tăng 6,52%; đến năm 2010 tăng 11,75%; năm 2011, tỷ lệ
lạm phát 18,13%.
GVHD: Trương Minh Tuấn Trang 13
SVTH : nhóm 1
Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Như vậy, từ năm 2007 đến nay, lạm phát có chiều hướng mất ổn định hơn
và biểu hiện tính chu kì. Chu kì này vào khoảng 3 năm khi tỷ lệ lạm phát đã lên
đến đỉnh điểm vào tháng 8/2008 (28,23%) và tháng 8/2011 (23,02%).
Năm 2011, tỷ lệ lạm phát là 18,13%. Theo nghiên cứu của các nhà kinh tế
học thế giới, năm 2011 Việt Nam đã vượt ngưỡng lạm phát và có tác động tiêu cực
đến tăng trưởng. Trong báo cáo Quốc hội khóa XIII (kỳ họp thứ 2), Chính phủ đã
khẳng định: “Nguyên nhân chủ yếu gây lạm phát cao ở nước ta là do hệ quả của
việc nới lỏng chính sách tiền tệ, tài khóa kéo dài trong nhiều năm để đáp ứng yêu
cầu đầu tư phát triển, bảo đảm an sinh xã hội, và phúc lợi xã hội trong khi cơ cấu
kinh tế, cơ cấu đầu tư còn kém hiệu quả, cùng những hạn chế trong quản lý điều
hành và tác động cộng hưởng của các yếu tố tâm lý”.
5.3 Nhận định và lựa chọn lý thuyết phù hợp trong điều kiện kinh tế Việt
Nam
Như vậy, qua việc phân tích tốc độ tăng trưởng kinh tế, cũng như tình hình
lạm phát của từng giai đoạn khác nhau trong giai đoạn từ 2000 đến nay, ta có thể
nhận thấy rằng ở những năm có tỷ lệ lạm phát thấp ( dưới 12%/ năm) thì tốc độ
tăng trưởng kinh tế khá cao, sản xuất phát triển, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu
tư của nước ngoài, đời sống người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao. Còn
vào năm 2008 và 2011 với tỷ lệ lạm phát 19,89% và 18,3% chúng ta có thể thấy
được nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng đình lạm, lạm phát cao nhưng nền kinh
tế của nước ta rơi vào tình trạng tăng trưởng kém, sản xuất ngưng trệ, giá cả hầu
hết các mặt hàng tăng cao, lực lượng thất nghiệp ngày càng gia tăng làm cho cuộc
hình tăng trưởng và lạm phát của Việt Nam trong những năm gần đây đều phù hợp
với nghiên cứu trên.
Tóm lại, qua việc phân tích các lý thuyết cũng như các nghiên cứu cụ thể
của các nhà kinh tế học thuộc các trường phái khác nhau, cũng như phân tích
được sự ảnh hưởng của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm
2000 đến 2011. Nhóm chúng tôi nhận thấy nghiên cứu “Ngưỡng tác động trong
mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng” của Mohsin S. Khan và Abdelhak
S. Senhadji là hoàn toàn phù hợp với bối cảnh của nền kinh tế Việt Nam.
GVHD: Trương Minh Tuấn Trang 15
SVTH : nhóm 1
Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
GVHD: Trương Minh Tuấn Trang 16
SVTH : nhóm 1
Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Kết luận
Lạm phát và tăng trường kinh tế là hai vấn đề có quan hệ rất chặt chẽ,phức
tạp. Lạm phát có thể là động lực thúc đẩy kinh tế ngược lại cũng có thể là tác nhân
kìm hãm sự phát triển kinh tế thậm chí . Vì vậy cần chú trọng sự cân đối, mối quan
hệ hài hoà giữa hai vấn đề này ,chỉ có vậy mới đảm bảo sự phát triển bền vững của
Viêt Nam trong giai đoạn đổi mới hiện nay.
Trong những năm vừa qua Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định
về kinh tế đó cũng là nhờ một phần đóng góp của các chính sách điều chỉnh tỉ lệ lạm
phát hợp lí. Tuy nhiên những bất ổn sự mất cân đối giữa lạm phát trong một số thời
gian là dấu hiệu để chúng ta cần điều chỉnh và đưa ra những chính sách có hiệu quả.
Hiểu rõ và giải quyết được tốt vấn đề này sẽ góp phần không nhỏ cho công cuộc đổi
mới và phát triển kinh tế ở nước ta.
Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần chấp nhận đánh đổi giữa mục tiêu
kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế, nghĩa là “hy sinh” mục tiêu tăng trưởng
cho mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm được tăng trưởng
ở mức hợp lý, khi có điều kiện thuận lợi phấn đấu đạt mức tăng trưởng có hơn. Đây
Relationship between Inflation and Growth, IMF Staff Papers Vol. 48 No.1.
http://www.imf.org/External/Pubs/FT/staffp/2001/01a/khan.htm
9. Chan, Kung-Sig, and Ruey S. Tsay, 1998, “Limiting Properties of the Least
Squares Estimator of a Continuous Threshold Autoregressive Model,”
Biometrica, Vol. 85, No. 2, pp. 413–26.
GVHD: Trương Minh Tuấn Trang 18
SVTH : nhóm 1
Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
10.Hansen, Bruce, 1999, “Threshold Effects in Non-Dynamic Panels:
Estimation, Testing, and Inference,” Journal of Econometrics, Vol. 93, No.
2, pp. 345–68.
11.Hansen, Bruce, 2000, “Sample Splitting and Threshold Estimation,”
Econometrica, Vol. 68 (May),pp. 575–603.
GVHD: Trương Minh Tuấn Trang 19
SVTH : nhóm 1