Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái - Pdf 35

Đề tài 04 - Nhóm 16

GVHD: Thầy Trương Minh Tuấn

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA KẾ TOÁN

TIỂU LUẬN MÔN
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ
Đề tài số 04:

Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giữa
lạm phát và tỷ giá hối đoái

GVHD: Thầy Trương Minh Tuấn
NHÓM: 16

STT

Chữ ký SV

1. Trần Thị Thanh Loan

68

..………………

2. Lê Trần Hạnh

27


hại. Xong để có thể kiềm chế lạm phát là điều không hề đơn giản và đó là bài
toán nan giải của rất nhiều nước trên thế giới hiện nay.
Tăng trưởng kinh tế bền vững và ổn định lạm phát ở mức thấp đó là mục
tiêu hàng đầu của điều tiết vĩ mô ở tất cả các nước. Không có gì đáng ngạc
nhiên khi câu hỏi có sự tồn tại và bản chất của mối quan hệ của lạm phát và các
yếu tố khác trong đó có yếu tố về tỷ giá hối đoái đã được các nhà kinh tế hoạch
định chính sách đặc biệt quan tâm và trở thành trung tâm của nhiều cuộc tranh
luận về chính sách.
Chính vì những tác hại to lớn do lạm phát gây ra cho nền kinh tế mà việc
nghiên cứu lạm phát là một vấn đề cần thiết và cấp bách đối với nền kinh tế đặc
biệt là nền kinh tế thị trường còn non nớt như nền kinh tế nước ta. Chúng ta cần
phải tìm hiểu xem lạm phát là gì? Do đâu ma có lạm phát? Tại sao người ta lại
quan tâm đến lạm phát? Hay tỷ giá hối đoái là gì? Mối quan hệ giữa lạm phát và
tỷ giá hối đoái là như thế nào?
Bài tiểu luận sẽ điểm lại một cách có hệ thống các lý thuyết, các bằng
chứng thực nghiệm về lạm phát và mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái
để qua đó đưa ra cái nhìn khách quan về các nghiên cứu của đề tài trên .

Page 2


Đề tài 04 - Nhóm 16

GVHD: Thầy Trương Minh Tuấn

Chương I
Một số vấn đề lý luận về lạm phát, tỷ giá hối đoái và mối quan hệ giữa
lạm phát và tỷ giá hối đoái
I. Các vấn đề của lạm phát
1. Lạm phát là gì?


Lại có quan điểm cho rằng lạm phát là sự tăng giá của các loại hàng hóa
(tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất và hàng hóa sức lao động). Lạm phát xảy ra
khi mức chung của giá cả và chi phí tăng. Theo quan điểm này thì giá cả tăng
lên cho dù bất kỳ nguyên nhân nào đều là lạm phát. Lạm phát và giá cả tăng đều
cùng một ý nghĩa. Thật ra giá cả đồng loạt tăng lên chỉ là một trong những biểu
hiện cơ bản của lạm phát mà thôi.
Vậy lạm phát là gì? Lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá
nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, giá cả của hầu hết các lại hàng hóa
tăng lên đồng loạt.
2. Phân loại lạm phát
- Lạm phát 1 con s ố (dưới 10%): lạm phát vừa phải. Lạm phát ở mức độ
này không gây ra những tác động đáng kể đối với nền kinh tế.
- Lạm phát 2 con s ố (từ 10% đến dưới 100%): lạm phát phi mã. Loại này
khi phát triển chín mùi sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng.
- Lạm phát 4 con s ố trở lên (từ 100% trở lên): siêu lạm phát. Lạm phát mức
độ này thường xảy ra những thiệt hại nghiêm trọng và sâu sắc, tuy nhiên
chúng cũng ít khi xảy ra.
3. Nguyên nhân gây ra lạm phát
Lạm phát khởi thủy từ những nguyên nhân khác nhau. Thứ nhất là lạm
phát có thể xảy ra do tác động chủ quan của hệ thống tiền tệ - tín dụng - ngân
hàng, bất cứ một sự biến đổi nhỏ nào của hệ thống này đều có tác động hoặc
tăng hoặc giảm tỷ lệ lạm phát. Thứ hai là lạm phát cũng chịu ảnh hưởng của
một số điều kiện khách quan khác như chính trị xã hội, thiên tai bão lũ, … Do
chịu tác động của nhiều yếu tố trong nền kinh tế như vậy nên hiện tượng lạm
phát diễn biến hết sức phức tạp đòi hỏi trong quá trình tăng trưởng và chống
lạm phát phải có chiến lược đúng đắn đảm bảo lạm phát luôn nằm trong quỹ đạo
mà nền kinh tế có thể kiểm soát được. Lạm phát xuất hiện cũng gây ra nhiều
hậu quả đến nền kinh tế , nó không nững làm suy giảm hiệu quả hoạt đọng của
hệ thống tài chính mà còn tác động trực tiếp đến đời sống chính trị, văn hóa, xã

đoái
Tỷ giá hối đoái không chỉ tác động đến những cân bằng bên ngoài mà còn
tác động đến cả những cân đối bên trong nền kinh tế. Đây được coi là cơ sở cho
việc lựa chọn chính sách tỷ giá hối đoái hiện nay được các chính phủ các nước
rất quan tâm, chú trọng.
1. Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một quốc gia tính
bằng tiền tệ của một nước khác, hay là quan hệ so sánh về mặt giá cả giữa hai
Page 5


Đề tài 04 - Nhóm 16

GVHD: Thầy Trương Minh Tuấn

đồng tiền của các quốc gia khác nhau. Nó là một phạm trù kinh tế bắt buộc từ
nhu cầu trao đổi hàng hóa, dịch vụ phát sinh trực tiếp từ quan hệ tiền tệ giữa các
quốc gia. Về cơ bản, phân tích vấn đề tỷ giá cần tập trung chú trọng vào hai vấn
đề cơ bản sau: các nhân tố tác động đến sự biến động của tỷ giá hối đoái và các
chế độ tỷ giá hối đoái.
2. Các nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái
Ngày nay, tỷ giá hối đoái biến động rất thường xuyên và thất thường. Sự
tăng hay giảm của tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng rất nhiều của các nhân tố khác
nhau, trong đó chia ra lam 2 dạng là: nhân tố cơ bản làm thay đổi tỷ giá hối đoái
ngắn hạn và nhân tố dài hạn.
- Những nhân tố cơ bản làm thay đổi tỷ giá hối đoái dài hạn: mức giá
tương đối, chính sách bảo hộ, sở thích của người tiêu dung và năng suất
lao động.
- Những nhân tố cơ bản làm thay đổi tỷ giá hối đoái ngắn hạn: mức chênh
lệch lạm phát, những dự đoán về tỷ giá hối đoái.

chỉnh tỷ giá hối đoái đặt tới mục tiêu cần thiết. Về cơ bản, chính sách tỷ giá hối
đoái gồm hai vấn đề lớn: một là vấn đề lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái và hai là
vấn đề điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
III. Những vấn đề lý luận chung về mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá
hối đoái
Đồng tiền ổn định và tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng trong chính
sách tiền tệ, ổn định và phát triển kinh tế, nó là mục tiêu của chính sách kinh tế
mà mọi quốc gia đều hướng tới. Đồng tiền ổn định và tỷ giá hối đoái hợp lý sẽ
tạo điều kiện cho sự duy trì, mở rộng và phát triển các mối quan hệ kinh tế trong
và ngoài nước, giúp cho nền kinh tế có điều kiện hội nhập khu vực và thế giới
ngày càng mạnh mẽ hơn.
Tỷ giá hối đoái chọi tác động của nhiều nhân tố, trong đó hai nhân tố
quan trọng nhất là sức mua của đồng tiền và tương quan cung cầu ngoại tế. Khi
lạm phát tăng, sức mua đồng nội tệ giảm so với đồng ngoại tệ, làm cho tỷ giá
hối đoái của đồng ngoại tệ so với đồng nội tệ tăng (hay tỷ giá đồng nội tệ so với
ngoại tệ giảm) và ngược lại. Nếu đồng nội tệ giảm, tỷ giá hối đoái cao có tác
dụng:
- Kích thích các hoạt động xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, góp phần tăng
thu ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán.
- Với tỷ giá hối đoái cao sẽ khuyến khích nhập khẩu vốn, kiều hối, hạn chế
các hoạt động chuyển ngoại tệ ra nước ngoài, kết quả là làm cho sức mua
của đồng nội tệ tăng lên.
Page 7


Đề tài 04 - Nhóm 16

GVHD: Thầy Trương Minh Tuấn

- Tỷ giá hối đoái cao cũng khuyến khích các hoạt động du lịch vào trong

Ilan Goldfajn và Sergio R.C. Werlang (1998) trong một nghiên cứu thực
nghiệm về Cơ chế truyền dẫn từ sự sụt giảm tỷ giá đến lạm phát theo khung dữ
liệu bảng đã thấy rằng có mối quan hệ giữa sự sụt giảm tỷ giá hối đoái và lạm
phát. Bài nghiên cứu của 2 tác giả này sử dụng số liệu thu thập từ 71 quốc gia
trong giai đoạn 1980-1998. Bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các nhân tố chính
quyết định đến hệ số truyền dẫn từ sụt giảm (hoặc sự gia tăng) tỷ giá hối đoái
đến lạm phát bao gồm các yếu tố mang tính chu kỳ cấu thành đầu ra của nền
kinh tế, mức độ mở cửa kinh tế, mức độ định giá cao tỷ giá hối đoái thực ban
đầu (RER – Real Exchange rate), tỷ lệ lạm phát ban đầu (Initial inflation).
Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã tìm ra hệ số truyền dẫn tăng khi thời gian
đo lường tăng lên và đạt đến đỉnh điểm tại thời điểm 12 tháng. Tác giả cũng chỉ
ra sự sai lệch trong việc đánh giá tỷ giá hối đoái thực là nhân tố quan trọng nhất
ảnh hưởng đến lạm phát tại các quốc gia thị trường mới nổi trong khi tỷ lệ lạm
phát ban đầu là nhân tố quan trọng nhất đối với các quốc gia phát triển. Bằng
cách sử dụng mô hình ước tính, bài nghiên cứu của hai tác giả này dự báo một
tỷ lệ lạm phát hơi cao hơn một chút so với thực tế quan sát được trong nhiều
trường hợp các quốc gia bị sụt giảm tỷ giá hối đoái mạnh, thậm chí ngay cả khi
có tính đến những phương pháp ước tính kỳ vọng tỷ giá hối đoái. Điều này cho
thấy rằng các nhà hoạch định chính sách nên thận trọng khi sử dụng các mô
hình trong quá khứ để dự báo tỷ lệ lạm phát sau khi tỷ giá hối đoái bị mất giá
mạnh.
A gnès Belaisch (2003), nghiên cứu Cơ chế truyền dẫn Tỷ giá hối đoái tại
Brazil. Ông kết luận rằng: (1) Sau 2 quý xảy ra cú shock về tỷ giá thì sẽ tác

Page 9


Đề tài 04 - Nhóm 16

GVHD: Thầy Trương Minh Tuấn

Page 10


Đề tài 04 - Nhóm 16

GVHD: Thầy Trương Minh Tuấn

thấy chỉ số giá tiêu dùng CPI (Costumer price index) sẽ bị tác động s au 10 tháng
khi xảy ra cú shock về tỷ giá. Và trong vòng 15 tháng kẻ từ lúc xảy ra cú shock
về tỷ giá thì sẽ không còn tác động đến Chỉ số giá tiều dùng CPI và giá nhập
khẩu (import price).
Ngoài ra còn có những bài nghiên cứu lớn về hệ số truyền dẫn từ giảm tỷ
giá hối đoái đến lạm phát (Dornbusch năm 1987, Feenstra et al 1994, 1989
Fisher, Goldberg và các cộng sự năm 1997, và Klein năm 1990). Ngoài ra còn
có một số công trình thực nghiệm về hệ số truyền dẫn cho quốc gia, khu vực cụ
thể (Amitrano và cộng sự năm 1997 và những người khác).
Theo một nghiên cứu về lạm phát trong tình trạng đô la hóa ở Việt Nam
của Michaël Goujon năm 2006 ( Fighting inflation in a dollarized economy: The
case of Vietnam. Journal of Comparative Economics 34 (2006) 564–581) thì có
ba kênh ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá lên lạm phát:
Thứ nhất, thay đổi tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng lên giá hàng hóa xuất
khẩu (tradables) và hàng hóa sản xuất và tiêu dùng trong nước (non-tradables)
(thông qua nhập khẩu các yếu tố đầu vào chẳng hạn). Giới nghiên cứu gọi là
hai ảnh hưởng này của tỷ giá lên lạm phát là nhóm ảnh hưởng chuyển tỷ giá hối
đoái lên lạm phát (exchange rate pass – through)
Thứ hai, biến động của tý giá hối đoái có ảnh hưởng trực tiếp đến cung
tiền. Sự mất giá của đồng nội tệ sẽ gia tăng cung tiền do giá trị bằng nội tệ của
các tài sản neo theo ngoại tệ tăng cùng với sự phá giá đồng tiền. Nói cách khác,
biến động tỷ giá ảnh hưởng đến chênh lệch tiền tệ giữa cung và cầu tiền tệ và
lạm phát.

thật sự thuận tiện cho việc dự báo ảnh hưởng lên lạm phát của thay đổi tỷ giá
hối đoái của một năm như chúng ta đang quan tâm.
Nghiên cứu thứ hai của Ngô Quang Thành, đăng trên Tạp chí Phát triển
Kinh tế số tháng 12/2010 với nhan đề “Vấn đề cơ cấu và không gian của lạm
phát ở Việt Nam”, sử dụng số liệu chéo của một năm 2006 từ thông tin lạm phát
và các yếu tố có liên quan của 64 tỉnh, thành phố của Việt Nam. Đối với ảnh
hưởng lên chỉ số CPI của riêng tỷ giá hối đoái giữa VND với USD, nghiên cứu
này cho thấy mối quan hệ dương. Về mặt định lượng: Trong điều kiện các y ếu
tố kh ác không thay đổi, trung bình, chỉ số tăn g tỷ giá hối đoái tại một địa
phương tăng 1%, chỉ số CPI của địa phương đó tăng 0,21%. Lưu ý rằng con số
0,21% này là tổng ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái lên giá hàng hóa xuất khẩu
Page 12


Đề tài 04 - Nhóm 16

GVHD: Thầy Trương Minh Tuấn

(tradables) và hàng hóa sản xuất và tiêu dùng trong nước (non-tradables) (hay
exchange rate pass – through).
Bên cạnh đó, nghiên cứu này còn chỉ ra tác động lan tỏa theo địa lý của
CPI giữa các địa phương. Trong trường hợp tỷ giá đoái VND với USD tăng 1%
tại một địa phương, CPI các địa phương còn lại tăng tổn g cộng khoảng 0,11%
điểm.
Tổng hợp lại, giả sử chỉ số tăng tỷ giá hố i đoái VND với USD tăng 1%
tại tất cả các địa phương, CPI trung bìn h của cả n ước có thể tăng lên đến khoảng
0,33% điểm trong một năm.
Trở lại chủ đề ảnh hưởng của quyết định thay đổi tý giá hối đoái của
NHNN ngày 11/02/2011, có thể dự báo rằng tỷ lệ CPI tăng do ảnh hưởng của
việc tỷ giá hối đoái tăng 9,3% trung bình khoảng 3,1% điểm. Đây là mức tăng

hóa, lạm phát sẽ được hạn chế. Bởi vậy khi lạm phát trầm trọng, tăng tỷ giá có
thể hạn chế được lạm phát.”
Giả sử tại thời điểm 01/01/2011, tỷ giá giữa VND và USD là
20.000VND/USD. Theo thuyết “Ngang giá sức mua“, tỷ giá giữa hai đồng tiền
sẽ được điều chỉnh, sao cho giá của cùng một loại hàng hóa ở hai nước thì có
mức giá ngang bằng nhau. Do vậy, giá cà phê ở hai thị trường Mỹ và VN phải
tương đương nhau. Tức là 1kg cà phê ở Mỹ có giá là 2USD, tương ứng với
40.000VN ở thị trường VN.
Giả sử đến ngày 01/06/2011, dự đoán giá cà phê tại thị trường VN giảm
xuống còn 35.000VND/kg, tương ứng với 1.75USD/kg tại Mỹ (tỷ giá
20.000VND/USD). Tuy nhiên, vào ngày 02/06/2011, tỷ giá USD/VND được
điều chỉnh lên 24.000VND. Để đảm bảo việc đem cà phê từ VN sang bán ở Mỹ
không đem lại lợi ích kinh tế do chênh lệnh giá, khi đó giá cà phê ở VN sẽ tăng
lên 42.000VND/kg. Kết quả là việc đem 1kg cà phê giá 42.000VND sang Mỹ
bán với giá 1.75USD, sau đó đổi lấy 42.000VND với tỷ giá 24.000VND/USD là
vô nghĩa về mặt lợi ích kinh tế. Qua đó cho thấy, mặc dù cà phê bị mất giá tuy
nhiên VND bị mất giá mạnh hơn nên, kết quả là lạm phát tăng.
Cũng giả sử đến 01/6/2011, kinh tế VN lạm phát 25% (tác động lên tất cả
các mặt hàng, trong đó có cà phê) khiến giá cà phê tăng lên 50.000VND/kg,
trong khi đó kinh tế Mỹ không xảy ra lạm phát, cà phê vẫn ở mức 2USD/kg.
Lúc này, theo thuyết “Ngang giá sức mua”, 2USD phải có giá trị ngang với
50.000VND, nên tỷ giá USD/VND được điều chỉnh lên mức 25.000VND/USD.
Tuy nhiên nếu như, tỷ giá được siết chặt ở mức 22.500VND/USD, khi đó theo
Page 14


Đề tài 04 - Nhóm 16

GVHD: Thầy Trương Minh Tuấn


Page 15


Đề tài 04 - Nhóm 16

GVHD: Thầy Trương Minh Tuấn

dịch vụ tăng, qua đó giảm mức sản lượng của nền kinh tế, thu hẹp chênh lệch
sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng và giảm áp lực lạm phát từ phía cầu;
mặt khác, do giá nhập khẩu hàng hóa dịch vụ tính bằng nội tệ giảm, giảm hiệu
ứng “nhập khẩu lạm phát” góp phần giảm lạm phát.
Khi nhắc đến hiệu ứng “nhập khẩu lạm phát”, người ta cũng nói đến khái
niệm “hiệu ứng trung chuyển tác động của tỉ giá” (“exchange rate passthrough
effect (ERPT)”), nôm na có thể hiểu là tác động của việc tăng 1% tỷ giá (phá
giá 1%) lên lạm phát CPI thông qua tăng giá của nhóm hàng hóa nhập khẩu.
ERPT được xây dựng dựa trên giả định về luật ngang giá sức mua (PPP), rằng
giá của một loại hàng hóa giao dịch ngoại thương (tradable goods) tính trên
cùng một loại tiền tệ phải bằng nhau ở tất cả các quốc gia.
Như vậy, nếu cơ chế ERPT diễn ra hoàn hảo thì 1% tăng lên của tỷ giá có
thể khiến giá hàng hóa nhập khẩu tính bằng nội tệ tại quốc gia nhập khẩu tăng
lên 1%, giả định các nhân tố khác không thay đổi. Đồng thời, nếu coi là tỷ lệ
của nhóm hàng nhập khẩu tính trên tổng giá trị rổ hàng hóa tiêu dùng của một
nước, ta có công thức tính chỉ số giá của một quốc gia như sau: Rõ ràng là giá
hàng nhập khẩu tăng là một yếu tố làm tăng mức giá chung trong nền kinh tế.
Cơ chế ERPT có thể diễn ra một cách hoàn hảo, không hoàn hảo và thậm chí là
không xảy ra tùy vào đặc điểm kinh tế của từng quốc gia. Khi cơ chế này xảy ra
hoàn hảo, 1% phá giá nội tệ cũng sẽ làm tăng 1% giá nhập khẩu và ngược lại.
Nếu đồng nội tệ phá giá nhưng không làm thay đổi giá của nhóm hàng nhập
khẩu tính bằng nội tệ, ta nói rằng cơ chế ERPT đã không xảy ra. Trường hợp
1% phá giá làm tăng giá hàng nhập khẩu ít hơn 1% diễn ra khi cơ chế ERPT

Giá tài
sản
Cầu nội
địa ròng
(C,I)

M2, Tín
dụng

Công cụ

MB

Lãi suất

CSTT

m

Ttrường

Tổng
cầu
Cầu nước
ngoài
ròng
(X, M)

Lạm
phát

tỷ giá và lạm phát ở Việt Nam. Camen (2006) trong nghiên cứu về các yếu tố
tác động lên lạm phát CPI của Việt Nam với chuỗi số liệu tháng từ 2/1996 4/2005 đã kết luận rằng tỷ giá danh nghĩa USD/VND đóng góp khá quan trọng
vào tốc độ tăng CPI của Việt Nam, giải thích khoảng 19% trong tổng mức tăng
CPI sau 12 tháng. Vo Van Minh (2009) trong nghiên cứu về tác động ERPT tại
Việt Nam với chuỗi số liệu tháng từ 1/2001 - 2/2007 cũng chứng minh được
việc phá giá đồng Việt Nam tạo ra tác động không hoàn hảo lên giá nhập khẩu
và lạm phát CPI, tuy nhiên, mức độ tác động không lớn, 1% phá giá của VND
khiến lạm phát CPI tăng 0,08% trong trong khoảng thời gian 1 năm đầu kể từ
khi xảy ra cú sốc phá giá. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng nghiên cứu của Vo
Van Minh (2009) sử dụng tỷ giá hiệu dụng đa phương danh nghĩa (NEER), vốn
không phải là công cụ tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước. Và gần đây nhất, trong
một nghiên cứu về các yếu tố tác động lên lạm phát CPI của Việt Nam giai đoạn
2000 - 2010 của Nguyen Thi Thu Hang va Nguyen Duc Thanh (2010), khi Ngân
hàng Nhà nước tăng 1% tỷ giá chính thức USD/VND sẽ tạo áp lực làm tăng lạm
phát, và tỷ giá giải thích khoảng 19% mức lạm phát CPI sau 12 tháng và khoảng
Page 18


Đề tài 04 - Nhóm 16

GVHD: Thầy Trương Minh Tuấn

30% sau 17 tháng. Nghiên cứu này cho thấy có vẻ như tỷ giá là một yếu tố khá
quan trọng giải thích biến động của lạm phát, nhưng cũng cần lưu ý rằng ở
nghiên cứu này còn một số điểm cần làm rõ hơn như kết quả kiểm định nhân
quả Granger giữa tỷ giá và lạm phát, hàm phản ứng thể hiện tác động tỷ lệ
nghịch giữa 2 biến này, kết quả kiểm định đồng liên kết không hoàn toàn tốt.
Tại trang thông tin của Ngân hàng Nhà nước, bài nghiên cứu của tác giả
Nguyễn Phi Lân (2010) với chuỗi số liệu từ 1998 - 2009 về cơ chế truyền tải
chính sách tiền tệ cũng cho thấy tương quan tỷ lệ thuận giữa tỷ giá và lạm phát

nền sản xuất của Việt Nam có giá trị gia tăng thấp, phụ thuộc phần lớn vào
nguồn máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu. Đơn cử như ngành
hàng dệt may hiện đang là ngành hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta thì cũng
phải nhập khẩu đến 90% nguyên liệu. Hay thậm chí nước ta là nước nông
nghiệp, có thế mạnh về các sản phẩm nông nghiệp như lúa gạo, thủy sản xuất
khẩu nhưng từ phân bón, thuốc trừ sâu đến thức ăn chăn nuôi cũng đều phải
nhập từ nước ngoài. Với một nền kinh tế phụ thuộc vào bên ngoài lớn như vậy,
tác động gián tiếp của việc tăng tỷ giá đến lạm phát CPI thông qua tăng chi phí
sản xuất do tăng giá nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết bị tính
bằng VND thì có thể sẽ tương đối lớn. Đối với tác động trực tiếp lên giá nhóm
hàng tiêu dùng có nguồn gốc nhập khẩu, khó có thể xác định do không có số
liệu về cơ cấu nhóm hàng tiêu dùng nhập khẩu trong rổ hàng hóa tiêu dùng của
Việt Nam, nhưng dường như sự tác động có chiều hướng tăng do xu hướng
nhập khẩu hàng tiêu dùng, đặc biệt là nhóm hàng tiêu dùng xa xỉ như ô tô, xe
máy, điện thoại, máy tính... đang tăng nhanh.
Xem xét mối quan hệ giữa ổn định tỷ giá và ổn định lạm phát như trên,
có thể thấy chủ trương ổn định tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước trong bối cảnh
hiện tại là hợp lý. Nó phù hợp với mục tiêu ổn định lạm phát mà Luật Ngân
hàng Nhà nước năm 2010 đặt ra cho chính sách tiền tệ. Một lợi ích lớn hơn mà
ổn định tỷ giá (nếu thành công) có thể đem lại là có thể phục hồi lòng tin của
công chúng và thị trường vào điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà
nước một cách nhanh chóng. Ai cũng biết đây là ưu điểm chính của cơ chế điều
hành chính sách tiền tệ theo mục tiêu tỷ giá.
Trong khi lạm phát chưa thể giảm xuống mức thấp nhanh chóng, tỷ giá
ổn định sẽ giúp lấy lại niềm tin vào giá trị đồng Việt Nam. Việc đặt mục tiêu ổn
định tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước cũng có thể là một quyết định khôn ngoan
khi mà điều kiện hiện tại của Việt Nam vẫn chưa cho phép thực hiện khuôn khổ
mục tiêu lạm phát do ngân hàng trung ương vẫn trực thuộc Chính phủ, thị
trường tài chính kém phát triển, và còn nhiều yếu tố khác mà Ngân hàng Nhà
Page 20

tỷ giá. Nhiều ý kiến cho rằng điều này đã xảy ra đối với Việt Nam giai đoạn
2007 - 2008 khi Việt Nam đón nhận một luồng vốn ngoại lớn từ bên ngoài trước
kỳ vọng về nền kinh tế sau khi là thành viên WTO. Để ổn định tỷ giá, Ngân
hàng Nhà nước đã mua một lượng lớn ngoại tệ, qua đó, tăng dự trữ ngoại hối,
đồng thời để kiềm chế lạm phát, Ngân hàng Nhà nước cũng đã phải thực hiện
Page 21


Đề tài 04 - Nhóm 16

GVHD: Thầy Trương Minh Tuấn

nghiệp vụ can thiệp trung hòa (sterilize) trên thị trường mở. Rủi ro chính của
việc can thiệp trung hòa là quy mô can thiệp có thể không tương xứng với lượng
tiền cung ứng để mua ngoại tệ, hậu quả là lạm phát tăng mạnh do cung tiền tăng
cao. Như vậy, có vẻ như để đạt được mục tiêu cuối cùng là ổn định giá cả như
đã quy định trong Luật Ngân hàng Nhà nước mới, Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam cần nghiên cứu thiết lập khuôn khổ mục tiêu lạm phát. Khi đó, quay trở lại
với nhận định của Mishkin (2008), khi một nền kinh tế có mức lạm phát thấp và
ổn định, ERPT không phải là vấn đề đáng lo ngại. Và để làm được điều này, còn
rất nhiều vấn đề phải làm, không chỉ là trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước,
mà còn cần sự ủng hộ của Chính phủ, và sự chung tay của các Bộ, Ngành.

Page 22


Đề tài 04 - Nhóm 16

GVHD: Thầy Trương Minh Tuấn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status