Mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế Việt Nam - Pdf 14

i

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
HOÀNG ĐÌNH MINH MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TRONG NỀN
KINH TẾ VIỆT NAM Chuyên ngành: Kinh tế học
Mã số: 62310101LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. NGUYỄN VĂN NGHIỄN
2. TS. PHẠM CẢNH HUY
HÀ NỘI - 2014
ii


2.1 Lý luận chung về lạm phát 25
2.1.1 Các quan điểm khác nhau về lạm phát 25
2.1.1.1 Khái niệm và những quan điểm về lạm phát 25
2.1.1.2 Các nguyên nhân gây ra lạm phát 27
2.1.1.3 Lạm phát theo quan điểm trường phái tiền tệ 32
2.1.1.4 Chỉ số đo lường lạm phát 36
2.1.2 Tác động của lạm phát đến nền kinh tế 37
2.1.3 Kết luận 39
2.2 Lý luận chung về tỷ giá hối đoái 39
2.2.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái 40
2.2.2 Chính sách tỷ giá hối đoái 43
2.2.2.1 Khái niệm và mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái 43
2.2.2.2 Nội dung của chính sách tỷ giá hối đoái 44
2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái 49
2.2.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn 52
2.2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái trong trung hạn và dài hạn 53
2.2.4 Tác động của tỷ giá hối đoái đến nền kinh tế 56
ii

2.2.4.1 Tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại 56
2.2.4.2 Tác động của tỷ giá hối đoái tới tăng trưởng kinh tế 58
2.3 Mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái 59
Kết luận chương 2 65
CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT
VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 67
3.1 Khái quát mô hình VAR 67
3.1.1 Mục tiêu và nội dung của mô hình 67
3.1.2 Quy trình thực hiện VAR 70
3.2 Các biến số và dữ liệu cho mô hình VAR 72
3.2.1 Các biến số trong mô hình VAR 72

Kết luận chương 5 146
KẾT LUẬN 147
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
PHỤ LỤC

iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam Á
BIS: Ngân hàng thanh toán quốc tế
BTC: Bộ tài chính
CCVL: Cán cân vãng lai
CCTM: Cán cân thương mại
CIF: Giá hàng hóa vận chuyển có bảo hiểm
CPI: Chỉ số giá tiêu dùng
CSTK: Chính sách tài khóa
CSTT: Chính sách tiền tệ
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
DTBB: Dự trữ bắt buộc
DTNH: Dự trữ ngoại hối
ĐTNN: Đầu tư nước ngoài
EU: Cộng đồng các quốc gia Châu Âu
EUR: Đồng Euro
FDI: Đầu tư nước ngoài trực tiếp
FII: Đầu tư nước ngoài gián tiếp
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
ICOR: Incremental Capital - Output Rate
IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế
KBNN: Kho bạc nhà nước
vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1-1: Tổng hợp các nghiên cứu về lạm phát 6
Bảng 1-2: Tổng hợp các nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái 8
Bảng 1-3: Tổng hợp nghiên cứu về tỷ giá hối đoái tại Việt Nam 11
Bảng 1-4: Tổng hợp các nghiên cứu sử dụng mô hình VAR 16
Bảng 3-1: Mô hình VAR trong các nghiên cứu[109;143;104] 73
Bảng 3-2: Các biến trong mô hình kiểm định 79
Bảng 3-3: Thống kê mô tả các biến 81
Bảng 3-4: Ma trận tương quan giữa các biến 81
Bảng 4-1: Lạm phát và tăng trưởng tại Việt Nam từ 2000 đến 2011 (nguồn TCTK) 85
Bảng 4-2: Tỷ lệ lạm phát tại các quốc gia trong khu vực (%/năm)(nguồn:TCTK, IMF) 86
Bảng 4-3: Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội trong năm 2004 (nguồn: TCTK) 87
Bảng 4-4: Các chỉ số vĩ mô tại Việt Nam 2000-2012(%/năm) (nguồn: NHNN, TCTK) 89
Bảng 4-5: Mức lương tối thiểu trong cơ quan nhà nước (đvt: 1000đ) 93
Bảng 4-6: Chế độ tỷ giá hối đoái tại Việt Nam qua các thời ký (121;142) 96
Bảng 4-7: Kết quả ADF tại sai phân 0 109
Bảng 4-8: Kết quả ADF tại sai phân 1 109

Hình 5-1: Các loại lãi suất và lãi suất Taylor, 2001-2012 (%/năm, nguồn: NHNN) 135
Hình 5-2: Dự trữ ngoại tệ 10 nước Đông Á (nguồn: WB) 140
Hình 5-3: Kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại (nguồn: TCHQ) 144

viii

LỜI CẢM ƠN
Luận án được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học tận tình của TS. Nguyễn Văn
Nghiến và TS. Phạm Cảnh Huy. Nghiên cứu sinh xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình
đến sự hướng dẫn tận tình của hai thầy hướng dẫn.
Trong khoảng thời gian làm nghiên cứu sinh, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ
và động viên của Ban lãnh đạo Viện Kinh tế và Quản lý, Bộ môn Kinh tế học - Trường Đại
học Bách Khoa Hà Nội. Ngoài ra, khi thực hiện nghiên cứu, tôi cũng đã nhận được nhiều
góp ý và ý kiến về chuyên môn cũng như số liệu về thực trạng kinh tế Việt Nam từ các
chuyên gia kinh tế của Vụ Chính sách tiền tệ thuộc Ngân hàng Nhà Nước, Vụ Ngân sách
của Bộ Tài Chính, Tổng công ty Tái bảo hiểm Việt Nam, các bạn bè và người thân tại
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Ngoại thương, Học viện Ngân hàng và
tại một số ngân hàng thương mại cổ phần quốc doanh. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Cuối cùng, tôi cũng xin cảm ơn cơ sở quản lý – Viện Đào tạo Sau đại hoc Trường
Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành được nghiên
cứu này.
1

LỜI MỞ ĐẦU
Từ năm 1986, Việt Nam chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị
truờng theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế
giới, đặc biệt, sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Trong quá trình cải tổ nền kinh tế, Việt
Nam cũng phải tiến hành đồng thời cải tổ hệ thống tài chính, chính sách tài khóa (CSTK)
và chính sách tiền tệ (CSTT) cho phù hợp với từng giai đoạn hội nhập với nền kinh tế thế
giới. Duy trì sự ổn định các chỉ số vĩ mô trong nền kinh tế là điều kiện thiết yếu giúp tăng

2

định của tỷ giá hối đoái là hết sức quan trọng. Ổn định tỷ giá hối đoái sẽ giúp cho các
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu có thể lập và thực hiện kế hoạch
kinh doanh trong trung hạn và dài hạn của mình, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Trong phần khuyến nghị các giải pháp giúp xác định một mức lạm phát vừa phải để
giữ được ổn định của tỷ giá hối đoái, luận án cho rằng áp dụng chính sách lạm phát mục
tiêu trong thời gian tới là hoàn toàn hợp lý. Căn cứ và điều kiện hiện nay của Việt Nam và
sự thành công của một số quốc gia trong khu vực (Indonesia, Hàn Quốc, Philippine, Thái
Lan) có điều kiện giống Việt Nam, đã áp dụng thành công chính sách lạm phát mục tiêu,
qua đó giữ ổn định được tỷ giá hối đoái, thì việc áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu tại
Việt Nam hiện nay là có thể làm được.
Tuy nhiên, nếu chỉ áp dụng riêng chính sách lạm phát mục tiêu thì có thể chưa đủ
để ổn định lạm phát tại Việt Nam. Vì vậy, cần có sự phối giữa chính sách tiền tệ với chính
sách tài khóa, chính sách thương mại thì mới có thể đạt được mức lạm phát mong muốn
nhằm giữ ổn định tỷ giá hối đoái.

3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Chương 1 của luận án sẽ giới thiệu khái quát về nội dung được nghiên cứu. Những
nội dung chính được trình bày trong chương này sẽ bao gồm tính cấp thiết của đề tài, tình
hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới về đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ cần đạt được
của nghiên cứu, đối tượng và phạm vi cần nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cuối
cùng là kết cấu của luận án.
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc cải tổ chuyển đổi nền kinh tế từ

Lạm phát và tỷ giá hối đoái là hai biến số quan trọng trong nền kinh tế mở, chúng có sự
tác động qua lại với nhau. Ngoài ra, lạm phát và tỷ giá hối đoái cũng tác động đến các biến
số vĩ mô khác trong nền kinh tế như lãi suất, tốc độ tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp và cán
cân thanh toán quốc tế.
Từ năm 1986 đến năm 1991, lạm phát tại Việt Nam đã luôn ở mức cao, thậm chí có
lúc lạm phát ở mức ba con số vào năm 1986, và tỷ lệ lạm phát thấp nhất trong thời kỳ này
là 34,7% vào năm 1989. Từ năm 1992, Việt Nam thực hiện các chính sách tài khóa
(CSTK) và chính sách tiền tệ thắt chặt qua đó đã kéo được lạm phát từ mức cao trong giai
đoạn trước đó về mức thấp trong một thời gian dài. Thậm chí, tình trạng thiểu phát đã xảy
ra tại Việt Nam trong giai đoạn 1999 đến 2003. Sang năm 2004, mức giá chung đã tăng lên
và Việt Nam đã ra khỏi tình trạng thiểu phát. Tuy nhiên, do các diễn biến phức tạp của
kinh tế thế giới và sự tăng trưởng nóng của thị trường chứng khoán và thị trường bất động
sản trong nước cùng với nguồn vốn FDI đổ vào Việt Nam tăng nhanh sau khi Việt Nam trở
thành thành viên chính thức của WTO, thì lạm phát đã tăng vọt trở lại từ 12,67% vào năm
2007 lên đến hơn 21% vào năm 2011.
Sự biến động của lạm phát và của tỷ giá hối đoái tại Việt Nam trong thời gian qua ảnh
hưởng mạnh đến xuất nhập khẩu và các mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Hai biến số này trong
tương lai sẽ còn có thể tiếp tục tác động tích cực hoặc tiêu cực đến xuất nhập khẩu cũng
như tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam. Do đó, các nghiên cứu về hai biến số vĩ mô này là
luôn luôn cần thiết trong mọi thời điểm tại Việt Nam.
Trong giai đoạn từ 2008 đến 2011, Việt Nam liên tục có mức lạm phát hai con số, lạm
phát cao thường đưa đến các tổn thất cho sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Một trong
các nhân tố ảnh hưởng mạnh đến tỷ giá hối đoái được các nhà nghiên cứu kinh tế chỉ ra là
lạm phát. Do đó, việc điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô để giữ ổn định lạm phát luôn
giữ một vị trí quan trọng, đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải áp dụng các chính
sách phù hợp trong từng giai đoan nhằm đạt được mục tiêu lạm phát tối ưu và chính sách
tỷ giá hối đoái hợp lý. Những nhà điều hành chính sách tiền tệ tại các Ngân hàng Trung
ương (NHTƯ) trên thế giới hầu như đều có chung một số mục tiêu, trong đó mối quan tâm
hàng đầu của họ là “ổn định giá cả”.
Có thể hiểu ổn định giá cả là ổn định sức mua của đồng nội tệ trong đối nội và đối

một quốc giá trong những khoảng thời gian khác nhau. Một số nghiên cứu sử dụng phương
pháp tiếp cận định tính, số khác sử dụng phương pháp định lượng thông qua các mô hình
kinh tế lượng để đưa ra các kết luận về những biến động của hai biến số này và ảnh hưởng
của chúng đến nền kinh tế.
6

Bảng 1-1: Tổng hợp các nghiên cứu về lạm phát
Tên nghiên cứu

Thời gian Tổng hợp kết quả nghiên cứu
A.D. White 1932
Đưa ra kết luận về mối quan hệ giữa lượng tiền và
lạm phát tại Pháp trên phương diện định tính
J.M. Keynes 1936
Là căn cứ để các nhà kinh tế tìm hiểu về lạm phát,
thất nghiệp, lãi suất và chính sách tiền tệ.
H. Frisch 1990
Phân tích diễn biến lạm phát từ năm 1960 đến 1980,
tổng hợp các mô hình và lý thuyết về lạm phát.
Callen, Chang 1999
Đánh giá chỉ số nào cung cấp thông tin hữu ích nhất

dụng để phân tích các yếu tố tác động đến lạm phát tại Ấn Độ trong nghiên cứu “Modeling
and Forecating Inflation in India”. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng lạm phát tại Ấn Độ bắt nguồn
từ sự biến động giá của các sản phẩm cơ bản (primary product), chúng thay đổi hàng năm
và phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thời tiết và trong cách quản lý giá của chính phủ. Nhân tố
tiếp theo là lượng tiền cơ sở M1, lượng tiền M2 được xem là hai thông số dự báo tốt nhất
cho lạm phát trong tương lai tại Ấn Độ. Tuy nhiên, nghiên cứu này không tập trung nhiều
đến sự biến động của tỷ giá hối đoái, giá hàng nhập khẩu đối với lạm phát.
Một số nhà nghiên cứu khác như Gali, Gertler (1999)[87] sử dụng mô hình đường cong
Phillips trong lý thuyết New Keynesian để phân tích và giải thích hiện tượng lạm phát tại
Mỹ trong công trình “Inflation Dynamics: A structural Econometric Approach”. Trong
nghiên cứu này, các tác giả cho thấy chi phí cận biên có thể là một tín hiệu quan trọng để
đánh giá sự biến động của lạm phát trong tương lai. Còn Gerlach, Peng (2006)[88] công bố
nghiên cứu “Output gap and Inflation in Mainland China” dùng mô hình đường cong
Phillips để đánh giá sự chênh lệch sản lượng của nền kinh tế và lạm phát tại Trung Quốc,
kết quả của nghiên cứu cho thấy nếu chỉ áp dụng mô hình đường cong Phillips thì không
phù hợp trong việc đánh giá sự tương tác của các biến, trong điều kiện chính sách của
Trung Quốc thay đổi về việc quy định giá cả, tự do hóa thương mại và thay đổi của chính
sách tỷ giá hối đoái. Điều này chứng tỏ nghiên cứu đã bỏ qua một số biến mà nghiên cứu
không quan sát được.
Mối quan hệ giữa lạm phát và các biến số vĩ mô luôn được các nhà nghiên cứu quan
tâm. Từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến nay, xu hướng toàn cầu hóa đã diễn ra nhanh
hơn, trao đổi thương mại giữa các quốc gia không ngừng tăng lên cả về chất và lượng. Vì
vậy, tỷ giá hối đoái giữ vai trò vô cùng quan trọng trong quan hệ thương mại và cán cân
thanh toán quốc tế của mỗi quốc gia.

hưởng đến tỷ giá hối đoái thực tại Đông Nam Á,
EU và Bắc Mỹ, áp dụng mô hình Granger để kiểm
định nhân quả giữa hai biên số trên.
Mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái đã được nghiên cứu từ rất sơm trên thế
giới. Thygesen (1977)[138] với công trình nghiên cứu “Inflation and exchange rate,
evidence and policy guidelines for the Eurpopean Community” đã cho thấy những thay đổi
tỷ giá hối đoái của các đồng tiền thuộc công đồng các quốc gia Châu Âu trong giai đoạn từ
đầu những năm 1960 đến giữa những năm 1970 chủ yếu là chênh lệch lạm phát. Trong
nghiên cứu này các tác giả đã sử dụng chỉ số giá bán buôn để đo lượng lạm phát tại các
quốc gia trong EU, và lý thuyết ngang giá sức mua được áp dụng để đo lường sự tác động
giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái. Nghiên cứu có thể coi là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp
theo về lạm phát và tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, vì phạm vi của nghiên cứu chỉ dừng lại trên
các nước thành viên của EU và thời điểm nghiên cứu được thực hiện chưa diễn ra cuộc
khủng hoảng giá xăng dầu lần thứ nhất. Do đó, nghiên cứu không kiểm định được tác động
của giá xăng dầu lên lạm phát và tỷ giá hối đoái tại các nước EU.
Andres, Hernando, Krueger (1996)[67] đã đưa ra công trình nghiên cứu “Growth,
inflation and the exchange rate regime” dựa trên hiệu ứng Balassa – Samuelson, các tác giả
đã chỉ ra được mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với lạm phát và tỷ giá hối đoái tại các
quốc gia OECD. Nghiên cứu này cho thấy, sự chênh lệch năng suất lao động giữa các quốc
gia cũng là nguyên nhân gây ra sự biến động của tỷ giá hối đoái và tỷ giá hối đoái sẽ thay
đổi khi chính phủ chấp nhận tăng lạm phát để hướng tới tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
Kara, Nelson (2002)[101] trong nghiên cứu “The exchange rate and inflation in the
UK” đã phân tích các số liệu thực tế về sự biến động của lạm phát tại UK và tập trung đặc
biệt vào sự kết nối giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát tại đây. Nghiên cứu này đã chứng minh
9

được mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát tại Vương quốc Anh. Công trình tập
trung nghiên cứu mối quan hệ giữa giá hàng hóa sản xuất trong nước, giá hàng hóa nhập
khẩu để tiêu dùng trong nước với tỷ giá hối đoái danh nghĩa. Sau đó, nghiên cứu đã chứng
minh chính sách lạm phát mục tiêu được áp dụng tại Anh đã giúp ổn định được tỷ giá hối

đoái là mối quan hệ hai chiều, có thể coi những nghiên cứu này là những nghiên cứu về
nguyên nhân gây ra lạm phát từ tỷ giá hối đoái.
10

Sau khi một số quốc gia áp dụng thành công chính sách lạm phát mục tiêu, mang lại
một mức lạm phát thấp và tỷ giá hối đoái được giữ ổn định. Một số công trình nghiên cứu
về mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và tỷ giá hối đoái đã được thực hiện. Sớm nhất là
các công trình nghiên cứu của Mishkin từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước về chính sách lạm
phát mục tiêu và tỷ giá hối đoái. Đầu tiên là nghiên cứu “From monetary targeting to
inflation targeting: lesson from the industrialized countries” Mishkin (2000)[110] đã chỉ ra
những thành công của chính sách lạm phát mục tiêu tại Thụy Sĩ và Đức, và đưa ra những
kinh nghiệm cho các quốc gia muốn áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu. Tiếp theo,
Mishkin công bố công trình nghiên cứu “Can inflation targeting work in emerging market
countries” (2004)[111] đã cho thấy hai quốc gia thị trường mới nổi (emerging market) là
Chile và Brasil đã áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu và thu được những thành tựu nhất
định, điều này sẽ mở ra một hướng đi mới cho chính sách tiền tệ tại các quốc gia thị trường
mới nổi.
Tại khu vực Châu Á, nghiên cứu của Ito, Hayashi (2004)[137] “Inflation targeting in
Asia” đã chỉ ra mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát mục tiêu, đồng thời phân tích
những thành công của chính sách lạm phát mục tiêu giúp ổn định tỷ giá hối đoái tại một số
nước Châu Á bao gồm Hàn Quốc, Thái Lan và Phillipine.
Một công trình công bố gần đây về tác động của lạm phát mục tiêu đến tỷ giá hối đoái
của A.Widyasanti [65] “Inflation targeting and exchange rates in emerging economies”
(2010), tập trung phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái tại Indonesia. Tác
giả đã sử dụng mô hình véc tơ tự hồi quy (VAR) để chỉ ra mối quan hệ hai chiều giữa
chính sách lạm phát mục tiêu và tỷ giá hối đoái trong các nền kinh tế mới nổi như
Indonesia, sau khi áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu từ năm 1999, Indonesia đã duy trì
được một mức tỷ giá hối đoái ổn định.
Trong các nghiên cứu về lạm phát mục tiêu, các tác giả đều nêu ra ưu điểm của chính
sách lạm phát mục tiêu là xây dựng được niềm tin quốc gia đối với các đối tác thương mại

Đánh giá được tác động của tỷ giá hối đoái đến
lạm phát, sản lượng công nghiệp thực và lượng
tiền cung ứng tại Việt Nam.
Nguyễn Thị Thư 2001
Chứng minh được tác động của chính sách tỷ
giá hối đoái đến hoạt động xuất nhập khẩu tại
Việt Nam.
Dương Thị Thanh Mai 2002
Ước lượng hệ số co dãn cầu xuất nhập khẩu
của Việt Nam đối với tỷ giá hối đoái thực.
Lê Thị Tuấn Nghĩa 2004
Đánh giá hiệu quả các công cụ của chính sách
tiền tệ.
Mai Thu Hien 2006
Đánh giá thực trạng chính sách tỷ giá hối đoái
tại Việt Nam và đưa ra khuyến nghị giúp ổn
định tỷ giá trong tương lai
Có thể kể đến một số nghiên cứu điển hình sau, Nguyễn Thị Thu Thảo (1995)[50] công
bố công trình nghiên cứu “Đổi mới và hoàn thiện chính sách quản lý ngoại hối ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay”, tác giả đã phân tích chế độ tỷ giá hối đoái cố định và chế độ tỷ
giá hối đoái linh hoạt và đưa ra kết luận chế độ tỷ giá hối đoái hỗn hợp kết hợp của hai chế
độ tỷ giá hối đoái trên sẽ phù hợp và đạt được kết quả tối ưu cho Việt Nam. Do nghiên cứu
được thực hiện cách đây đã 18 năm, trong khi nền kinh tế và các điều kiện xã hội tại Việt
Nam thay đổi liên tục trong suốt thời gian đó. Mặc dù vậy, công trình nghiên cứu của tác
giả vẫn là một nguồn tham khảo có giá trị cho các nghiên cứu kế tiếp về tỷ giá hối đoái.
12

Tiếp theo, Võ Trí Thành và các công sự công bố công trình “Exchange rate
arrangement in Vietnam: information content and policy options” vào năm 2000[142]. Đây
là công trình nghiên cứu chính sách tỷ giá hối đoái tại Việt Nam trong giai đoạn trước năm

cứu này không đi sâu phân tích ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô đến tỷ giá hối đoái. Cũng
vào thời điểm này, Mai Thu Hien công bố công trình “Solutions for exchange rate policy
of transition economy of Vietnam”[107]. Tác giả cũng đã tổng hợp diễn biến của tỷ giá hối
đoái tại Việt Nam trong giai đoạn từ thời kỳ đổi mới 1986 đến đầu những năm 90 của thế
kỷ XX và đánh giá tác động của tỷ giá hối đoái đến các biến số vĩ mô khác theo cách tiếp
13

cận định tính. Cuối cùng tác giả đưa ra khuyến nghị Việt Nam cần áp dụng chính sách lạm
phát mục tiêu để qua đó ổn định lạm phát giúp tỷ giá hối đoái giao động trong phạm vi cho
phép. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của mình tác giả không chứng minh mối quan hệ giữa
lạm phát và tỷ giá hối đoái tại Việt Nam bằng số liệu, và không đưa ra khung lạm phát mục
tiêu cho Việt Nam.
Tiếp theo, trong công trình “Exchange rate policy in Viet Nam, 1995 – 2008”, Nguyen
Tran Phuc, Nguyen Duc Tho (2009)[121] đã cho thấy Chính phủ và NHNN Việt Nam
nghiêng về quản lý hơn là thả nổi đối với tỷ giá hối đoái, chính sách tiền tệ đa mục tiêu đã
không định hướng được mục tiêu nào là quan trọng cho từng thời điểm: ổn định tỷ giá hối
đoái? kiểm soát lạm phát trong một phạm vi nhất định? Hay hạn chế thâm hụt cán cân
thanh toán. Hai tác giả đã chỉ ra được sự lúng túng và bị động của chính sách tiền tệ tại
Việt Nam khi nền kinh tế thế giới và Việt Nam có những biến động.
Ngân hàng Nhà nước, Vụ Quản lý Ngoại hối (2009)[61] đã thực hiện nghiên cứu “Cơ
chế điều hành tỷ giá hối đoái phù hợp trong điều kiện hiện này” để chỉ ra rằng Việt Nam
đang thực hiện cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt có quản lý. Năm 2010, Trung tâm Nghiên
cứu Kinh tế và Chính sách, Trường Đại học kinh tế thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã
công bố công trình nghiên cứu “Lựa chọn chính sách tỷ giá trong bối cảnh phục hồi kinh
tế” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng, Đinh Tuấn Minh, Tô Trung Thành, Lê Hồng
Giang, Phạm Văn Hà[23], cho rằng Việt Nam đang theo đuổi cơ chế neo tỷ giá hối đoái có
điều chỉnh và cơ chế này hiện nay không hiệu quả, nhóm tác giả đưa ra đề xuất, là Việt
Nam nên chuyển sang cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý.
Nhóm tác giả Vũ Quốc Huy, Nguyễn Thị Thu Hằng và Vũ Phạm Hải Đăng (2011)[26]
đã đưa ra công trình nghiên cứu “Tỷ giá hối đoái giai đoạn 2000 – 2011: Mức độ sai lệch

trình chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, nền kết quả của nghiên cứu sẽ khác với các kết quả nghiên cứu về lạm phát trong
thời kỳ hội nhập sau đó.
Tiếp theo, Nguyen Quang Thang (2001)[118] công bố nghiên cứu “Inflation and
growth: the case of Vietnam in the period 1986-2000”. Tác giả nghiên cứu mối quan hệ
giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi mô hình kinh
tế tại Việt Nam với kết luận lạm phát ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế tại Việt
Nam trong giai đoạn này. Tai thời điểm đó, đây là một nghiên cứu mới trong lĩnh vực kinh
tế học vĩ mô tại Việt Nam. Sau đó, vào năm 2005, Phan Thị Hồng Hải [20] có nghiên cứu
“Lạm phát trong các nước chuyển đổi kinh tế và vấn đề kiềm chế lạm phát ở Việt Nam”.
Đây là một nghiên cứu định tính về lạm phát tại các nước Đông Âu và đánh giá diễn biến
của Việt Nam trong giai đoạn này. Tác giả đã chỉ ra các nguyên nhân gây ra lạm phát tại
Việt Nam và đưa ra một số giải pháp. Tuy nhiên, do trong giai đoạn khảo sát, nền kinh tế
Việt Nam chưa hội nhập với kinh tế thế giới, nên vai trò của tỷ giá hối đoái không được đề
cập nhiều đến trong nghiên cứu. Năm 2008, Vương Thị Thảo Bình [7] có nghiên cứu về
“Tiếp cận và phân tích động thái giá cả - lạm phát của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
bằng một số mô hình toán kinh tế”. Đây là nghiên cứu kết hợp cả hai phương pháp định
tính và định lượng, tác giả đã chỉ ra được lạm phát tại Việt Nam chiu ảnh hưởng của yếu tố
kỳ vọng, ảnh hưởng của tăng cung tiền đến lạm phát lớn hơn ảnh hưởng của tăng giá xăng
dầu. Nghiên cứu được thực hiện với bộ số liệu từ năm 1997 đến năm 2007, và tỷ giá hối
đoái không được đề cập nhiều đến trong nghiên cứu, mặc dù Việt Nam có kim ngạch xuất
nhập khẩu tăng đều qua các năm. Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Đức Thành (2010)[23]
đưa ra nghiên cứu “Các nhân tố vĩ mô quyết định lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2000 –
2010: các bằng chứng và thảo luận”. Trong nghiên cứu này, các tác giả sử dụng phương
15

pháp tiếp cận dựa theo các bằng chứng nhằm xác định và phân tích các nguyên nhân cơ
bản của lạm phát ở Việt Nam trong những năm gần đây. Nhìn chung, các nghiên cứu về
lạm phát của Việt Nam không nhiều và đều được thực hiện tập trung vào các giai đoạn
trước 2007. Những nghiên cứu này đều đi sâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lạm

Các động thái còn lại trong công cụ chính sách, độ lệch của các công cụ trong chính sách
tiền tệ suất phát từ những biến động bất thường, được hiểu như những cú sốc chính sách
tiền tệ và tác động của chúng có thể được điều tra bằng phương pháp hàm kỹ thuật phản
ứng (the impulse response function techniques).

Trích đoạn Mục tiêu và nội dung của mô hình Quy trình thực hiện VAR Các biến số trong mô hình VAR Phân tích dữ liệu cho mô hình VAR Tổng quan về nền kinh tế Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status