Tiểu luận môn lý thuyết tài chính tiền tệ MỐI QUAN HỆ GIỮA BỘI CHI NGÂN SÁCH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ - Pdf 22

TRƯỜNG ĐH KINH TẾ TP.HCM
KHOA KẾ TOÁN KIỂM TOÁN
MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

TIỂU LUẬN

Đề tài
MỐI QUAN HỆ GIỮA
BỘI CHI NGÂN SÁCH
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

GV: Trương Minh Tuấn
SVTH: Nhóm 2 Tp. HCM, tháng 10 năm 2012
 CÁC THÀNH VIÊN CỦA NHÓM:

- Nguyễn Hoài Phương Thảo

- Nguyễn Thanh Trúc Ngân

- Nguyễn Thị Thùy Linh

- Nguyễn Thị Sáng

- Nguyễn Đức Hoàng
Mục lục Giới thiệu

PHẦN 1
Tổng quan về bội chi ngân sách và mối quan hệ giữa bội chi ngân sách với
tăng trưởng kinh tế
1. Một số vấn đề về bội chi ngân sách
1.1. Khái niệm bội chi ngân sách
Xuất phát từ quan điểm về quản lý ngân sách giữa các quốc gia và các tổ
chức, có nhiều quan niệm khác nhau về bội chi ngân sách. Hiểu một cách cơ
bản nhất, bội chi ngân sách là tình trạng tổng chi trong ngân sách nhà nước mà
chính phủ phải thực hiện lớn hơn các khoản thu trong ngân sách nhà nước mà
chính phủ thu được tính trong một năm tài chính. Ở phạm vi rộ
ng hơn, bội chi
ngân sách là hiện tượng ngân sách nhà nước không cân đối được (thể hiện ở
chênh lệch giữa cung và cầu về nguồn lực tài chính của Nhà nước). Việc tính
toán mức bội chi ngân sách ở mỗi quốc gia thường có sự khác biệt do cách
thức xác định phạm vi thu, chi ngân sách có sự không đồng nhất.
Cẩm nang Thống kê tài chính của chính phủ,bội chi ngân sách được xác
định bằng chênh lệch giữa chi ngân sách và thu ngân sách. Ở đây sự khác biệt
gi
ữa các quốc gia chính là phạm vi các khoản thu và chi ngân sách được đưa
vào trong cân đối ngân sách. Việc xác định phạm vi các khoản thu, chi ngân
sách khác nhau sẽ đem đến các kết quả khác nhau về mức bội chi ngân sách.
Lý thuyết kinh tế vĩ mô cũng như nhiều công trình nghiên cứu kiểm định
thực chứng đã cho thấy bội chi ngân sách có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu
cực đến các sự tăng trưởng kinh tế theo các cách thức khác nhau. Mức độ và
cách thứ
c tác động lại chịu sự chi phối của tỷ lệ bội chi và thời gian bội chi
cũng như phương thức tài trợ cho bội chi ngân sách. Trong đó, vấn đề thường
nhận được sự đồng thuận chung là bội chi ngân sách cao và kéo dài sẽ ảnh
hưởng tiêu cực đến nền kinh tế, có nguy cơ gây bất ổn kinh tế vĩ mô, nhất là đối
với các nước đang phát triển.

nước nhằm tác động đến s
ự phát
triển kinh tế- xã hội trong từng giai đoạn phát
triển khác nhau. Ví dụ, khi sản lượng của nền kinh tế ở mức thấp dưới mức sản
lượng tiềm năng, chính phủ có thể tăng mức chi ngân sách, chấp nhận có bội
chi ngân sách để tăng tổng cầu, qua đó thúc đẩy sự mở rộng của nền kinh tế.
Bội chi ngân sách thường xảy ra với các nước đang phát tri
ển do nhu cầu
đầu tư xã hội là rất lớn, nhất là đầu tư về phát triển hạ tầng kinh tế XH Việt

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa bội chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế

Trang3/13

Nam cũng không phải là ngoại lệ. Ở Việt Nam, trong một số năm kinh tế
tăng trưởng nhanh, thu ngân sách tăng cao song Chính phủ vẫn chấp nhận bội
chi ngân sách để có thêm nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhất là các dự án
phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội.
Đối với các nước phát triển, chi ngân sách được sử dụng như một công
cụ điều tiết vĩ mô, khi kinh tế suy thoái và t
ổng cầu giảm thì chính phủ thường
tăng chi tiêu để kích cầu tiêu dùng, đầu tư và ngược lại khi kinh tế phát triển
nóng, chính phủ có thể cắt giảm chi tiêu, giảm thâm hụt để đưa nền kinh tế
trở về mức sản lượng tiềm năng. Đây cũng là lý do làm cho bội chi ngân sách
không chỉ phổ biến ở các nước đang phát triển mà còn ở các nước phát triển.
Thứ ba, những vấn đề
về thiên tai, dịch bệnh, tình hình chính trị bất ổn
cũng có thể tác động làm tăng chi ngân sách, qua đó gây ra bội chi ngân sách
nhà nước. Việc quản lý và điều hành ngân sách không hiệu quả, chi tiêu ngân
sách lãng phí cũng là tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến mức bội chi ngân

phát triển kinh tế phải được đi cùng trên bốn bánh xe, hay bốn nhân tố của tăng
trưởng kinh tế là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ. Bốn
nhân tố này khác nhau ở mỗ
i quốc gia và cách phối hợp giữa chúng cũng khác
nhau đưa đến kết quả tương ứng.
Nguồn nhân lực: chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến
thức và kỷ luật của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng
kinh tế. Hầu hết các yếu tố khác như tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có
thể mua hoặc vay mượn được nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều
tương tự. Các yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản
xuất chỉ có thể phát huy được tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ
văn hóa, có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt.
Nguồn tài nguyên thiên nhiên: là một trong những yếu tố sản xuấ
t cổ điển,
những tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ,
rừng và nguồn nước. Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng để phát triển
kinh tế, có những nước được thiên nhiên ưu đãi một trữ lượng dầu mỏ lớn có thể
đạt được mức thu nhập cao gần như hoàn toàn dựa vào đó như Ả rập Xê út.
Tư bản: là một trong những nhân tố
sản xuất, tùy theo mức độ tư bản mà
người lao động được sử dụng những máy móc, thiết bị nhiều hay ít (tỷ lệ tư bản
trên mỗi lao động) và tạo ra sản lượng cao hay thấp. Để có được tư bản, phải
Tiểu luận: Mối quan hệ giữa bội chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế

Trang5/13

thực hiện đầu tư nghĩa là hy sinh tiêu dùng cho tương lai. Điều này đặc biệt quan
trọng trong sự phát triển dài hạn, những quốc gia có tỷ lệ đầu tư tính trên GDP
cao thường có được sự tăng trưởng cao và bền vững. Tuy nhiên, tư bản không
chỉ là máy móc, thiết bị do tư nhân dầu tư cho sản xuất nó còn là tư bản cố định

Trang6/13

Khảo sát sơ bộ các nghiên cứu nước ngoài cho thấy đã có nhiều bài
báo, công trình khoa học đã thực hiện phân tích mối quan hệ giữa bội chi ngân
sách và tăng trưởng kinh tế, trong đó có rất nhiều các công trình nghiên cứu
định lượng sử dụng dữ liệu của nhiều quốc gia khác nhau, bao gồm các nước
phát triển và đang phát triển (ví dụ như nghiên cứu của Catão& Terrones, 2001;
Solomon và Wet, 2004; Keho, 2010; Rosa, 2011). Các phương pháp tiếp cận
của những nghiên cứu này cũ
ng là rất khác nhau (ví dụ, có nghiên cứu sử
dụng mô hình chuỗi thời gian hay kiểm định nhân quả Granger hay là những
nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy đa biến với dữ liệu chéo của nhiều quốc
gia ).

3.2. Bội chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế
Mối quan hệ giữa bội chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế là một vấn
đề được nghiên cứu khá rộng rãi trên cả phương diện lý thuyết và kiểm định
thự
c nghiệm. Liên quan đến mối quan hệ này, các quan điểm của các trường
phái kinh tế khác nhau cũng rất khác nhau.
Trường phái tân cổ điển cho rằng tăng bội chi hiện tại sẽ kéo theo sự
gia tăng về gánh nặng thuế trong tương lai. Theo đó, người tiêu dùng sẽ
có xu
hướng tăng tiêu dùng tại thời điểm hiện tại. Do đó, trong trường hợp
bối cảnh
tổng cầu sụt giảm (ví d
ụ như trường hợp xảy ra suy thoái). Khi mà nền kinh tế
đang hoạt động ở mức toàn dụng nhân công (không có dư thừa về các yếu tố
sản xuất), việc tăng bội chi ngân sách không những không có tác động đến tổng
cầu mà còn có nguy cơ đưa nền kinh tế trước những rủi ro mới, trong đó đáng

chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa bội chi ngân sách và tăng trưởng
cũng
đưa ra nhiều kết quả không đồng nhất. Ví dụ, Keho (2010) sử dụng mô
xuống.
Khi tiết kiệm quốc gia giảm, lãi suất trên thị trường sẽ tăng và lãi suất tăng sẽ
làm giảm đầu tư, qua đó tạo ra hiện tượng thoái lui đầu tư (crowding out). Vì
thế, trường phái này cho rằng tăng bội chi ngân sách sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến
tăng trưởng kinh tế.
Trường phái này còn cho rằng nếu như việc tài trợ bội chi ngân sách
thông vay nợ trong nước sẽ gây áp lực làm tăng lãi suất trong nền kinh tế, do
vậy sẽ làm giảm đầu tư của khu vực tư nhân. Theo đó, tăng bội chi ngân
sách có thể dẫn đến tăng giá và giảm sản lượng sản xuấ
t trong nền kinh tế.
Một giải thích khác là khi chính phủ vay nợ trên thị trường trong nước, lãi
suất sẽ bị đẩy lên và khi mặt bằng lãi suất bị đẩy lên, khu vực tư nhân sẽ
giảm nhu cầu huy động vốn của mình, theo đó sẽ hạn chế đến sự mở rộng
Tiểu luận: Mối quan hệ giữa bội chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế

Trang8/13

sản xuất của khu vực tư nhân. Hay nói cách khác, sự gia tăng về cầu của
chính phủ thông qua tăng chi tiêu (tăng bội chi ngân sách) đã “chèn lấn” cầu
khu vục tư nhân (Saleh, 2003).
Trong khi đó, trường phái Keynes lại cho rằng tăng bội chi ngân sách sẽ tác
động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Khi chính phủ tăng chi ngân sách từ
nguồn bội chi thì tổng cầu của nền kinh tế sẽ tăng lên, làm cho các nhà đầu
tư tư nhân trở
nên lạc quan hơn về triển vọng kinh tế và sẽ quan tâm hơn đến
việc tăng đầu tư. Trong trường hợp khác, nếu chính phủ chấp nhận bội chi
thông qua việc giảm thuế thì thu nhập khả dụng của khu vực hộ gia đình cũng

PHẦN 2
Quan hệ giữa bội chi ngân sách với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam

Trong 10 năm qua, mặc dù tình hình kinh tế trong nước và quốc tế
diễn biến phức tạp, song Việt Nam vẫn đạt được một số thành tựu về tăng
trưởng kinh tế. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001-2010 là
7,26%, trong đó giai đoạn 2001-2005 bình quân đạt 7,49%, giai đoạn 2006-
2010 đạt 7,02% (Tổng cục Thống kê, 2011). Tăng trưởng kinh tế nhanh đã tạo
điều kiện thuận lợi cho Việ
t Nam gia tăng mức sống của người dân, giảm dần
tỷ lệ hộ nghèo. Tính bình quân cả nước, tỷ lệ hộ nghèo trong giai đoạn 2006-
2010 đã giảm từ mức 16% xuống 9,45%
39
, đạt được mục tiêu đề ra trong Kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2006-2010.

Bảng 1. Tốc độ tăng trưởng GDP và thâm hụt ngân sách

Giai đoạn Tốc độ tăng trưởng
GDP
Tỷ lệ thâm hụt
NSNN
1991-1995 8,21 4,1
1996-2000 7,00 4,0
2001-2005 7,49 4,9
2006-2010 6,90 5,5

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính.
Số năm 2010 là số ước thực hiện.


ngân sách diễn biến ngược chiều nhau. Tuy điều này không đồng nghĩa với
việc là tăng bội chi sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế hay ngược lại, song
cũng đã chỉ ra một số vấn đề cần lưu ý khi xem xét về mối quan hệ giữa bội
chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, nhất là diễn biến trong
những năm gần đây, ít nhất là xét trên giác độ sự “chèn lấn”
hay “lấn át” của
đầu tư công đối với đầu tư c
ủa khu vực tư nhân.

Bảng 2. Hệ số tương quan giữa bội chi ngân sách với tăng trưởng
kinh tế 1991-2010BCVN1 BCQ GD
BCVN
1,00
BCQT
0,74 1,00
GDP
1,00

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa bội chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế

Trang11/13


Nguồn: Tính toán từ số liệu của Bộ Tài chính. Số năm 2010 là số ước thực
hiện. Ghi chú: BCVN1: bội chi theo cách tính Việt Nam và BCQT: bội chi
theo thông lệ quốc tế như định nghĩa ở trên.
Thực tế chiều tác động của mối quan hệ giữa bội chi NSNN và tăng

điều hành chính sách tài khóa. Bên cạnh đó, phân tích ở trên cũng
đã cho
thấy tuy ở những mức độ khác nhau song bội chi ngân sách đều có mối quan
Tiểu luận: Mối quan hệ giữa bội chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế

Trang12/13

hệ mật thiết với các biến số kinh tế vĩ mô. Theo đó, đúc rút được từ kinh
nghiệm các nước trong việc xử lý bội chi ngân sách, để từng bước nâng cao
tính kỷ luật và bền vững tài khóa, một số kiến nghị cho Việt Nam trong thời
gian tới là:
(1)Xem việc giảm dần bội chi NSNN là một trong những ưu tiên trong
điều hành chính sách tài khóa thời gian tới, qua đó từng bước mở rộng
“không gian tài khóa”, góp phầ
n đảm bảo được sự ổn định kinh tế vĩ mô
trong trung và dài hạn.
Bội chi NSNN là cần thiết trong những thời kỳ kinh tế tăng trưởng chậm, tổng
cầu của khu vực tư nhân suy giảm. Song bội chi NSNN ở mức cao và kéo dài
sẽ tiềm ẩn nhiều nguyên nhân gây bất ổn kinh tế vĩ mô. Bài học từ cuộc
khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp và một số quốc gia trong EU g
ần đây là
minh chứng rõ nét nhất cho vấn đề này. Bội chi NSNN bình quân giai đoạn
2006-2010 ước lên đến 5,5%, cao hơn mức 4,9% GDP của giai đoạn 5 năm
trước đó.
Sự gia tăng về bội chi NSNN dự báo sẽ đặt công tác quản lý, điều hành ngân
sách những năm tới trước một số khó khăn nhất định do “không gian chính
sách tài khóa” đã bị thu hẹp đáng kể so với trước. Theo đó, điề
u kiện để Chính
phủ có thể phản ứng lại với các tác động tiêu cực từ bên ngoài như từng thực
hiện trong hai năm 2009-2010 sẽ rất hạn chế.

bội chi ngân sách
này sẽ góp phần từng bước mở rộng không gian tài khóa, hình thành được
các nền tảng vĩ mô cần thiết và vững chắc để hỗ trợ nền kinh tế có thể ứng
phó được các tác động bất lợi t
ừ yếu tố bên trong và bên ngoài vốn có tần suất
xuất hiện ngày càng nhiều. Tuy nhiên, việc giảm con số bội chi nói trên cũng
cần phải được thực hiện đồng thời với việc điều chỉnh lại cách thức tính bội
chi ngân sách như trình bày. Việc giảm con số bội chi ngân sách sẽ không có
nghĩa nghĩa nếu như con số này không phản ánh đúng “thực chất” của mức
bội chi (ví dụ, còn có m
ột số khoản chi còn để ngoài cân đối ngân sách). TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình Nhập môn Tài chính Tiền tệ của Tập thể GV Trường ĐH Kinh
Tế Tp. HCM ( NXB Lao Động Xã Hội- 2008)

2. Trịnh Huy Quách (2010), “Bội chi NSNN – Kinh nghiệm quốc tế và
thực tiễn Việt Nam”, Chuyên đề nghiên cứu trong khuôn khổ Dự án
“Tăng cường năng lực quyết định và giám sát ngân sách của các cơ quan
dân cử ở Việt Nam”.

3. Tổng cục Thống kê (2011), ‘Số liệu thống kê’, 4. Bộ Tài chính (2011). Số liệu công khai ngân sách hàng năm,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status