TÓM LƯỢT LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
KHOA KẾ TOÁN

BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI 02 : TÓM LƯỢT LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ

GIÁO VIÊN BỘ MÔN : TRƯƠNG MINH TUẤN
SINH VIÊN THỰC HIỆN ( NHÓM 07 ) GỒM :
1. HÀ THỦY TIÊN
2. PHAN THỊ KIỀU TRINH
3. NGUYỄN THANH PHÚ
4. BÙI XUÂN CƯỜNG
5. PHẠM HỮU NHÂN
LỚP : KT02 – VB2K15
Lý thuyết Tài chính – Tiền tệ
TPHCM, 11/2012
LỜI MỞ ĐẦU
 o o o o o o o 
Như chúng ta đã biết, bội chi ngân sách là một vấn đề mà các quốc gia
đều gặp phải. Việc xử lý bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) là một vấn đề
nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác
động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Vì vậy, mỗi quốc gia đều có
những biện pháp thích hợp nhằm khắc phục bội chi ngân sách đưa bội chi đến
một mức nhất định, trong đó Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ. Trong
bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có những biến động lớn như: giá dầu tăng cao,
khủng hoảng tài chính tại Mỹ và nhiều nước khác, tình trạng lạm phát diễn ra tại
nhiều nước trên thế giới, vấn đề kiềm chế lạm phát đặt ra vô cùng cấp bách. Vì
vậy xử lý bội chi NSNN như thế nào để ổn định vĩ mô, thực hiện hiệu quả các

Như vậy theo như định nghĩa thì quản lý chi ngân sách nhà nước cũng là
một phần quan trọng trong quản lý ngân sách nhà nước.
Theo cách hiểu đơn thuần thì quản lý chi ngân sách nhà nước là quản lý
những khoản chi tiêu của nhà nước, và nó được thực hiện bởi chủ thể là
những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức cá nhân được nhà nước trao
quyền.
2. Chức năng ngân sách nhà nước:
a. Chức năng phân phối:
Phân phối của NSNN là phân phối các nguồn lực tài chính có liên quan
đến NN, nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng xã hội, thực
hiện tái sản xuất mở rộng, xác lập cơ cấu kinh tế - xã hội hợp lý làm nền tảng
cho quá trình phát triển phù hợp trong từng thời kỳ.
Đặc trưng cơ bản của phân phối NSNN:
• Phân phối dưới hình thức giá trị (chủ yếu sử dụng tiền tệ làm đơn vị
tính toán, làm phương tiện phân phối).
• Tham gia không đầy đủ vào quá trình phân phối các yếu tố đầu vào,
chủ yếu là NN đầu tư trực tiếp, cấp vốn kinh doanh, trợ cấp đối với nền kinh
tế.
• Phân phối NSNN tác động đến cả hai bên cung và bên cầu của nền
kinh tế, gắn liền với sự hình thành và sử dụng quỹ ngân sách của NN.
• NN luôn là chủ thể quyết định trong các quan hệ phân phối có liên
quan đến NSNN, NN sử dụng tối đa quyền lực chính trị thực hiện chức năng
phân phối của NSNN.
• Về cơ bản, quá trình phân phối lại của NSNN đa phần mang đặc tính
không hoàn trả.
b. Chức năng giám đốc:
Chức năng giám đốc của NSNN là việc giám sát, đôn đốc, kiểm tra một
cách thường xuyên, liên tục cùng với quá trình vận động của các đối tượng
Nhóm 07 – Đề tài 2 Trang 4
Lý thuyết Tài chính – Tiền tệ

phát từ những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường (như thị trường nhiều
khi phát ra những tín hiệu sai, làm mất cân đối cung cầu, hiện tượng lạm
phát, phá sản và thất nghiệp, hiện tượng độc quyền, vấn đề ô nhiễm môi
trường, khai thác tài nguyên thiên nhiên, vấn đề phân hóa xã hội, khu vực tư
nhân sẽ không đầu vào hàng hóa công cộng, hoặc những lĩnh vực cần vốn
lớn, nhưng chậm thu hồi vốn hoặc tỷ suất lợi nhuận không cao…), đòi hỏi
phải có sự can thiệp của NN.
b. Vai trò của ngân sách nhà nước trong hệ thống tài chính:
Năm khâu của hệ thống tài chính:
Nhóm 07 – Đề tài 2 Trang 5
Lý thuyết Tài chính – Tiền tệ
• Khu vực Nhà nước (Tài chính NN).
• Khu vực sản xuất, kinh doanh các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phi tài
chính (tài chính của khu vực phi tài chính = tài chính doanh nghiệp).
• Khu vực sản xuất, kinh doanh các dịch vụ tài chính (tài chính của khu
vực tài chính = tài chính của các tổ chức tài chính trung gian).
• Khu vực sản xuất, tiêu dùng ở các hộ gia đình (tài chính của các hộ gia
đình).
• Khu vực hoạt động của các tổ chức xã hội không vì mục đích kinh
doanh (tài chính của các tổ chức xã hội).
Tài chính NN bao gồm ngân sách NN, dự trữ NN, tín dụng NN, ngân
hàng NN, tài chính các cơ quan hành chính NN, tài chính các đơn vị sự
nghiệp NN, tài chính DNNN, các quỹ NN, trong đó NSNN là hạt nhân.
4. Thu ngân sách nhà nước:
Thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa NN và xã hội, phát
sinh trong quá trình NN huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ
tiền tệ tập trung của NN nhằ thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của NN.
Thu NSNN đảm bảo nguồn vốn thực hiện các nhu cầu chi tiêu của NN,
các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của NN.
Thông qua thu NSNN, NN thực hiện việc quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh

Phân loại thuế: căn cứ vào tính chất của thuế, thuế được chia thành 2 loại:
• Thuế trực thu (người nộp thuế = người chịu thuế).
Ví dụ: Thuế thu nhập DN, thuế thu nhập cá nhân,…
Ưu điểm: công bằng (phù hợp với khả năng từng đối tượng).
Nhược điểm: Thường dễ có thái độ từ chối, trốn thuế. Cơ sở tính thuế là
đánh vào thu nhập có trừ đi chi phí cần thiết (xác định sao cho hợp lý ?).
Việc quản lý khó khăn, phức tạp, tốn nhiều chi phí quản lý.
• Thuế gián thu (người trực tiếp nộp thuế # người chịu thuế). Là 1 yếu
tố cấu thành trong giá cả, nhằm động viên một phần thu nhập của người tiêu
dùng.
Ví dụ: Thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt,…
Ưu điểm: thuế cao hay thấp tùy theo túi tiền của người tiêu dùng, năng
suất thu tương đối ổn định vì nhu cầu tiêu dùng lúc nào vẫn tồn tại, tránh
được quan hệ căng thẳng giữa NN và người nộp thuế, dễ điều chỉnh tăng
thuế, là công cụ điều tiết bảo hộ sản xuất kinh doanh trong nước, hướng dẫn
tiêu dùng, dễ quản lý và chi phí quản lý ít hơn thuế trực thu.
Nhược điểm: Không đảm bảo tính công bằng vì chúng ảnh hưởng rất
khác nhau đối với kẻ giàu, người nghèo.
Căn cứ vào đối tượng tính thuế:
• Thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ: thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt,
thuế XNK,…
• Thuế đánh vào thu nhập: thuế thu nhập DN, thuế thu nhập cá nhân,…
• Thuế đánh vào tài sản: thuế nhà đất, thuế tài sản,…
• Thuế đánh vào việc sử dụng tài sản của NN: thuế tài nguyên, thuế sử
dụng đất nông nghiệp.
Căn cứ theo chế độ phân cấp quản lý NSNN:
Nhóm 07 – Đề tài 2 Trang 7
Lý thuyết Tài chính – Tiền tệ
• Thuế trung ương: ngân sách trung ương được hưởng 100%. Tại Việt
Nam : thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa nhập

- Là luật định, dưới hình thức luật
hoặc pháp lệnh do Quốc Hội ban
hành, bãi bỏ, hoặc sửa đổi.
- Không có đối phần cụ thể
Phí, lệ phí
- Dưới hình thức VB do cơ quan hành
pháp ban hành.
- Có đối phần cụ thể.
Nhóm 07 – Đề tài 2 Trang 8
Lý thuyết Tài chính – Tiền tệ
- Là khoản thu chủ yếu của NSNN
- Là công cụ điều tiết vĩ mô nền
kinh tế và điều hòa thu nhập trong
XH.
- Không mang tính hoàn trả trực
tiếp cho người nộp.
- Mang tính chất nghĩa vụ đóng
góp.
- Việc định ra mức thuế phải thận
trọng.
- Mục đích: để giảm chi NS, bù đắp
một phần chi phí của NN.
- Mang tính hoàn trả trực tiếp.
- Chỉ khi có hưởng lợi ích or sử dụng
dịch vụ công cộng mới phải nộp.
- Mức thu là một loại giá cả đặc biệt,
chịu sự chi phối bởi quy luật cung
cầu trên thị trường.
• Căn cứ vào đặc điểm của hình thức động viên được chia làm 3 loại:
+ Thu dưới hình thức nghĩa vụ: Thuế, phí, lệ phí,…

c. Phân loại:
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, chi NSNN được chia làm 6 nhóm :
• Chi đầu tư kinh tế: là những khoản chi nhằm hoàn thiện và mở rộng
nền sản xuất xã hội.
• Chi cho y tế: bao gồm các khoản chi để duy trì và mở rộng hoạt động
của lĩnh vực y tế.
• Chi cho giáo dục: bao gồm các khoản chi cho việc duy trì và phát triển
hoạt động giáo dục – đào tạo.
• Chi cho phúc lợi xã hội: bao gồm những khoản trợ cấp cho người già,
người tàn tật, trẻ mồ côi, người lao động chưa có việc làm, nhân dân các
vùng thiên tai, địch họa, cho thương binh, gia đình liệt sĩ,…
• Chi cho quản lý hành chính: là những khoản chi nhằm duy trì hoạt
động của các cơ quan quản lý NN thuộc chính quyền các cấp, Quốc hội, Hội
đồng nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân,…
• Chi cho an ninh và quốc phòng: là những khoản chi cho các lực lượng
vũ trang và công tác bảo vệ trị an trong nước.
Căn cứ vào tính chất sử dụng được chia làm 2 nhóm:
• Chi cho lĩnh vực sản xuất: là những khoản chi dành cho các ngành sản
xuất vật chất như: công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, thương nghiệp,…
• Chi cho lĩnh vực phi sản xuất: là những khoản chi về dịch vụ công
cộng, văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, y tế, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa
học, quản lý NN,…
Căn cứ vào chức năng quản lý NN:
• Chi nghiệp vụ: là những khoản chi gắn với nghiệp vụ của NN, bao
gồm các khoản chi về tiền lương, tiền công, trả nợ trong nước và ngoài nước,
hỗ trợ và chuyển giao, hưu trí và thâm niên, cung cấp và dịch vụ, trợ giá, trợ
cấp,…
• Chi phát triển: là những khoản chi không gắn với nghiệp vụ của NN,
bao gồm các khoản chi về dịch vụ kinh tế (phát triển nông nghiệp và nông
thôn, các cơ sở công cộng, thương mại, công nghiệp, giao thông,…), các

khả năng thực hiện được.
• Nguyên tắc phân bố hiệu quả: đòi hỏi kế hoạch chi tiêu phải phù hợp
với thứ tự ưu tiên trong chính sách và giới hạn trần của ngân sách. Từ đó có
khả năng lựa chọn giữa các chương trình mang tính cạnh tranh trong khi
nguồn lực có hạn dựa trên các mục tiêu chiến lược.
• Nguyên tắc sử dụng có hiệu quả: để có thể biết được các khoản chi
tiêu sử dụng có hiệu quả hay không đòi hỏi phải thực hiện việc đánh giá dựa
vào kết quả công việc. Nguyên tắc này cũng xem xét các khía cạnh về tính
linh hoạt trong quản lý và cả khả năng dự đoán được kết quả và mục tiêu đã
định.
Nhóm 07 – Đề tài 2 Trang 11
Lý thuyết Tài chính – Tiền tệ
Các yêu cầu về chi ngân sách nhà nước:
Để đảm bảo các nguyên tắc trên, chi ngân sách nhà nước cần đáp ứng các
yêu cầu như:
• Nhà nước phân định và nó trí các khoản chi ngân sách tương ứng với
các nguồn thu thích hợp:
+ Chi tiêu thường xuyên chỉ được sử dụng trong phạm vi từ nguồn thu
trong nước (thuế, phí, lệ phí) và viện trợ nhân đạo.
+ Chi trả nợ gốc nước ngoài trong một phạm vi tỷ lệ quy định trong chi
ngân sách.
+ Chi đầu tư phát triển được xác định một tỷ lệ thich hợp trong tổng số
chi ngân sách để đảm bảo yêu cầu tăng trưởng kinh tế.
• Chi ngân sách phải được thực hiện vai trò điều tiết kinh tế và phát
triển kinh tế. Thông qua chi ngân sách phân phối vốn cho các mục tiêu có
tầm quan trọng lớn để hình thành cơ cấu ngành, cơ cấu sản xuất hiện đại; tập
trung đầu tư cho các ngành kinh tế mũi nhọn, đổi mới công nghệ, kết cấu hạ
tầng, tiến bộ khoa học kỹ thuật, đào tạo, giải quyết công ăn việc làm cho
người lao động.
• Đơn giản bộ máy nhà nước đảm bảo gọn nhẹ, năng động, có hiệu lực,

hội).
+ Thực hiện triệt để tiết kiệm và nâng cao hiệu quả mọi khoản chi. Hoàn
thiện cơ chế chính sách chi tiêu của nhà nước đúng đối tượng, mục đích, có
hiệu quả. Hình thành các quỹ dự trữ quốc gia đủ mạnh (quỹ dự trữ tài chính,
ngoại tệ, kim khí quý, vật tư chiến lược).
• Ban hanh các chế độ, định mức vê chi ngân sách nhà nước: nhà nước
ban hành các chế độ, định mức về chi ngân sách, tạo cơ sở để quản lý chi
ngân sách, tạo cơ sở để quản lý chi ngân sách một cách khoa học và thống
nhất, có hai loại định mức chi ngân sách nhà nước:
+ Định mức phân bổ ngân sách: đây là căn cứ để xây dựng và phân bổ
ngân sách cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, cơ quan
khác ở trung ương và các địa phương. Thẩm quyền quyết định mức phân bổ
ngân sách theo chế độ hiện hành như sau: Thủ tướng chính phủ quyết định
định mức phân bổ ngân sách nhà nước làm căn cứ để xây dựng và phân bổ
ngân sách cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, cơ quan
khác ở trung ương và các địa phương. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh căn cứ
vào định mức phân bổ ngân sách nhà nước do thủ tướng chính phủ ban hành,
khả năng tài chính – ngân sách và đặc điểm tình hình ở địa phương, quyết
định định mức phân bổ ngân sách lam căn cứ xây dựng dự toán và phân bổ
ngân sách ở địa phương.
+ Định mức chi tiêu: Định mức chi tiêu là những chế độ, tiêu chuẩn làm
căn cứ để thực hiện chi tiêu và kiểm soát chi tiêu ngân sách. Theo chế độ
hiện hành, thẩm quyền ban hành định mức chi tiêu như: Chính phủ quyết
định những chế độ ngân sách quan trọng, phạm vi ảnh hưởng rộng, liên quan
đến việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội của cả nước. Thủ tướng chính
phủ quyết định các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu thực hiện thống
nhất trong cả nước. Bộ trưởng Bộ tai chính quyết định chế độ, tiêu chuẩn,
định mức chi ngân sách đối với các ngành lĩnh vực sau khi thống nhất với
các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực. Đối với một số nhiệm vụ chi có tính chất
đặc thù ở địa phương trên cơ sở nguồn ngân sách địa phương được đảm bảo.

+ Chi ngân sách nhà nước phải được thực hiện theo đúng dự toán đã
được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
+ Chi ngân sách nhà nước phải đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp
có thẩm quyền quy định.
+ Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy
quyền quyết định chi.
• Kiểm tra, giám sát chi ngân sách nhà nước:
+ Cơ quan tài chính có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi
tiêu và sử dụng ngân sách ở các cơ quan, đơn vị. trường hợp phát hiện các
khoản chi vượt nguồn cho phép, chi sai chính sách, chế độ thì cơ quan tài
chính có thẩm quyền yêu cầu Kho bạc nhà nước tạm dưng thanh toán các
khoản chi.
Nhóm 07 – Đề tài 2 Trang 14
Lý thuyết Tài chính – Tiền tệ
+ Kho bạc nhà nước thực hiện việc thanh toán, chi trả các khoản chi
ngân sách nhà nước căn cứ vào dự toán được giao, quyết định chi của thủ
trưởng đơn vị sử dụng ngân sách và tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết
khác theo quy định. Trường hợp phát hiện không đủ điều kiện chi thì có
quyền từ chối các khoản chi.
+ Cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương hướng dẫn, theo dõi,
kiểm tra việc sử dụng ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực do cơ quan quản lý và
của các đơn vị trực thuộc, chịu trách nhiệm về những sai phạm của các đơn
vị, tổ chức trực thuộc.
+ Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước quản lý, sử dụng ngân
sách và tài sản nhà nước theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức, đúng mục
đích, tiết kiệm hiệu quả. Trường hợp vi phạm, tùy theo tính chất và mức độ
sẽ bị xử lý lỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
theo quy định của pháp luật.
II. LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ:
Để bàn về vấn đề tăng trưởng kinh tế thì có rất nhiều lý thuyết đề cập tới

trung vào tay của một số ít người. Những tình huống tăng trưởng mà không
phát triển là những ngoại lệ chứ không phải là một qui luật, nhưng trên thực
tế điều này đã xảy ra. Ví dụ, việc khám phá và phát triển mới đây của những
mỏ dầu rất lớn ngoài khơi của Guinea Xích đạo đã tăng thu nhập bình quân
đầu người của quốc gia nhỏ trên bờ biển phía tây châu Phi này từ khoảng
700 đô la trong năm 1990 đến hơn 3.700 đô la. Vào năm 2003 Guinea Xích
đạo có thu nhập bình quân đầu người có thể so sánh với thu nhập của Costa
Rica; nhưng hai quốc gia này giống nhau chỉ có bấy nhiêu mà thôi. Mặc dù
mức thu nhập bình quân đầu người cao bất ngờ nhưng vẫn có rất ít biến đổi
về mức giáo dục thấp và tình trạng sức khỏe yếu kém, hay trong hoạt động
kinh tế của phần lớn Guinea Xích đạo
• Hai trong số những thay đổi cơ cấu quan trọng nhất thường đi kèm với
phát triển kinh tế là phần đóng góp của công nghiệp tăng lên cùng với phần
đóng góp của nông nghiệp giảm xuống trong sản phẩm quốc dân và tỷ lệ dân
chúng sống trong thành phố tăng nhiều hơn ở miền quê. Thêm vào đó, những
quốc gia bắt đầu phát triển kinh tế thường trải qua những giai đoạn dân số
tăng vọt, rồi sau đó chậm lại, trong thời gian này cơ cấu tuổi của quốc gia
thay đổi đột ngột. Những mô hình tiêu dùng cũng mở ra khi người ta không
còn tiêu hết thu nhập của mình vào nhu yếu phẩm mà thay vào đó chuyển
sang hàng tiêu dùng lâu bền và thỉnh thoảng chi tiêu cho những dịch vụ và
sản phẩm dành cho thì giờ nhàn rỗi. Nếu tăng trưởng chỉ có lợi cho một thiểu
số giàu có, dù trong nước hay nước ngoài, thì đó không phải là sự phát triển
• Cuối cùng, chúng ta nên luôn ghi nhớ rằng, mặc dù phát triển kinh tế
và tăng trưởng kinh tế hiện đại liên quan nhiều hơn với sự gia tăng trong thu
nhập bình quân trên đầu người hay sản phẩm, nhưng không có phát triển bền
vững nào có thể diễn ra mà không có tăng trưởng kinh tế.
2. Các chỉ số đo lường về tăng trưởng kinh tế phổ biến:
• Trọng tâm của các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế là những thay
đổi về thu nhập quốc dân. Có hai số đo cơ bản của thu nhập quốc dân thường
được sử dụng phổ biến. Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là tổng giá trị các

hơn. Một phần vì dễ dàng theo dõi hoạt động kinh tế trong biên giới đất nước
hơn, nên GDP trở thành một số đo phổ biến hơn về thu nhập quốc dân được
sử dụng bởi Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Chương trình phát triển Liên hiệp
quốc, Ngân hàng Thế giới, và các tổ chức đa phương khác cũng như các nhà
nghiên cứu tham gia vào việc phân tích số liệu so sánh giữa các nước và các
xu hướng. Chúng ta tuân theo thông lệ này và chủ yếu liên hệ đến GDP và
GDP đầu người như một số đo thu nhập quốc dân kể từ đây trở đi. Trừ khi
có ghi chú khác, khi thảo luận về các xu hướng theo thời gian, ta liên hệ đến
GDP thực và GDP thực đầu người, nghĩa là tổng sản phẩm quốc nội đầu
người đã được điều chỉnh theo lạm phát giá nội địa.
Nhóm 07 – Đề tài 2 Trang 17
Lý thuyết Tài chính – Tiền tệ
Tóm lại: qua phân tích ở trên các bạn cũng có thể hiểu phần nào về khái
niệm tăng trưởng kinh tế để từ đó ta có thể tìm hiểu tiếp theo về mối quan hệ
giữa bội chi ngân sách nhà nước với tăng trưởng kinh tế.
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ:
1. Mặt tích cực:
Bội chi ngân sách nhà nước (BCNSNN) có quan hệ đặc biệt tới tăng
trưởng kinh tế. Mặc dù không luôn luôn đạt thành quả như mong muốn,
nhưng xét bình quân, nó một tác động tích cực đối với tăng trưởng và phát
triển kinh tế.
Cơ sở lập luận về mặt kinh tế rõ ràng nhất của Bội chi ngân sách là để
đẩy mạnh tăng trưởng thông qua tài trợ đầu tư mới, đặc biệt đầu tư vào hàng
hóa công. BCNS được sử dụng để xây dựng đường sá, bến cảng, nhà máy
phát điện, trường học và các cơ sở hạ tầng khác giúp thúc đẩy quá trình tích
luỹ vốn, mà (nếu đầu tư hữu hiệu) sự tích luỹ vốn này sẽ tăng tốc tỷ lệ phát
triển. Sự tạo lập vốn này thông qua viện trợ (không hoàn lại và có hoàn lại)
là động lực chính của tăng trưởng. Ta có thể thấy rằng, muốn BCNS thì
chúng ta phải huy động 1 lượng vốn còn thiếu so với nhu cầu chi tiêu. Vậy

mạng xanh. Tương tự, một phần viện trợ đáng kể nhằm tài trợ sự hỗ trợ kỹ
thuật và tư vấn mà sau cùng vì mục đích củng cố thể chế và gia tăng năng
suất. Loại viện trợ này, khi có tác dụng, có thể được xem là làm dịch chuyển
hàm sản xuất hướng lên trên, qua đó giúp gia tăng tỷ lệ tăng trưởng.
BCNS thông qua viện trợ có thể có tác động tích cực đối với các mục tiêu
phát triển quan trọng khác mà có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng một cách
gián tiếp hay chỉ ảnh hưởng sau một thời gian dài, như y tế, giáo dục, hay
môi trường. Tương tự, viện trợ có thể mang lại sự trợ giúp khẩn cấp hay cứu
trợ nhân đạo hay được sử dụng để giúp đạt được ổn định kinh tế vĩ mô.
Chúng ta sẽ lần lượt trình bày ngắn gọn từng điểm một sau đây.
Gần một nửa trong tất cả các dòng viện trợ là nhằm vào cải thiện y tế,
giáo dục, môi trường và các mục tiêu khác. Viện trợ giúp tài trợ cho công tác
tiêm chủng, cung ứng vật tư y tế, thuốc men, mùng màn (để ngăn sự lây lan
bệnh sốt rét), nước sạch, và đồ dùng nhà trường là nhằm giúp cung cấp các
hàng hoá và dịch vụ thiết yếu cho những người quá nghèo không thể có khả
năng chi trả. Theo thuật ngữ kinh tế, phần lớn các loại chi tiêu này được xem
là bổ sung cho tiêu dùng chứ không phải chi tiêu đầu tư (cho dù một phần
viện trợ cho giáo dục và y tế, như xây trường học và phòng khám chữa bệnh
được xem là chi tiêu đầu tư).
Tăng trưởng kinh tế thường là một mục tiêu thứ cấp dài hạn của loại viện
trợ này. Người lao động có trình độ hơn, sức khoẻ tốt hơn sẽ làm việc có
năng suất hơn, làm dịch chuyển hàm sản xuất và mở rộng sản lượng và thu
nhập. Ta cũng có thể lập luận tương tự ít nhất cho một số dạng viện trợ
nhằm vào mục đích bảo vệ môi trường. Cải tiến quản lý lâm nghiệp hay ngư
nghiệp, làm sạch nguồn nước, hay giảm ô nhiễm không khí có thể giúp cải
thiện phúc lợi và tăng năng suất theo thời gian. Tuy nhiên, tác động đối với
tăng trưởng có thể phải mất một thời gian dài mới hiện thực hoá được. Các
chương trình tiêm chủng trẻ em hay cải thiện chất lượng tiểu học chỉ ảnh
Nhóm 07 – Đề tài 2 Trang 19
Lý thuyết Tài chính – Tiền tệ

chúng có tính chu kỳ mà kinh tế học gọi là chu kỳ kinh doanh. Chu kỳ kinh
doanh có thể được định nghĩa là sự biến động của sản lượng thực dao động
xoay quanh sản lượng tiềm năng (còn được gọi là sản lượng thực theo xu
hướng). Độ dài của chu kỳ kinh doanh không xác định được vì các cú sốc
trong nền kinh tế không theo quy luật, nó có thể kéo dài hàng chục năm,
cũng có thể rất ngắn trong khoảng vài năm. Một chu kỳ kinh doanh bao gồm
4 thời kỳ theo một trình tự nhất định: hưng thịnh, suy thoái, đình trệ và phục
hồi. Ở thời kỳ hưng thịnh là thời kỳ có mức sản lượng thực tế cao hơn sản
lượng tiềm năng và làm cho tối đa hóa sản xuất làm cho xu hướng mức giá
Nhóm 07 – Đề tài 2 Trang 20
Lý thuyết Tài chính – Tiền tệ
chung tăng lên, dẫn đến tỷ lệ lạm phát tăng cao. Tất nhiên ở cực đối lại thời
kỳ đình trệ là thời kỳ có mức sản lượng thực tế thấp hơn sản lượng tiềm
năng và nó là điều mà bất cứ ai cũng không mong muốn vì nhiều nguồn lực
sẽ không được sử dụng, trong đó có lao động, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao.
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng, nếu như sản lượng quá cao hay quá thấp
đều không tốt cho nền kinh tế vậy thì sản lượng đáng mong muốn là mức
trung bình giữa 2 cực đó, một mức sản lượng không quá cao để tỷ lệ lạm
phát vừa phải và cũng không quá thấp để tỷ lệ thất nghiệp ở mức tự nhiên.
Đó là mức sản lượng mà các nhà kinh tế gọi là sản lượng tiềm năng mà tôi
đã đề cập ở trên.
Tại sao chúng tôi lại đưa ra khái niệm về chu kỳ kinh doanh. Các bạn cứ
vận dụng mô hình này chuyện chúng ta đang bàn ở đây đó là vấn đề bội chi
ngân sách hay nói chi tiết và cụ thể hơn là đầu tư công (ở đây chúng tôi chưa
đề cập tới những khoảng chi đầu tư phát triển khác) vì chủ yếu khoảng bội
chi ngân sách này chủ yếu dùng cho lĩnh vực này. Khi chính phủ quyết định
chi Ngân sách nhà nước cho đầu tư công, tức là đang chi tiền nghĩa là dòng
tiền đang đi ra từ quỹ tiền tệ là Ngân sách nhà nước. Chúng ta thử hình dung
1 tí như sau: là tại sao chính phủ lại quyết định đầu tư nhiều hơn mức tiềm
lực của đất nước bằng cách đi vay mượn, phải chăng là do nền kinh tế đang

một trong những mục tiêu quan trọng trong nên kinh tế quốc gia, nếu không
được thực hiện một cách đúng đắn thì rất gây ra lãng phí nguồn lực quốc gia,
tổn thất nặng nề cho nền kinh tế, làm cho nền kinh tế đi vào suy thoái. Tại
sao nhóm chúng tôi đề cặp tới vấn đề này vì ngoài những mặt tích cực do
đầu tư phát triển mang lại cho cuộc sống chất lượng hơn cho người dân mà
mọi người ai cũng cảm nhận được, thì rất nhiều vấn đề mà vẫn tồn tại hàng
ngày vẫn được đông đảo mọi người quan tâm. Ở đời mà, nhiều người đứng
đầu cơ quan nhà nước có những đóng góp thì ít được mọi người chú ý tới,
chắc cũng bởi vì cuộc sống cơm áo gạo tiền này nên chắc người ta không
còn mấy quan tâm đến những con ngưới này hay là do chế độ nhà nước này;
mà người ta hay để ý tới những vấn đề thời sự nhiều hơn như tham ô, tham
nhũng, thất thoát tiền Ngân sách nhà nước…Bài viết này do người trong hệ
thống vận hành của bộ máy nhà nước ta viết ra sẽ cho chúng ta thấy một
phần nào đó những tác động tiêu cực, dẫn đến nhiều vấn đề trong xã hội, đặc
biệt là ảnh hưởng rất lớn tới sự tăng trưởng kinh tế của đất nước. Riêng tôi,
tôi là một người làm trực tiếp trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, tôi
cũng đã từng được trải nghiệm những điều này như những con người bình
thường khác mà không có 1 chút suy nghĩ hay phản kháng gì cả. Nói chung
đây cũng là cái guồng máy khi bạn đã vào rồi thì các bạn chỉ có thể được
hoàn thành theo như thiết kế mà thôi.
 Những công trình không đem lại hiệu quả kinh tế sẽ làm cho nguồn
lực quốc gia suy kiệt, ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển của cả nước nói
chung, đó là chưa kể tới những tác hại về môi trường, lòng tin của người
dân…
 Điểm lại từ ngày triển khai công cuộc đổi mới tới nay, nền kinh tế
nước ta đã trải qua nhiều đợt đầu tư “theo phong trào”, nhiều “hội chứng đầu
tư” đã xuất hiện. Nào là đua nhau đầu tư xây dựng nhà máy bia, thuốc lá,
tiếp đến là xi măng lò đứng, mía đường, lắp ráp xe máy, sản xuất bột sắn,
đánh bắt xa bờ, xây dựng cảng biển, khu công nghiệp và khu kinh tế, kể cả
kinh tế cửa khẩu. Kế đến là bột giấy, cán thép, thủy điện nhỏ và vừa, khu

viên… trong khi với số tiền đã bỏ ra để xây dựng chúng ta có thể giải quyết
biết bao nhu cầu dân sinh bức bách khác
 Nguyên nhân đẻ ra tình trạng trên có nhiều: nào là tâm lý muốn phát
triển nhanh, nào là ý nguyện “công nghiệp hóa” bằng mọi giá, nào là cơ chế
phân bổ nguồn vốn theo kiểu cào bằng và xin - cho, nào là tâm lý “nhiệm
kỳ”, nào là những tính toán theo lợi ích ngành và địa phương, thậm chí cá
nhân… Ở đây chỉ xin nhấn mạnh một số nguyên nhân liên quan tới tư duy
kinh tế và cơ chế quản lý, phân cấp.
Cầu quyết định cung
 Mọi người đều rõ, trong nền kinh tế thị trường thì “cầu” quyết
định“cung”; vấn đề không chỉ là có thể làm gì mà chủ yếu là thị trường có
Nhóm 07 – Đề tài 2 Trang 23
Lý thuyết Tài chính – Tiền tệ
cần và có khả năng tiêu thụ, sử dụng không. Về chuyện này chỉ xin lấy ra vài
ba chuyện.
 Thứ nhất: Thứ nhất là chuyện xây cảng, trong đó có cảng nước
sâu,cảng tầm cỡ quốc tế. Một điều không cần bàn cãi là nước ta có bờ biển
dài, vận tải biển cần chiếm tỷ trọng cao, do đó cần xây dựng cảng biển; vấn
đề chỉ là làm sao bảo đảm tính hiệu quả của chúng
 Muốn vậy thì địa hình (nước nông sâu) chưa đủ mà còn cần có địa thế
thuận tiện (kể cả đường vào, đường ra bến cảng và các tuyến vận tải biển
quốc tế) và nhất là nguồn hàng vào-ra dồi dào, năng lực quản lý tốt làm cho
việc vận chuyển, bốc xếp vừa rẻ vừa nhanh, qua hàng trăm năm vận hành
hiệu quả cao tạo thành thương hiệu nổi tiếng.
 Có người nói nước ta có bờ biển dài, nằm gần đường vận tải biển quốc
tế sôi động như vậy mà kém Singapore là không chấp nhận được! Hãy bình
tâm xem lại trên thế giới biết bao nước có bờ biển còn dài hơn bờ biển nước
ta nhiều, trình độ phát triển kinh tế cao hơn nhiều lần nhưng vì sao vẫn
không có được các cảng biển tầm cỡ quốc tế; ngược lại nhiều cảng tầm cỡ
toàn cầu lại nằm ở những vùng lãnh thổ khá hẹp như Singapore, Hồng Kông,

tạo động lực cho họ
Lẫn lộn địa giới hành chính với không gian kinh tế
 Việc đầu tư dàn trải kém hiệu quả, na ná như nhau còn liên quan tới sự
lẫn lộn về khái niệm giữa địa giới hành chính và không gian kinh tế. Do cơ
chế và lợi ích của địa phương, mỗi tỉnh đều muốn trở thành một thực thể
kinh tế “hoàn chỉnh” nông - công nghiệp - dịch vụ đều có, kèm theo là
trường đại học, bến cảng, sân bay, khu kinh tế…mặc dầu không hội đủ điều
kiện.
 Công nghiệp hóa đất nước không có nghĩa là tỉnh nào, huyện nào cũng
công nghiệp hóa mà cần có sự phân công lao động hợp lý phù hợp với lợi thế
của từng vùng. Trong khi đó, sự liên kết và quy hoạch vùng còn xa mới đáp
ứng yêu cầu làm cho nguồn lực bị phân tán, trùng chéo, hiệu quả thấp, nền
kinh tế nước nhà đã yếu càng yếu thêm
 Sở dĩ có tình trạng này một phần do sự lẫn lộn khái niệm, một phần
khác do tâm lý địa phương chủ nghĩa, căn bệnh nhiệm kỳ và nhất là cách
đánh giá thành tích, phân bổ ngân sách và vốn đầu tư từ trung ương đã thúc
đẩy cuộc chạy đua về dự án, công trình, tốc độ tăng trưởng “GDP tỉnh-
thành”
 Góp phần vào căn bệnh này còn có những khiếm khuyết trong khâu
quy hoạch và phân cấp giữa trung ương và địa phương. Thực ra lâu nay ta đã
có quy hoạch ngành và vùng lãnh thổ. Vấn đề chỉ là chất lượng quy hoạch:
nhiều khi quy hoạch không đủ tầm nhìn, mới triển khai đã lạc hậu so với
cuộc sống; quy hoạch ngành thường rất chậm so với quy hoạch vùng; tính
đồng bộ không cao (tình trạng quá tải trên các quốc lộ và tỉnh lộ vận chuyển
bauxite Lâm Đồng, đường vào các cảng ở Hải Phòng, TPHCM, Bà Rịa -
Vũng Tàu… là những minh chứng gần đây nhất). Quy hoạch đã quan trọng,
việc thực hiện quy hoạch còn quan trọng hơn nếu tính rằng, nhiều bản quy
hoạch trong thực tế không được tuân thủ nghiêm ngặt, quy hoạch một đằng,
thực thi một nẻo
Nhóm 07 – Đề tài 2 Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status