Tiểu luận môn Lý thuyết tài chính tiền tệ Mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và ngưỡng bội chi - Pdf 22

B GIO DC V ĐO TO
TRƯỜNG ĐI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA KIỂM TON

Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
Đề tài:
Mối quan hệ giữa lạm phát
mục tiêu và ngưỡng bội
chi
Giáo Viên Hướng Dẫn : Trương Minh Tuấn
Sinh Viên Thực Hiện : Nhóm 8
Lớp : VB2KI15
1
Tp. HCM Ngày 30, tháng 10 năm 2012
Thông Tin Nhóm 8
Họ Tên MSSV Số Báo Danh Chữ Ký
Vũ Văn Nam
Nguyễn Thị Mỹ Ý
Nguyễn Thị Kim Vân
Huỳnh Thị Như Ngọc
Trần Thị Minh Phương
2
Mục Lục
Mục Lục 3
Các Thuật Ngữ Viết Tắt 4
Lời Mở Đầu 5
I.Lạm phát mục "êu 6
1.Khái niệm 6
2.Điều kiện để thực hiện khuôn khổ lạm phát mục "êu 6
3.Các bước thực hiện chính sách lạm phát mục "êu 8
4.Cơ sở đưa ra chỉ "êu lạm phát 8

đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, vừa kiểm soát giá cả - lạm phát, ổn định tiền tệ cũng
như sử dụng chính sách tiền tệ như một công cụ bổ trợ ổn định ngân sách, xóa đói
giảm nghèo, bảo đảm an ninh quốc gia.
Trong những năm gần đây cơ chế này đã bộc lộ rõ những hạn chế của mình. Kinh
nghiệm nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy lạm phát mục tiêu có thể là một lựa
chọn hợp lý cho chính sách tiền tệ ở nước ta trong thời gian tới, theo đó duy trì
mức lạm phát hợp lý và ổn định trở thành mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ
để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.
5
I. Lạm phát mục tiêu
1. Khái niệm
Lạm phát mục tiêu là một trong những khuôn khổ chính sách tiền tệ mà theo đó,
NHTW hoặc Chính phủ thông báo một số mục tiêu trung hạn về lạm phát và
NHTW cam kết đạt được những mục tiêu này.
2. Điều kiện để thực hiện khuôn khổ lạm phát mục tiêu
Các điều kiện cơ bản để một quốc gia có thể theo đuổi được khuôn khổ lạm phát
mục tiêu có thể được chia thành 4 nhóm chính:
1. Nhóm điều kiện đầu tiên và có lẽ là quan trọng nhất đó là NHTW được
trao quyền cao và sự tín nhiệm để theo đuổi lạm phát mục tiêu:
- Ngân hàng Trung ương phải có quyền đặc biệt để theo đuổi mục tiêu lạm
phát và tự mình đặt ra các công cụ của chính sách tiền tệ.
- Công chúng phải được thông báo về khuôn khổ chính sách tiền tệ và việc
thực hiện chính sách tiền tệ.
2. Nhóm điều kiện thứ hai liên quan đến vấn đề đảm bảo mục tiêu lạm phát
là mục tiêu chính, không phải là mục tiêu hỗ trợ cho mục tiêu khác. Nhóm này bao
gồm các điều kiện:
- Chính sách tiền tệ không bị chi phối bởi các ưu tiên về ngân sách Chính
phủ; Chính phủ tăng ngân sách bằng việc huy động các nguồn vốn trên thị
trường tài chính và hạn chế tuyệt đối việc cấp tín dụng cho Chính phủ.
- Vị thế bên ngoài đủ mạnh để đảm bảo cho chính sách tiền tệ theo đuổi mục

7
3. Các bước thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu
- Thứ nhất, hoàn thiện cơ sở pháp lý về hoạt động tiền tệ ngân hàng theo
hướng hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Thứ hai, cải cách mạnh mẽ tổ chức và hoạt động của NHTW trở thành
NHTW hiện đại.
- Thứ ba, chuẩn bị điều kiện về hạ tầng kỹ thuật để chuyển sang điều hành
chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu sau năm 2010.
- Thứ tư, tái cơ cấu hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng theo chuẩn mực
của Basel I tiến tới Basel II, đặc biệt chú trọng chuẩn mực về an toàn và
quản trị rủi ro.
- Thứ năm, tái cơ cấu toàn diện và triệt để các ngân hàng thương mại và tổ
chức tín dụng nhân dân, bao gồm việc cổ phần hoá, tái cơ cấu sở hữu và xây
dựng thể chế.
4. Cơ sở đưa ra chỉ tiêu lạm phát
Quyết định của QH về chỉ tiêu lạm phát hàng năm liên quan trực tiếp đến việc QH
có giám sát hiệu quả việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia hay không. Có thể
nói ngay rằng, QH không có đủ thông tin và cơ sở để tự tính ra chỉ số lạm phát của
năm kế hoạch. Vì đó không phải là chức năng của QH và QH cũng không đủ điều
kiện để tính toán, xác định một cách cụ thể chỉ số lạm phát của năm kế hoạch. Tuy
nhiên, nói như vậy không có nghĩa là QH sẽ bị động trước các chỉ tiêu mà Chính
phủ trình. QH vẫn có thể và có khả năng phân tích để chuyển từ thế bị động sang
chủ động quyết định một cách chính xác các chỉ tiêu mà Chính phủ trình.
Các Ủy ban của QH và các ĐBQH cần phân tích những nguyên nhân gây ra lạm
phát của năm báo cáo, dự báo các tình huống có thể xảy ra trong năm kế hoạch để
có thể thảo luận về chỉ tiêu lạm phát được Chính phủ trình QH. Nhiệm vụ của các
ĐBQH và các cơ quan của QH là phải phân tích một cách chính xác các nguyên
nhân của lạm phát trong năm trước và dự kiến các khả năng có thể xảy ra trong
năm sau để có thái độ nhìn nhận khách quan về mục tiêu lạm phát của năm kế
hoạch. Ví dụ, mục tiêu chỉ số lạm phát năm 2011 được Chính phủ trình và được

GDP? Tốc độ tăng trưởng tín dụng có hợp lý không? Thứ sáu là mối quan hệ giữa
chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong thực tế có sự phối hợp tốt không?
Năm 2011, Nghị quyết 11 của Chính phủ yêu cầu chính sách tài khóa và chính
sách tiền tệ phải thắt chặt. Nhưng khi thực hiện thì chính sách tiền tệ được thắt quá
chặt với các chỉ tiêu đặt ra là tín dụng chỉ được tăng dưới 20%; tổng phương tiện
thanh toán chỉ được tăng trưởng 15 – 16% và thực tế thực hiện của năm 2011 thì
tổng phương tiện thanh toán chỉ tăng khoảng 10%, tín dụng tăng 12%. Trong khi
đó, Nghị quyết 11 cũng yêu cầu chính sách tài khóa phải thắt chặt: giảm đầu tư
công, tiết giảm chi thường xuyên khoảng 10%; thực tế kết quả giảm đầu tư công và
tiết kiệm chi tiêu ngân sách đạt được rất hạn chế. Như vậy sự thiếu đồng bộ giữa
hai chính sách này cũng làm cho hiệu quả kiểm soát lạm phát bị hạn chế.
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cũng nên xác định ở mức độ tăng trưởng hợp lý:
không quá nóng và cũng không quá nguội. Tốc độ này tăng bao nhiêu là hợp lý thì
phải tùy thuộc và khả năng khai thác tài nguyên thiên nhiên của đất nước còn nhiều
hay ít? Hơn nữa nó còn phụ thuộc vào quan điểm có để dành tài nguyên này cho
thế hệ mai sau không? Khả năng tích luỹ, khả năng tài chính của đất nước ra sao?
Nếu đầu tư cộng với chi tiêu của Chính phủ lớn hơn khả năng tích luỹ và năng lực
tài chính thì sẽ phải bội chi lớn, phải vay nợ nhiều. Vì vậy, cần xác định mức bội
chi hợp lý. Kinh nghiệm chỉ ra rằng, bội chi ngân sách nhỏ hơn hoặc bằng 3%
GDP là mức hợp lý nhất, không gây áp lực cho lạm phát và bảo đảm tăng trưởng
có hiệu quả, bền vững. Thực tế trong nhiều năm đầu đổi mới nước ta đã đạt được
mức bội chi xoay quanh 3% GDP. Vì vậy, nếu mục tiêu tăng trưởng không được
đặt ra quá cao thì sẽ giúp giảm bội chi ngân sách và không gây áp lực cho lạm
phát. Giữa tăng trưởng và kiểm soát lạm phát phải tìm ra được điểm cân bằng: vừa
tăng trưởng vừa kiểm soát được lạm phát.
Bên cạnh chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, QH cũng cần phải phân tích
thêm về chính sách thương mại, cán cân thương mại, nhập siêu để thấy được
10
những tác động của thương mại đến thị trường tiền tệ trong nước. Nhập siêu lớn sẽ
ảnh hưởng ngay đến cung – cầu ngoại tệ, gây áp lực tới sự phá giá đồng bản tệ dẫn

Trung ương hiện đại có nhiệm vụ chủ yếu là kiểm soát lạm phát để ổn định tiền tệ
và giám sát để đảm bảo hoạt động lành mạnh của hệ thống ngân hàng.
Để đưa ra áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu thành công tại Việt Nam,
cần đáp ứng được các điều kiện cần thiết. Trong đó, hai điều kiện được coi là mục
tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ là ổn định giá cả và khả năng dự báo lạm phát
kỳ vọng của NHTW. “Tuy nhiên, tại Việt Nam ngay cả việc tính toán CPI cũng
còn nhiều hạn chế", nhóm nghiên cứu nhận xét.
Nghiên cứu cũng dẫn kinh nghiệm từ các nước áp dụng chính sách lạm phát mục
tiêu cho thấy, đa số các nước áp dụng khuôn khổ lạm phát mục tiêu hoàn toàn (full
– fledged inflation targeting -FFIT) vào thời điểm kiềm chế lạm phát thành công,
chỉ số lạm phát đang giảm xuống. Do đó, việc thực thi chính sách đã tạo niềm tin
cho công chúng vào khả năng của Ngân hàng Trung ương trong việc đạt được mục
tiêu lạm phát thấp và ổn định. Trong khi đó, mức lạm phát tại Việt Nam từ năm
2004 tới nay biến động phức tạp, áp lực lạm phát ngày càng tăng. Bởi vậy, trong
thời điểm hiện tại Ngân hàng Trung ương chưa thể áp dụng được ngay chính sách
tiền tệ lạm phát mục tiêu hoàn toàn. Mà khởi đầu, Việt Nam có thể áp dụng lạm
phát mục tiêu ngầm định (ngân hàng Trung ương có thể thảo thuận với Chính phủ
về việc thực hiện lạm phát mục tiêu mà không cần công bố cho toàn thể công
chúng).
12
Ngoài ra, theo Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Phúc, Giám đốc dự án
“Hỗ trợ nâng cao năng lực tham mưu, thẩm tra và giám sát chính sách kinh tế vĩ
mô” do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội chủ trì với sự tài trợ của Chương trình Phát
triển Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNDP), cho rằng “Ở nghiên cứu về lạm phát
mục tiêu, việc duy trì lạm phát thấp và ổn định nên trở thành mục tiêu hàng đầu
của chính sách tiền tệ để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời phải gắn liền
với nâng cao hiệu quả các chính sách về cơ cấu kinh tế.”
Lý thuyết cho rằng tỷ lệ lạm phát lý tưởng nên bằng 0 (trong mô hình Keynes
mới), hoặc là âm (theo Quy tắc của Friedman). Trong thực tế, tất cả ngân hàng
trung ương ở các quốc gia áp dụng lạm phát mục tiêu đều đưa ra những mục tiêu

(2012) thì mức lạm phát tối ưu tại các nước này nên cao hơn một chút so với các
nước công nghiệp.
Từ kinh nghiệm của các quốc gia đi trước đã gặt hái được những thành công nhất
định trong quá trình thực thi chính sách lạm phát mục tiêu, Việt Nam có thể học
hỏi và đối chiếu với các điều kiện cụ thể về kinh tế, chính trị và văn hóa của quốc
gia để đưa ra những quyết sách phù hợp nhất. Mức lạm phát mục tiêu mà Việt Nam
lựa chọn có thể cao hơn các quốc gia công nghiệp do các đặc điểm đặc thù về kinh
tế trong nước, nhưng vẫn phải đảm bảo rằng nó không làm ảnh hưởng đến các
quyết định chi tiêu của hộ gia đình và doanh nghiệp. Bên cạnh đó, ngân hàng trung
ương cần phải thông báo và giải thích rõ ràng các quyết định của mình về mức lạm
phát mục tiêu đến công chúng – điều mà không chỉ giúp neo giữ các kỳ vọng về
lạm phát quanh một mức mong muốn mà còn giúp tăng cường sự ủng hộ của công
chúng đối với các chính sách của mình.
14
II. Bội chi ngân sách nhà nước
1. Khái niệm bội chi NSNN
Bội chi NSNN trong một thời kỳ (1 năm, 1 chu kỳ kinh tế) là số chênh lệch
giữa chi lớn hơn thu của thời kỳ đó hay đúng hơn là tình trạng tổng chi trong
cân đối ngân sách nhà nước lớn hơn tổng thu trong cân đối ngân sách nhà
nước (tổng thu thường xuyên) .
Nhưng thu gồm những khoản nào, chi gồm những khoản gì? Theo thông lệ quốc tế,
có thể tóm tắt báo cáo về NSNN hằng năm như sau:
Bảng : Tóm tắt nội dung cân đối ngân sách nhà nước hằng năm
Thu Chi
A. Thu thường xuyên
(thuế, phí, lệ phí).
B. Thu về vốn (bán tài
sản nhà nước).
C. Bù đắp thâm hụt.
- Viện trợ.

quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho mức bội chi
NSNN tăng lên. Ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên,
trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN.
Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ.
- Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà
nước. Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ
làm tăng mức bội chi NSNN. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu
16
dùng của Nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm bớt. Mức bội chi do tác động
của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu.
Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn, ), tổng
hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi NSNN.
3. Các giải pháp xử lý bội chi NSNN
Vấn đề thiếu hụt ngân sách thường làm đau đầu các chính trị gia giữa một bên là
phát triển bền vững, duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế với một bên là nguồn
lực có hạn. Đòi hỏi các chính trị gia phải lựa chọn để phù hợp với yêu cầu phát
triển thực tế và sự phát triển trong tương lai. Từ sự lựa chọn đó họ đưa ra mức bội
chi "hợp lý", bảo đảm nhu cầu tài trợ cho chi tiêu cũng như đầu tư phát triển kinh
tế, đồng thời bảo đảm cho nợ quốc gia ở mức hợp lý. Bội chi NSNN được hiểu một
cách chung nhất là sự vượt trội về chi tiêu so với tiền thu được trong năm tài khóa
hoặc thâm hụt NSNN do sự cố ý của chính phủ tạo ra nhằm thực hiện chính sách
kinh tế vĩ mô. Có nhiều cách để chính phủ bù đắp thiếu hụt ngân sách như tăng thu
từ thuế, phí, lệ phí; giảm chi ngân sách; vay nợ trong nước, vay nợ nước ngoài;
phát hành tiền để bù đắp chi tiêu; Sử dụng phương cách nào, nguồn nào tùy
thuộc vào điều kiện kinh tế và chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của
mỗi quốc gia.
Bội chi NSNN tác động đến kinh tế vĩ mô phụ thuộc nhiều vào các giải pháp nhằm
bù đắp bội chi NSNN. Mỗi giải pháp bù đắp đều làm ảnh hưởng đến cân đối kinh
tế vĩ mô. Về cơ bản, các quốc gia trên thế giới thường sử dụng các giải pháp chủ
yếu nhằm xử lý bội chi NSNN như sau:

18
Thứ năm: Tăng cường vai trò quản lý nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn định
chính sách vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế.
Để thực hiện vai trò của mình, nhà nước sử dụng một hệ thống chính sách và công
cụ quản lý vĩ mô để điều khiển, tác động vào đời sống kinh tế - xã hội, nhằm giải
quyết các mối quan hệ trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội, nhất là mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với
giữ gìn môi trường v.v Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi lạm phát là một vấn
nạn của các nước trên thế giới, vấn đề tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với
quản lý NSNN nói chung và xử lý bội chi NSNN nói riêng có ý nghĩa vô cùng cấp
thiết.
4. Thực trạng bội chi ngân sách ở Việt Nam
Theo báo cáo thẩm tra về tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước (NSNN)
năm 2011, dự toán và phương án phân bổ NSNN năm 2012 của Uỷ ban Tài chính -
Ngân sách (Ủy ban TCNS) của Quốc hội, mặc dù Nghị quyết 11/NQ-CP tập trung
vào việc cắt giảm chi tiêu công, tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên (ngoài phần
tiết kiệm 10% dự toán từ đầu năm), nhưng tổng số chi NSNN vẫn vượt dự toán
9,7% (70.400 tỷ đồng) và đây là mức tăng khá lớn. Chính phủ dự kiến bố trí 9.100
tỷ đồng từ nguồn tăng thu ngân sách trung ương để giảm bội chi NSNN năm 2011,
đưa xuống mức 111.500 tỷ đồng, tương đương 4,9% GDP, giảm 0,4% so với dự
toán đầu năm.
Trong bối cảnh tình hình kinh tế-xã hội có nhiều biến động, việc Chính phủ phấn
đấu giảm bội chi thể hiện sự cố gắng, nỗ lực trong quản lý và điều hành NSNN.
Đây là mức giảm khá, tạo cơ sở cho việc giảm bội chi theo lộ trình và hạ dần mức
nợ công. Mặt khác, việc bố trí tăng chi trả nợ năm 2011 (15.000 tỷ đồng) cũng có
thể coi như gián tiếp giảm bội chi.
19
Ủy ban Tài chính - Ngân sách Quốc hội cho rằng trên cơ sở đánh giá dự toán thu
NSNN năm 2012 đã được Chính phủ xây dựng, chi NSNN năm 2012 phải được nỗ
lực cân đối để thực hiện những nhiệm vụ trong bối cảnh nền kinh tế đứng trước

vừa qua đã giảm và ở tỷ lệ mức bội chi hợp lý, cần thiết tạo điều kiện huy động
thêm được nguồn lực cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, thúc đẩy phát triển kinh
tế xã hội. Trong thời gian tới Chính phủ sẽ tiếp tục điều hành phấn đấu giảm tỷ lệ
bội chi NSNN theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI và các nghị quyết của
Quốc hội.
III. Mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và ngưỡng bội chi
Ngân sách có mối quan hệ nhân quả với lạm phát. Lạm phát sẽ xảy ra từ việc thâm
hụt ngân sách quá lớn được bù đắp từ việc phát hành tiền.
Tùy vào liều lượng của thu chi ngân sách ở mức ngân sách cho phép nhằm đẩy đầu
tư phát triển nhanh lên và tiếp theo là đưa tăng trưởng kinh tế lên cao mà không
kéo theo lạm phát cao. Tăng chi ngân sách để kích thích tiêu dùng, tăng cầu tiêu
dùng, kích thích đầu tư phát triển, tăng trưởng kinh tế, tăng chi quá mức, thâm hụt
ngân sách, gánh nặng nợ do bù đắp thâm hụt bằng việc đi vay nợ quá lớn,kết quả là
đưa đến kích cầu quá mức thì ở chu kỳ sau sẽ kéo theo lạm phát, mà lạm phát cao,
giảm đầu tư phát triển, giảm tăng trưởng.
Các chuyên gia kinh tế cho rằng: Mức bội chi ngân sách cao hàm ý rằng, chính
sách tài khóa sẽ không còn nhiều dư địa để tiếp tục hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế.
Thêm vào đó, việc nới lỏng quá mức chính sách tài khóa với mức bội chi ngân
21
sách vượt ngưỡng cho phép làm tăng lãi suất do Chính phủ phải tăng cường vay nợ
để bù đắp bội chi. Kết quả là đưa đến kích thích tiêu dùng. Và khi kích cầu quá
mức thì ở chu kỳ sau sẽ kéo theo lạm phát cao. Như vậy, rõ ràng, bội chi NSNN có
quan hệ nhân quả với lạm phát. Điều này cũng có nghĩa, mọi cố gắng của Chính
phủ trong kiềm chế lạm phát sẽ trở nên vô nghĩa, việc thực hiện chính sách lạm
phát mục tiêu sẽ càng trở nên khó khăn, gây ảnh hưởng rất lớn đến sự điều hành
thành công chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu ở một quốc gia.
IV. Những vấn đề đặt ra về xử lý bội chi NSNN nhằm kiềm
chế lạm phát
Thực tế trong những năm qua, chúng ta đã kiểm soát được mức bội chi NSNN ở
giới hạn cho phép (không quá 5% GDP/năm) và nguồn vay chủ yếu chi đầu tư phát

sách (nhất là ngân sách các địa phương). Chúng ta có thể thấy, thông qua cơ chế
phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung từ
ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Ngân sách địa phương được phân cấp
nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và được xác định cụ thể trong dự toán
ngân sách hằng năm. Vì vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi bảo
đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành các công trình khi hoàn
thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, làm
giảm hiệu quả đầu tư. Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách, để công
trình vận hành và phát huy tác dụng, luôn phải đòi hỏi nhu cầu kinh phí cho hoạt
động. Để có nguồn kinh phí này hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêu
cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả hai trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN.
- Liệu có tồn tại vấn đề bội chi ngân sách địa phương ở Việt Nam hay không? Biện
pháp xử lý ra sao? Quản lý vấn đề này thế nào? Đó là những vấn đề cần được xem
23
xét kỹ càng hơn. Theo khoản 3, Điều 8, Luật NSNN năm 1996, ngân sách địa
phương được cân đối theo nguyên tắc tổng số chi không vượt quá tổng số thu,
trường hợp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhu cầu đầu tư kết cấu hạ
tầng thì được phép huy động vốn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và phải
cân đối vào ngân sách địa phương để trả nợ khi đến hạn. Luật NSNN sửa đổi năm
2002 mở rộng thêm quyền chủ động trong việc huy động vốn của ngân sách địa
phương. Vay vốn đầu tư thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5 năm do hội đồng
nhân dân tỉnh quyết định (không phải theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
quy định như trước đây). Như vậy, mặc dù chúng ta chấp nhận về nguyên tắc là
không có việc bội chi ngân sách địa phương nhưng thực tế lại vẫn cho phép địa
phương vay để đầu tư.
Vấn đề là ở chỗ, hiện nay, các địa phương vay vốn để đầu tư theo quy định tại
khoản 3 Điều 8 của Luật NSNN tương đối lớn và chưa được quản lý một cách chặt
chẽ. Với nhiều địa phương đây là điều kiện để tăng cường cơ sở vật chất, tạo điều
kiện phát triển kinh tế. Điều đáng lưu ý là trong khi nguồn vốn ngân sách hiện có
chưa tận dụng hết, các địa phương vẫn tiến hành vay vốn; tỷ lệ vốn vay chiếm tỷ

2 - Giải quyết tốt mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên, nhất
là ngân sách các địa phương. Do vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư, sẽ
kiên quyết không bố trí nguồn chi thường xuyên cho việc vận hành các công trình
khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công
trình, làm giảm hiệu quả đầu tư. Có như vậy, các địa phương phải tự cân đối nguồn
kinh phí này chứ không thể yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status