Tóm lượt lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế - Pdf 51

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA KẾ TOÁN

TIỂU LUẬN MÔN

TÀI CHÍNH – TIỀN TÊ

Đề tài số 5:

Tóm lượt lý thuyết về mối quan hệ giữa
nợ công và tăng trưởng kinh tế
Giảng viên hướng dẫn:
Trương Minh Tuấn
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 17
Họ và tên sinh viên
1. Nguyễn Thị Kim Loan

Số thứ tư
66

Chữ ki


2. Đào Lê Phương Dung
3. Hoàng Thị Huê
4. Nguyễn Thị Thanh Tâm

11
43
118


Kết luận.......................................................................................................18

Tài liệu tham khảo............................................................................................18


NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I.

Quan điểm về nợ công
Nợ công thường được hiểu là nợ của khu vực công. Tuy nhiên, hiên nay vẫn còn

nhiều quan niêm khác nhau về nợ công:
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), nợ công là toàn bộ những khoản nợ của chính phủ
và những khoản nợ được chính phủ bảo lãnh.
Theo Quỹ Tiền tê Quốc tế (IMF), nợ công bao gồm nợ của khu vực tài chính công
và khu vực phi tài chính công. Tại hầu hết các nước trên thế giới, nợ công được xác
định bao gồm nợ của chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh. Một số nước, nợ công
còn bao gồm nợ của chính quyền địa phương (Bungari, Rumani, Viêt Nam…), nợ
của doanh nghiêp nhà nước phi lợi nhuận (Thái Lan, Macedonia…). Như vậy,
quan niêm về nợ công cũng còn tùy thuộc vào thể chế kinh tế- chính trị của mỗi quốc
gia.
Ở Viêt Nam, theo khoản 2 Điều 1 của Luật quản lý nợ công ban hành năm 2009
(có hiêu lực từ tháng 7 năm 2010) quy định nợ công bao gồm: Nợ chính phủ, nợ được
chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương:


Nợ chính phủ là khoản nợ được ký kết phát hành nhân danh Nhà nước hoặc Chính

phủ, các khoản nợ do Bộ Tài chính ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành, không
bao gồm các khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Viêt Nam phát hành nhằm thực hiên

của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước trong một
thời gian nhất định (thường là một năm). Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản phẩm
quốc nội cộng với thu nhập ròng.


Tổng sản phẩm bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia cho dân số.

Tổng thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc gia chia cho dân số.


Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bình quân

đầu người trong một thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế thể hiên sự thay đổi về
lượng của nền kinh tế. Tuy vậy ở một số quốc gia, mức độ bất bình đẳng kinh tế tương
đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân đầu người cao nhưng nhiều người dân vẫn sống
trong tình trạng nghèo khổ.

III.

Lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế


1. Các quan điểm cổ điển
Quan điểm truyền thống đại diên là Keynes cho rằng: Khi chính phủ vay nợ để bù
đắp cho thâm hụt ngân sách do cắt giảm các nguồn thu từ thuế trong khi mức chi tiêu
công không thay đổi sẽ tác động đến hành vi tiêu dùng của người dân. Cụ thể là làm
mức tiêu dùng tăng, từ đó làm tăng tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ, tăng sản lượng,
viêc làm trong ngắn hạn. Tuy nhiên, về dài hạn lại làm cho tiết kiêm quốc gia giảm và
kèm theo đó là những hê lụy khác.
Quan điểm của David Ricardo, một nhà kinh tế người Anh (1772-1832) lại cho

và sự hỗ trợ tài chính từ những nước Phương Tây để khắc phục sự khó khăn về
nguồn lực là điều trở nên rất cần thiết. Mặt khác, nợ nước ngoài như là một sự ràng
buộc chính yếu đến cấu trúc vốn của những quốc gia đang phát triển. Trong hầu hết
các trường hợp, nợ dồn tích lại bởi vì những yêu cầu thanh toán cả vốn gốc và lãi của
nó, do đó, nợ dần trở nên không góp phần một cách đáng kể cho sự phát triển kinh tế
tại những đất nước đang phát triển trong dài hạn. Phát triển những ý tưởng trên, theo
Elmendorf và Mankiw (1999), nợ công có ảnh hưởng quan trọng đến nền kinh tế cả
trong ngắn và dài hạn. Các khoản nợ (phản ánh tài trợ thâm hụt) có thể kích thích
tổng cầu và sản lượng trong ngắn hạn do lượng vốn cung cấp cho nền kinh tế tăng
cao, đáp ứng nhu cầu huy động vốn của những cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế,
nhưng chèn lấn vốn đầu tư và làm giảm sản lượng trong dài hạn. Nợ công cao có thể
ảnh hưởng bất lợi đến tích lũy vốn và tăng trưởng thông qua lãi suất dài hạn cao hơn,
bóp méo hê thống thuế trong tương lai cao hơn, lạm phát và sự không chắc chắn cao
hơn về các triển vọng và chính sách.
Có thể nói rằng: trong ngắn hạn, nợ công tác động tích cực lên tăng trưởng kinh
tế bởi cung cấp một lượng vốn thiết yếu đối với chi tiêu cho đầu tư phát triển của
quốc gia, nâng cao năng suất nhưng kèm theo đó là những nghĩa vụ nợ phải thực hiên
trong tương lai, dẫn đến những ảnh hưởng bất lợi đến tích lũy vốn và tăng trưởng
kinh tế dài hạn nếu không có một chính sách quản lý nợ công phù hợp và hữu hiêu.


Thứ hai, đối với những quốc gia phát triển và những nền kinh tế thị trường mới
nổi, mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế biểu hiện rõ nhất khi nợ vượt
mức 90-100% GDP. Lúc này, nợ càng tăng, tăng trưởng kinh tế giảm đáng kể.
Theo M. Reinhart và S. Rogoff, hai nhà kinh tế học nổi tiếng về nghiên cứu lĩnh
vực nợ công, đã xem xét mối quan hê giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế với các
mức độ khác nhau của nợ công ở những nền kinh tế tiên tiến và mới nổi, dựa trên
chuỗi số liêu quá khứ dài hạn và mô tả thực nghiêm đã đưa ra kết quả tác động phi
tuyến của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu gần đây (2010) được thực
hiên bởi hai tác giả này, thông qua thống kê tương quan đơn giản về những mức khác

ngại đến tăng trưởng và phát triển kinh tế. Khi vay nợ của một quốc gia tăng lên và
càng cao, những e ngại về vấn đề mất khả năng chi trả được đặt nặng, các quốc gia
khác tiến hành thẩm định môi trường đầu tư kỹ càng hơn và từ đó, đưa ra những điều
khoản khắt khe hơn gây ảnh hưởng đến hội nhập kinh tế của nền kinh tế chính quốc.
Hơn thế nữa, gánh nặng nợ quốc gia gây cản trở chi tiêu công cho đầu tư phát triển,
hạn chế viêc tích lũy nguồn vốn (sự trống rỗng trong dự trữ) và có khuynh hướng cản
trở áp dụng những chính sách tiền tê linh hoạt để củng cố những doanh nghiêp vừa và
nhỏ do nguồn thu được phải đáp ứng phần lớn nghĩa vụ nợ cả gốc và lãi. Điều này đã
ảnh hưởng một cách gián tiếp đến viêc làm, học vấn và sự bần cùng, nghèo khó của
người dân trong một quốc gia.
Thứ tư, tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm và đầu tư có mối quan hệ với nhau, khi
vốn nội địa không đủ để tài trợ cho chi tiêu đầu tư trong nước thì vay nợ là tất yếu
để phục vụ phát triển kinh tế. Tuy nhiên, vay nợ luôn kèm theo những rủi ro do lãi
suất, thời hạn, cơ cấu vay mượn, gây ảnh hưởng tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế,
do đó vấn đề quản lý nợ hiệu quả đang trở nên cấp thiết.
Theo Hunt (2007), sự tăng lên trong tiết kiêm và đầu tư của nền kinh tế dẫn đến
tăng trưởng kinh tế. Sachs (2002) tranh luận rằng sự tăng trưởng sẽ không tăng cho
đến khi tổng lượng vốn tăng đạt đến một ngưỡng nhất định. Khi lượng vốn tăng, đầu
tư và sản lượng đầu ra tăng, trong vòng xoắn tiến lên, tiết kiêm sẽ tiếp tục tăng. Sau
khi đạt được một mức độ, sự tăng lên trong cả vốn và tiết kiêm sẽ kích thích sự tăng


lên trong tăng trưởng một cách tự lực. Lý thuyết “dual-gap” nói rằng đầu tư là một
hàm của tiết kiêm, và trong những quốc gia đang phát triển, mức độ tiết kiêm nội địa
không đủ để tài trợ cho đầu tư cần thiết để đảm bảo phát triển kinh tế, vì vậy, thật hợp
lý khi tìm kiếm sử dụng những sản phẩm và dịch vụ từ bên ngoài. Colaco (1985) đã
giải thích tính chất nhạy cảm của viêc thanh toán nợ đối với những nước đang phát
triển thông qua sử dụng ba kịch bản: (i) quy mô khoản nợ nước ngoài đạt đến một
mức độ mà lớn hơn so với vốn tự có, dẫn đến sự không cân bằng giữa nợ và vốn tự
có; (ii) tỷ lê nợ với lãi suất thả nổi tăng đột ngột, vì vậy những người vay mượn phải

như sự giảm bớt chi tiêu cho đầu tư Chính Phủ. Điều này rất quan trọng cho viêc
đánh giá, xem xét vì chi tiêu công được xem là yếu tố quyết định chủ yếu của các
hoạt động kinh tế trong nhiều vấn đề chức năng. Nợ tích lũy làm giảm sức mạnh của
nền kinh tế thông qua tác động “nợ tăng thêm” với trở ngại thuế khóa và bất ổn định
vĩ mô. Trở ngại thuế khóa nghĩa là tồn nợ lớn không khuyến khích đầu tư vì những
người đầu tư tiềm năng nhận thấy rằng sẽ có thuế cao hơn trên thu nhập tương lai để
tạo nên khoản hoàn trả nợ. Bất ổn vĩ mô có liên quan đến viêc gia tăng thiếu hụt tài
chính, không chắc chắn do sự huy động vốn bất thường, sự suy giảm giá trị đồng nội
tê, mở rộng tiền tê và lạm phát dự đoán.
Tóm lại, theo phân tích của giới kinh tế học trên thế giới, nợ công là thành phần
không thể thiếu được trong cấu trúc tài chính của mỗi quốc gia. Nó có tác động tích
cực đến nền kinh tế trong ngắn hạn, nhưng cũng có thể gây nên nguy cơ tổn hại đối
với nền kinh tế trong dài hạn. Đó là do sự tồn đọng nợ theo thời gian, những yêu cầu
chi trả nợ cả vốn gốc và lãi, sự trở ngại thuế khóa, bất ổn vĩ mô và sự giảm bớt chi
tiêu đầu tư phát triển quốc gia một cách đáng kể. Do đó, chính sách quản lý nợ công
hiêu quả đòi hỏi phải lường trước những nguy cơ, rủi ro gặp phải, xác định mức nợ
phù hợp, cân đối hợp lý mức chi trả nợ trong tương lai, góp phần tác động tích cực
đến tăng trưởng kinh tế.
IV.

Mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế thông qua các kênh truyền

dẫn trung gian
Theo hai tác giả Cristina Checherita và Philipp Rother, nợ công không tác động


trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế mà thông qua những kênh truyền dẫn trung gian để
từ đó mỗi sự thay đổi trong nợ công sẽ làm biến động những kênh trung gian này và
qua đó tác động lên tăng trưởng kinh tế theo một độ trễ nhất định. Đồng thời đưa ra
những quan điểm và bằng chứng thực nghiêm khác để lý giải về mỗi cơ chế tác động

thực tế là các cá nhân có thể chống lại các áp lực do lạm phát gây ra và/hoặc
những rắc rối trong thị trường tài chính và/hoặc sự chuyển giao vốn ra nước ngoài.
2. Nợ công vượt ngưỡng 45% - 68% GDP, tỷ lệ đầu tư công có khuynh
hướng giảm dần
Xét đến kênh đầu tư tư nhân, chúng tôi không tìm thấy tác động (trực tiếp) của nợ
lên đầu tư tư nhân. Phương trình ước lượng tổng nguồn vốn cố định như sau:

Kết quả qua các mô hình khác nhau không thuyết phục thì cũng không mạnh, các
biến số của nợ hầu như là vô nghĩa. Xoay quanh đầu tư công (tính trên tổng nguồn
vốn cố định của chính phủ), phương trình hồi quy sau được đưa ra:

Kết quả hồi quy chỉ ra mối quan hê dạng lõm giống nhau giữa nợ công và đầu tư
công; với điểm ngoặt từ 45% GDP đến 68% GDP. Vượt trên ngưỡng này, mối quan hê
phủ định giữa nợ công và đầu tư công có thể được giải thích bởi thực tế là khi nợ
vay tăng quá cao, nỗi lo sợ về vấn đề phụ thuộc kinh tế và ảnh hưởng đến can thiêp
chính trị đã làm cho các Chính Phủ có xu hướng cắt giảm chi tiêu cho đầu tư công, kể
cả viêc xây dựng và bảo quản cơ sở hạ tầng công cộng, điều thiết yếu trong lĩnh vực
công để dồn sức hoàn trả những khoản nợ đang tăng dần.


Liên quan đến kênh truyền đầu tư, có quan điểm cho rằng viêc vay mượn của
Chính Phủ thì mở rộng trong ngắn hạn nhưng bị thu hẹp trong dài hạn. Lý thuyết kinh
tế của Keynes tranh luận rằng: khi khoảng cách giữa giá cả và lương bổng bị thu
hẹp, nợ cao hơn do cắt giảm thuế để tài trợ cho thâm hụt hoặc gia tăng tiêu dùng làm
tăng tổng cầu, dẫn đến thu nhập và sản lượng đầu ra gia tăng. Tuy nhiên, thâm hụt làm
giảm tiết kiêm khu vực công. Nếu tiết kiêm tư nhân và dòng vốn vào không tăng
đủ để bù đắp hoàn toàn cho vay mượn của Chính Phủ, lãi suất sẽ tăng theo thời gian.
Kết quả là, đầu tư bị chèn lấn, vốn và sản lượng sẽ sụt giảm, làm vô hiêu hóa lợi ích
mở rộng nợ trong ngắn hạn. Như vậy, trong ngắn hạn, tác động của nợ Chính Phủ
chủ yếu được xác định bởi kiểu cú sốc tài khóa hoặc tiền tê gây ra viêc mở rộng nợ.

cháy” tức thời của chính phủ là thắt chặt chính sách tiền tê – tăng lãi suất. Cách lý giải
này phù hợp với nợ được bảo lãnh của chính phủ cho các doanh nghiêp Nhà nước
làm ăn kém hiêu quả. Tuy nhiên, đầu tư chỉ là một khía cạnh của viêc vay nợ và nợ
bảo lãnh cũng chiếm một tỷ lê nhỏ trong nợ công, nên tác động theo cách lý giải này
chưa bao quát được vấn đề.
Cách lý giải khác là dựa vào viêc duy trì tình trạng có thể trả được nợ của Chính
Phủ thông qua điều chỉnh chính sách thuế. Khi Chính Phủ trì hoãn thuế bằng cách phát
hành nợ hôm nay và tăng thuế trong tương lai, thế hê tương lai sẽ gánh chịu một phần
sự gia tăng thuế trong tương lai này. Thế hê hiên tại nhận thức rằng viêc cắt giảm thuế
hôm nay có giá trị hơn hiên giá của tất cả các khoản thuế trong tương lai, nói cách
khác giảm thuế hôm nay dẫn đến sự giàu có ròng và do đó tăng tiêu dùng bằng cách
giảm tài sản sản xuất (nhà xưởng, máy móc, thiết bị…). Vì vậy, bằng cách tăng mức
nợ hiên tại và chuyển sự giàu có qua các thế hê, Chính Phủ làm giảm sự tích lũy vốn
và kết quả là khiến lãi suất tăng. Tuy nhiên, Noriaki Kinoshita (2006) tiến hành hồi
quy và nhận thấy ảnh hưởng đến lãi suất của viêc tăng chi tiêu Chính Phủ sẽ lớn hơn


gấp nhiều lần so với ảnh hưởng
của nợ công. Vậy, chỉ khi nợ công tăng để bù chi thì ảnh hưởng lên lãi suất mới đáng
kể.
Nhìn chung, nhiều bài nghiên cứu thực nghiêm về tác động này kết luận rằng ảnh
hưởng của nợ công lên lãi suất là cùng chiều, tức là khi nợ tăng thì lãi suất sẽ tăng
nhưng mối quan hê này không có ý nghĩa thống kê cao, hay nói cách khác là không rõ
ràng. Robert Ford và Douglas Laxton (1999) cho rằng lãi suất trong nước chịu ảnh
hưởng từ nợ công thế giới hơn là nợ công của quốc gia trong bối cảnh sự tự do hóa
tài chính làm cho các thị trường vốn được hợp nhất và hiêu ứng lan truyền tác động
của cú sốc nợ qua các quốc gia (xem Public Debt and long – term interest rates. The
case of Germany, Italy and USA của Paolo Paesani, Rolf Strauch và Manfred Kremer
7/2006).
Để lý giải cho mối quan hê cùng chiều nhưng không rõ ràng này của nợ công đối

nhập, tạo công ăn viêc làm, công bằng xã hội bằng cách giảm bất cân xứng trong
thu nhập và của cải giữa các tầng lớp và giữa thế hê hiên tại với thế hê tương lai, đảm
bảo hiêu quả tối ưu trong phân chia sử dụng nguồn tài nguyên.
Chính sách thuế thực sự quan trọng và là vấn đề “nhạy cảm” trong nền kinh tế bởi
nó liên quan đến thu nhập khả dụng của tất cả những cá nhân và tập thể gánh chịu
thuế trong xã hội, do đó, có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua viêc không
khuyến khích đầu tư và kinh doanh hoặc bóp méo các quyết định đầu tư do thuế làm
cho một số dạng đầu tư có thêm lợi nhuận hơn những loại khác hoặc thuế làm giảm
mọi nỗ lực làm viêc của người lao động nếu vượt ngưỡng chịu đựng của họ.
Dưới các quan niêm hữu ích đó, một thuế suất tối ưu thật là cần thiết cho quyết
định tài trợ ngân sách và vì mục đích này Chính Phủ nên sử dụng nợ và công cụ
thuế đồng thời với nhau. Ví dụ, để đáp lại một sự gia tăng không mong muốn trong
chi tiêu Chính Phủ hoặc sự sụt giảm trong sản lượng, Chính Phủ nên phân tích rằng
bao nhiêu phần của sự gia tăng đó đang trở thành khoảng cố định trong chi tiêu.
Khoảng cố định này cần được tài trợ bằng cách áp đặt các loại thuế khác nhau và
phần tạm thời cần được tài trợ bởi phát hành trái phiếu. Tuy nhiên, tài trợ trái phiếu
hay vay mượn nợ nước ngoài cần phải được nghiên cứu và phân tích kỹ những rủi


ro gặp phải cần phải và cần phải dừng lại vào một ngày trong tương lai.
V.

Kết luận
Như vậy trên đây nhóm đã sưu tầm những thông tin tóm lượt về lí thuyết mối quan

hê giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, có rất nhiều quan điểm được ra từ các tác giả
khác nhau. Viêc khẳng định quan điểm nào đúng, quan điểm nào sai là hoàn toàn
không có cơ sở để bác bỏ. Mà chỉ có thể khẳng định rằng các quan điểm trên luôn luôn
song hành cùng với nhau, viêc áp dụng quan điểm nào là tùy thuộc vào điều kiên, thể
chế chính trị, bối cảnh kinh tế của từng quốc gia.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status