BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI 10
TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ
MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT
MỤC TIÊU VÀ NỢ CÔNG
GVHD: GV. TRƯƠNG MINH TUẤN
LỚP: VB 15K1001
NHÓM
1. Nguyễn Dương Bích Phụng 57
2. Ngô Thị Thanh 64
3. Hà Thị Thu Trang 73
4. Nguyễn T. Phương Ngọc Huyền 22
5. Đặng Thị Phương Thảo 65
TP. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2012
Đề tài: Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và nợ công
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN 1: LẠM PHÁT MỤC TIÊU 3
I.Đặc nh chung của cơ chế lạm phát mục êu 3
1.Kỹ thuật xác định chỉ số mục êu (hay lạm phát mục êu) 4
2.Điều kiện thực hiện 5
3.Quy trình thực hiện 6
II.Kinh nghiệm của thế giới về sử dụng lạm phát mục êu 6
1.Vấn đề về kỹ thuật 6
a.Công bố mục êu lạm phát 6
b.Xác định chỉ số lạm phát mục êu 7
2.Hệ thống báo cáo 10
trước tiên chúng ta phải có những hiểu biết cơ bản về nợ công, lạm phát mục tiêu
và mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và nợ công.
PHẦN 1: LẠM PHÁT MỤC TIÊU
I. Đặc tính chung của cơ chế lạm phát mục tiêu
Lạm phát mục tiêu có thể được miêu tả như một cơ chế điều hành chính sách
tiền tệ (CSTT) dựa trên nền tảng sử dụng việc dự báo lạm phát làm chỉ số mục tiêu
trung gian. Ngân hàng trung ương (NHTƯ) sẽ dự báo xu hướng lạm phát năm tới
để đưa ra chỉ số lạm phát mục tiêu (định hướng bằng một chỉ số hoặc một khoảng
biên độ) cho năm kế hoạch mà không có trách nhiệm thực hiện bất cứ chỉ tiêu nào
khác. Trong giới hạn của mình, NHTƯ có thể linh hoạt lựa chọn và sử dụng bất kỳ
các công cụ để chỉ đạt một mục tiêu duy nhất - chỉ số lạm phát mục tiêu.
Trang 3
Đề tài: Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và nợ công
Tuy nhiên, nhược điểm thứ nhất của cơ chế lạm phát mục tiêu là khi năng lực
điều tiết của CSTT không cao sẽ đẩy NHTƯ vào vòng luẩn quẩn trong việc lựa
chọn ưu tiên giữa các cơ chế điều hành (tỷ giá, lạm phát và khối lượng tiền) của
CSTT. Thứ hai, khi áp dụng lạm phát mục tiêu, NHTƯ sẽ phải chịu trách nhiệm
chính thức, vô điều kiện trong việc thực hiện CSTT để đạt được chỉ số mục tiêu
dựa trên chỉ số dự báo lạm phát do chính NHTƯ đưa ra. Khi đó dự báo lạm phát
được xem như là mục tiêu trung gian của CSTT, vì vậy không ít người đã không đề
cập đến lạm phát mục tiêu mà chỉ nói đến dự báo lạm phát mục tiêu (inflation
forecast targeting).
1. Kỹ thuật xác định chỉ số mục tiêu (hay lạm phát mục tiêu)
1. Lựa chọn loại chỉ số giá (dựa trên mức độ giá cả hoặc tỷ lệ lạm phát); 2. Hình
thành mục tiêu; 3. Tính toán xu hướng lạm phát năm sau; 4. Ưu việt cơ bản nhất
của lạm phát mục tiêu là nó không bị can thiệp bởi các chỉ số kinh tế vĩ mô khác
như các mục tiêu trung gian truyền thống (M2, M3 hay tỷ giá). Một sự khác biệt
nữa với các cơ chế điều hành khác là nó tạo cho NHTƯ sự tự do và linh hoạt trong
việc điều hành CSTT. Ví dụ trong trường hợp lấy khối lượng tiền hoặc tỷ giá lạm
mục tiêu trung gian, công chúng và các doanh nghiệp có thể kiểm soát dễ dàng và
Hơn nữa, sự thoát khỏi ngân sách chi phối cũng ngụ ý rằng chính phủ phải có
cơ sở nguồn thu rộng rãi và không phải đưa một cách có hệ thống vào nguồn thu từ
in tiền. Nếu chi phối về mặt tài khoá tồn tại thì chính sách thuế khoá sẽ gây áp lực
đến lạm phát và thổi bay hiệu quả của CSTT. Trên thực tế, điều này được thể hiện
qua việc chính phủ không muốn làm mếch lòng công chúng bằng việc yêu cầu
NHTƯ, ví dụ, giảm lãi suất để tăng thuế.
Trang 5
Đề tài: Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và nợ công
Thứ hai, NHTƯ phải có khả năng thực hiện lạm phát mục tiêu cũng như không
có trách nhiệm với các mục tiêu khác như: tiền lương, mức thất nghiệp hay tỷ giả.
Ví dụ, nếu một quốc gia duy trì chế độ tỷ giá cố định, trong điều kiện các luồng
vốn dịch chuyển mạnh như hiện nay thì không thề cùng một lúc thực hiện được
lạm phát mục tiêu. Hơn nữa là khi NHTƯ duy trì cùng lúc hai hay nhiều mục tiêu
thì thị trường không hiểu trong trường hợp xấu đi, mục tiêu nào sẽ được ưu tiên
thực hiện. Ví dụ, khi xuất hiện mối đe doạ đến tỷ giá, NHTƯ buộc phải lựa chọn:
hoặc duy trì tỷ giá cố định, từ bỏ mục tiêu lạm phát; hoặc bảo vệ chỉ tiêu lạm phát
kế hoạch, hy sinh tỷ giá cố định. Tóm lại, ngồi ''trên hai ghế" không bao giờ nhận
được ''vương miện'' thành công.
3. Quy trình thực hiện
Về lý thuyết, lạm phát mục tiêu có một quy trình khá đơn giản, bản chất của nó bao
gồm: NHTƯ dự báo xu hướng lạm phát năm sau; dự báo này được so với chỉ số
mục tiêu mà NHTƯ mong muốn đạt được; khoảng cách chênh lệch giữa chỉ số dự
báo và chỉ số mục tiêu sẽ nói lên mức độ mà CSTT cần điều chỉnh. Tuy nhiên trên
thực tế, vấn đề kỹ thuật thực hiện quy trình này rất phức tạp và cũng có sự khác
nhau rõ rệt giữa các quốc gia.
II. Kinh nghiệm của thế giới về sử dụng lạm phát mục tiêu
1. Vấn đề về kỹ thuật
a. Công bố mục tiêu lạm phát
Khi tiếp cận với việc công bố chỉ số lạm phát mục tiêu, ta có thể thấy rõ sự khác
nhau giữa các quốc gia. Cơ quan công bố, chỉ số lạm phát mục tiêu có thể do
Đề tài: Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và nợ công
đến 36 tháng. Phương án thứ hai, lạm phát mục tiêu dựa trên quy luật kinh nghiệm.
Phương pháp này phụ thuộc ở tầm nhìn "sâu'' vào tương lai của NHTƯ cũng như
các vấn đề thay đổi, của nền kinh tế mà như quan tâm, hay nói cách khác là số
lượng'' giai đoạn mà NHTƯ có thể dự báo về tình trạng phát triển của nền kinh tế.
Ngoài ra, việc xác định tầm nhìn mục tiêu phụ thuộc rất nhiều tỷ lệ lạm phát tại
thời điểm bắt đầu thực hiện cơ chế lạm phát mục tiêu. Ví dụ như Canađa và Niu
Dilân; bước thứ nhất, họ bắt đầu sử dụng lạm phát mục tiêu như một liều thuốc
chống lạm phát, độ dài mục tiêu là 18 tháng. Bước tiếp theo, mục tiêu là tiếp tục
đạt được mức lạm phát thấp hơn với khoảng thời gian là 12 tháng đối với NiuDilân
và trong 18 tháng đối với Canađa. Sau khi đạt được thành công về giá trị của chỉ số
có lợi cho nền kinh tế trong kế hoạch dài hạn, chỉ số mục tiêu nên được duy trì ở
mức cố định trong một quãng thời gian. Năm năm là khoảng thời hạn mà NHTƯ
của Niu Dilân đề ra, tại Canađa cũng tương tự như vậy - đây là khoảng thời gian
cần thiết để hiểu rõ hơn chuyển động của nền kinh tế trong điều kiện lạm phát thấp
và qua đó nói lên tính ổn định giá cả trên thực tế.
Chỉ số giá cả. Thực tế hầu hết các nước khi đánh giá lạm phát đều sử dụng chỉ
số giá cả tiêu dùng (CPI) làm công cụ nền tảng, bởi CPI có những lợi thế riêng
như: tính quảng bá tương đối rộng đối với xã hội, được công bố và tính toán
thường xuyên. Nhưng bên cạnh đó, NHTƯ không hiếm khi đưa ra chỉ số giá cả
khác mà nó chính là CPI hoặc CPI đã loại trừ một số yếu tố - chỉ số điều chỉnh này
thường được gọi là chỉ số lạm phát cơ bản (core inflation).
Thông thường, CPI bao gồm những nhóm hàng hóa và dịch vụ. Có nhiều mặt
hàng mà giá cả của nó là những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của NHTƯ. Vì
nguyên nhân này nên trong quá trình kiểm soát, NHTƯ cần điều chỉnh hoặc loại bỏ
khỏi CPI những nhóm mặt hàng hoặc dịch vụ mà giá của chúng hoặc do chính phủ
Trang 8
Đề tài: Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và nợ công
điều chỉnh hoặc thường bị dao động, hay nói cách khác, nó không phụ thuộc vào
tác động của NHTƯ. Trên thực tế, ngoài việc điều chỉnh giá của chính phủ, thì
Như vậy, phương án lựa chọn biên độ phụ thuộc vào khả năng kiểm soát lạm phát
của NHTƯ và các quốc gia cần tìm ra cho mình một biên độ tối ưu: nếu biên độ
hẹp - rất khó duy trì; biên độ rộng - phản ánh năng lực yếu kém của NHTƯ.
2. Hệ thống báo cáo
Lạm phát mục tiêu không chỉ là mục tiêu điều hành của CSTT mà còn có ý
nghĩa đánh giá hoạt động bản thân của NHTƯ. Nếu NHTƯ đạt được thành công về
giá trị mục tiêu cũng về như thời hạn đặt ra thi có thể nói rằng NHTƯ hoạt động
hiệu quả. Điều này chỉ có thể được kiểm tra thông qua mức công khai và minh
bạch trong hoạt động của NHTƯ. Tại nhiều quốc gia, Thống đốc NHTƯ đều đặn
hàng năm báo cáo trước Nghị viện (ở Việt Nam là Quốc hội) - đây là một phương
pháp kiểm soát hữu hiệu của xã hội về hoạt động tiền tệ của cơ quan quản lý tiền
tệ. Hệ thống báo cáo của Niu Di lân được rất nhiều NHTƯ các nước áp dụng
nguyên mẫu. Từ năm 1989 ban điều hành Ngân hàng Reserve của Niu Dilân định
kỳ 6 tháng công báo rộng rãi kết quả phân tích mục tiêu năm sau và xem xét chiến
lược hoạt động 6 tháng tiếp theo. Còn Ngân hàng của Vương quốc Anh và Ngân
hàng Riksbank của Thụy Điển đều đặn công bố báo cáo phân tích tình hình hiện tại
và dự báo lạm phát năm tới. Trong số các cơ quan quản lý tiền tệ, Ngân hàng của
Vương quốc Anh thực hiện đều đặn nhất, cơ quan quản lý tiền tệ nước này cứ 5-6
tuần lại trình báo cáo kên Uỷ ban chính sách tiền tệ
Trang 10
Đề tài: Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và nợ công
III. Khả năng áp dụng lạm phát mục tiêu tại các nước đang phát triển
1. Những đòi hỏi ban đầu
Có một câu hỏi đặt ra các nước đang phát triển có nên áp dụng lạm phát mục
tiêu không? Như chúng ta đều biết, các nước đang phát triển có những điếm giống
và khác nhau riêng biệt, đặc biệt là trong CSTT và thị trường vốn. Một mặt, các
nước có chung sự thay đổi: cải tổ thị trường vốn, mở cửa tham gia vào các thị
trường vốn quốc tế, nâng cao tác dụng các công cụ gián tiếp của CSTT v.v Mặt
khác, các nước khác nhau rõ rệt về các chỉ số như: tỷ lệ lãi suất, mức độ phát triển
thị trường vốn nội địa, thu nhập trên đầu người v.v Như vậy sẽ rất khó khăn
chính sách tín dụng nhằm kích thích đầu tư vào khu vực sản xuất để tăng nguồn
thu từ thuế. Việc làm này dần dần sẽ dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống tài chính. Một
cách thức đơn giản nhất thể hiện sự yếu kém của hệ thống tài chính, ở những nơi
xuất hiện ngân sách chi phối, và buộc trách nhiệm của ngân hàng vào việc phát
hành giấy tờ có giá Chính phủ.
Hệ thống ngân hàng. Một vấn đề nữa gây khó khăn cho việc áp dụng lạm phát
mục tiêu tại các nước đang phát triển là hệ thống ngân hàng dễ đổ vỡ đây là một hệ
quả rõ rệt của trấn áp tài chính dài hạn. Sẽ cần thiết củng cố khu vực ngân hàng
cũng có thể dẫn đến xung đột nguyên tắc ổn định giá cả. Để nâng cao tính thanh
khoản cho hệ thống ngân hàng, điều thường xảy ra tại các nước đang trong giai
đoạn chuyển đổi việc "rót vốn'' sẽ làm tăng tổng tiền cung ứng ngoài kế hoạch, và
cuối cùng nó sẽ phá tan mọi kế hoạch duy trì giá cả ổn định của NHTƯ.
Trang 12
Đề tài: Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và nợ công
Mặt khác cũng cần ghi nhận rằng, sau khi cải tổ khu vực tài chính thì hệ thống
Ngân hàng có thể sẽ độc lập tương đối, với những tác động của CSTT và như vậy
xung đột giữa hai mục tiêu sẽ xảy ra: ổn định giá cả và phục hồi thu nhập của khu
vực ngân hàng. Chỉ có thể tránh khỏi điều này chỉ bằng một con đường - đặt mục
tiêu ổn định kinh tế lên trước thời kỳ tự do hóa tài chính.
2. Sự xung đột với các mục tiêu khác
Tại những nước đang phát triển có thị trường tài chính hoạt động tương đối tốt,
lạm phát ở mục vừa phải và không có dấu hiệu cho thấy tình trạng ngân sách chi
phối, thì sự độc lập của CSTT phụ thuộc chủ yếu vào chế độ tỷ giá hối đoái và khả
năng dịch chuyển của các luồng vốn. Mặc dù hiện nay, chế độ tỷ giá cố định đã
ngày càng ít nhưng chế độ ty giá thả nổi hoàn toàn trên thực tế cũng không được áp
dụng phổ biến. Thông thường các quốc gia lựa chọn thực hiện chế độ tỷ giá có
quản lý và các nước đang phát triển cũng không ngoại lệ. Trong những thập kỷ 90,
trào lưu áp dụng tỷ giá linh hoạt được rất nhiều nước đang phát triển áp dụng.
Nhưng chế độ tỷ giá linh hoạt mà nhiều nước đang phát triển áp dụng tại không
làm cơ quan quản lý tiền tệ đánh giá thấp hơn tầm quan trọng đối với mục tiêu tỷ
an toàn mà EU đưa ra; nguy cơ vỡ nợ công
ở
Hy lạp (152%GDP), Italy (120%
GDP), Tây Ban Nha cũng đã lan tỏa và có những tác động tiêu cực tới những
quốc gia hàng đầu EU khác như:
Đ
ức (82%GDP), Pháp (92% GDP), Anh (80%
GDP)
1
Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của chính phủ; khi chi tiêu của chính phủ
lớn hơn số thuế, phí, lệ phí thu được, Nhà nước phải đi vay (trong hoặc ngoài
nước) để trang trải thâm hụt ngân sách. Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và
lãi khi đến hạn, Nhà nước sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp. Vì vậy, xét cho cùng
nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gian đánh thuế. Vay nợ thực chất là cách đánh thuế
dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng để tài trợ cho các hoạt động chi
ngân sách. Nợ chính phủ thể hiện sự chuyển giao của cải từ thế hệ sau (thế hệ phải
trả thuế cao) cho thế hệ hiện tại (thế hệ được giảm thuế). Theo khía cạnh này có
hai quan điểm cơ bản về nợ công.
Trang 14
Đề tài: Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và nợ công
Theo quan điểm truyền thống về nợ công, đại diện là Keynes, cho rằng, việc
vay nợ của chính phủ làm giảm tiết kiệm của quốc gia và mức tích luỹ vốn, vì số
thuế cắt giảm được bù đắp bằng cách vay nợ nên khuyến khích thế hệ hiện tại tiêu
dùng nhiều hơn, số người thất nghiệp giảm đi mặc dù lạm phát có thể cao hơn. Tuy
nhiên, vay nợ để lại gánh nặng nợ cho thế hệ tương lai.
Trái ngược với quan điểm trên, những người theo quan điểm kinh tế học vĩ mô
cổ điển (hình thành từ thập niên 1970), đứng đầu là Ricardo-Barro cho rằng, biện
pháp cắt giảm thuế được bù đắp bằng nợ chính phủ không kích thích chi tiêu trong
ngắn hạn, vì không làm tăng thu nhập thường xuyên của các cá nhân mà chỉ làm
thập kỷ 80 của Thế kỷ XX. Năm 1982, Mê-hi-cô là quốc gia đầu tiên tuyên bố
không trả được nợ vay IMF. Đến tháng 10/1983, 27 quốc gia với tổng số nợ lên tới
240 tỷ USD đã tuyên bố hoặc chuẩn bị tuyên bố hoãn trả nợ. Tuy nhiên, đến nay
xung quanh khái niệm và nội hàm của nợ công vẫn còn nhiều quan điểm chưa
thống nhất với nhau.
Theo Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF):
Theo nghĩa rộng, nợ công là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa
vụ nợ của chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung
ương và các tổ chức độc lập (nguồn vốn hoạt động do ngân sách Nhà nước
(NSNN) quyết định hay trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước, và trong trường hợp
vỡ nợ nhà nước phải trả nợ thay).
Theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm nghĩa vụ nợ của chính phủ trung ương, các
cấp chính quyền địa phương và nợ của các tổ chức độc lập được chính phủ bảo
lãnh thanh toán.
Trang 16
Đề tài: Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và nợ công
Tùy thuộc thể chế kinh tế và chính trị, quan niệm về nợ công ở mỗi quốc
gia cũng có sự khác biệt. Tại hầu hết các nước trên thế giới, Luật Quản lý nợ công
đều xác định nợ công gồm nợ của chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh. Một
số nước, nợ công còn bao gồm nợ của chính quyền địa phương (Bungari,
Rumani…), nợ của doanh nghiệp nhà nước phi lợi nhuận (Thái Lan,
Macedonia…).
III. Tác động của nợ công đối với nền kinh tế
1. Mặt tích cực
Chính phủ các quốc gia có thể sử dụng nợ công như là một công cụ để tài trợ
vốn, đáp ứng nhu cầu đầu tư cho các dự án, công trình trọng điểm quốc gia,
khuyến khích phát triển sản xuất, kích thích tăng trưởng kinh tế. Giải pháp tăng nợ
công để bù đắp thâm hụt ngân sách do cắt giảm thuế có thể sẽ góp phần kích thích
tiêu dùng, tăng sản lượng, việc làm, tăng tổng sản phẩm quốc dân trong ngắn hạn.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong dài hạn, một khoản nợ chính phủ lớn cũng là
Bên cạnh đó, để cứu trợ cho khủng hoảng nợ công của Hy Lạp, khu vực tư
nhân đã đóng góp 50 tỉ euro trong tổng gói cứu trợ thứ hai trị giá 109 tỉ euro (155 tỉ
USD) của IMF nhằm tái cấu trúc các khoản nợ, ngăn chặn sự lây lan sang các nền
kinh tế Châu Âu khác, củng cố lại giá trị của đồng Euro
b. Nợ công làm giảm tiết kiệm quốc gia(national saving)
Thu nhập quốc gia (Y) được xác định tương đương với tổng sản lượng quốc dân
(GDP) theo công thức: Y = C + S + T = C + I + G + NX = GDP (1)
Trong đó: Y: thu nhập quốc gia; C: Tiêu dùng tư nhân; S: tiết kiệm tư nhân; T:
thuế trừ đi các khoản thanh toán; I: đầu tư nội địa, G: Chi tiêu của chính phủ, NX:
Xuất khẩu ròng.
Như vậy: S + (T-G) = I + NX (2) Hay: T- G = I + NX - S (3)
Trang 19
Đề tài: Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và nợ công
Phương trình (3) chỉ ra rằng, khi ngân sách nhà nước thâm hụt (T-G<0) tức I + NX
< S, như vậy, những khả năng có thể xảy ra là: Tiết kiệm tư nhân (S) tăng, đầu tư
nội địa (I) giảm và xuất khẩu ròng (NX) giảm. Khi chính phủ tăng vay nợ để bù
đắp thâm hụt, chúng ta lần lượt xem xét những khả năng này có thể xảy ra và sự
tác động của nó đến tiết kiệm quốc gia:
(1) Tiết kiệm tư nhân tăng (S): Trong thực tế, một số nhà kinh tế học lập luận rằng,
tiết kiệm tư nhân sẽ tăng chính xác bằng lượng giảm của tiết kiệm của chính phủ.
Tuy nhiên trong trường hợp này, chúng ta tạm thời giả định tiết kiệm tư nhân tăng
ít hơn phần tiết kiệm của chính phủ giảm, chính vì vậy mà tiết kiệm quốc gia giảm.
(2) đầu tư nội địa giảm (I): đầu tư nội địa giảm dẫn đến đầu ra là tổng vốn nội địa
giảm. Lượng vốn ít, lãi suất tăng, chi phí biên của sản phẩm trên mỗi đồng vốn sẽ
cao hơn, năng suất lao động sụt giảm, từ đó làm giảm mức lương và thu nhập trung
bình dẫn đến giảm tiết kiệm quốc gia.
(3) Xuất khẩu ròng giảm (NX): Khi chính phủ tăng vay nợ, lãi suất trong nước tăng
tương đối so với lãi suất nước ngoài, dẫn tới luồng tiền từ nước ngoài đổ vào trong
nước tăng khiến cho tỷ giá hối đoái tăng, làm cho giá của hàng hóa sản xuất trong
nước đắt hơn hàng hóa nước ngoài, trở nên kém cạnh tranh hơn trên thị trường
Khi tăng vay nợ trong nước, lãi suất tăng làm tăng chi phí đầu tư, tăng giá thành
và giá bán sản phẩm. Bên cạnh đó lãi suất tăng, người nắm giữ trái phiếu chính phủ
Trang 21
Đề tài: Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và nợ công
cảm thấy mình trở nên giàu có hơn và có thể tiêu dùng nhiều hơn. Tiêu dùng tư
nhân tăng, chi tiêu công của chính phủ tăng dẫn đến cầu hàng hóa, dịch vụ tăng,
tạo áp lực lạm phát trong ngắn hạn, từ đó tác động tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng
thực của nền kinh tế (bằng tốc độ tăng trưởng danh nghĩa trừ tỷ lệ lạm phát).
Khi chính phủ tăng vay nợ nước ngoài, một dòng ngoại tệ lớn sẽ chảy vào trong
nước có thể giảm sức ép cân đối ngoại tệ trong ngắn hạn. Về mặt dài hạn, áp lực
trả nợ cả gốc và lãi bằng ngoại tệ sẽ đẩy cầu ngoại tệ tăng lên, đồng nội tệ giảm giá
làm tăng chi phí đầu vào khi nhập khẩu nguyên liệu, máy móc, thiết bị dẫn tới
nguy cơ lạm phát. Tỷ giá tăng làm chi phí thanh toán nợ trở nên đắt đỏ hơn, nếu
vượt quá sức chịu đựng của ngân sách sẽ dẫn đến nguy cơ vỡ nợ.
d. Nợ công làm méo mó các hoạt động kinh tế, gây tổn thất phúc lợi xã hội.
Dù chính phủ lựa chọn phương án vay nợ trong nước hay vay nước ngoài thì
đều có tác động làm méo mó các hoạt động kinh tế, gây tổn thất phúc lợi xã hội.
Nếu vay nước ngoài, nguồn để trả nợ cả gốc và lãi chỉ có thể lấy từ các khoản
thu thuế. Người dân phải chịu một khoản thuế cao hơn trong tương lai để trả lãi
cho các đối tượng ngoài quốc gia sẽ làm giảm thu nhập, giảm tiêu dùng từ đó
giảm chất lượng cuộc sống.
Vay trong nước có thể được coi là ít tác động hơn bởi lý do chính phủ nợ chính
công dân nước mình và cũng chính họ là người được hưởng thụ các lợi ích do các
khoản chi tiêu công tạo ra. Tuy nhiên, ngay cả khi một người bị đánh thuế để trả lãi
cho chính họ do đang sở hữu trái phiếu chính phủ thì vẫn có những tác động khiến
cho các hoạt động kinh tế của người đó bị bóp méo. Dù cho Chính phủ dùng loại
thuế nào (thuế thu nhập, thuế tiêu dùng, thuế tài sản…), đánh thuế dưới hình thức
nào (trực tiếp, gián tiếp) cũng sẽ dẫn đến những sai lệch trong các hoạt động kinh
tế của một cá nhân như thay đổi hành vi tiết kiệm, tiêu dùng, từ đó ảnh hưởng đến
Trang 22
r
ị hoặc khả năng lãnh đạo quốc gia Các
quốc gia phải chịu sức ép từ phía chủ nợ và các tổ chức tài chính quốc tế
v
ề việc
Trang 23
Đề tài: Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và nợ công
phải thắt chặt chi tiêu, tăng thuế, giảm trợ cấp xã hội, và xa hơn nữa là những
yêu cầu về cải cách thể chế, thay đổi bộ máy quản lý, thay đổi các định hướng
kinh tế Ngoài ra, việc lệ thuộc quá nhiều vào các khoản vay nợ nước ngoài
cũng sẽ làm giảm vị thế của quốc gia trong các mối quan hệ song phương, đa
phương với các đối tác là các nước chủ nợ.
IV. Gánh nặng nợ công lên thế hệ tương lai
Một số nhà kinh tế học cho rằng gánh nặng của nợ công không thể chuyển giao
lên thế hệ tương lai nhưng có thể đè nặng lên chính thế hệ hiện tại. Bởi khoản vốn
tích lũy và việc tiêu dùng của họ đã bị thay thế bởi các khoản nợ của chính phủ.
Nhưng thực tế chúng ta đều nhận thấy rằng, họ làm điều đó một cách tự nguyện, họ
mua trái phiếu chính phủ chỉ với kỳ vọng sẽ được nhận được một khoản lãi- một
cơ hội tiêu dùng lớn hơn trong tương lai.
Giả định rằng thế hệ tương lại phải đóng thuế để trả lãi cho các khoản nợ, như
vậy họ phải chịu đựng một sự giảm thật sự của thu nhập mà không có sự bù đắp
bởi sự tiêu dùng được tăng lên trong tương lai. Gánh nặng của nợ công chính là sự
giảm trợ cấp cho những người đóng thuế trong tương lai- họ sẽ phải đóng nhiều
thuế hơn để trả lãi thay vì nhận được các hàng hóa và dịch vụ từ phía chính phủ
cho những khoản thuế này.
Thế hệ tương lai cũng phải chịu đựng sự sụt giảm về chất lượng cuộc sống do
những hệ quả của nợ công gây ra. Nợ công làm lãi suất tăng và giảm đầu tư tư
nhân, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm hơn, cơ hội việc làm cũng như thu nhập
trong khu vực tư nhân cũng sẽ bị giảm đi.
Gánh nặng của nợ công cũng có thể được bù đắp nếu các khoản vay nợ được sử